Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2021

Phan Quốc Sơn: Thần Thoại Bách Việt

Bô Lão, người giữ thần thoại Việt


Cho đến trước thời đại biến động trên đất nước ta cách đây hơn nửa thế kỷ, hình ảnh êm đềm trong gia đình của làng xóm Việt Nam vẫn là: Sau bữa cơm chiều của một ngày đồng áng nương rẫy, con cháu quây quần chung quanh ông bà để nghe kể chuyện đời xưa. Đây không những tập tục quen thuộc trong cuộc sống tổ tiên ta mà còn của tất cả những tộc người trên giải đất Bách Việt. Câu tục ngữ “Ăn cơm mới, nói chuyện cũ” không phải riêng của chúng ta mà còn phổ biến cùng khắp các dân tộc anh em, người Hán về sau dịch ra thành câu: “Khất tân cốc, thuyết cựu thoại.” Cuốn sách đầu tiên Trung Quốc chép về dân tộc phương nam là Hoa Dương Quốc Chí của Thường Cừ vào thế kỷ thứ 4, viết: “Theo tục Nam Man, người mà có tài thuyết phục hơn người được gọi là Lão. Đó là người được quyền chủ trì các buổi họp bàn bạc, trong đó họ thường kể chuyện ngụ ngôn, gọi là cổ tích di.

“Cổ tích di” chính là kho tàng thần thoại Bách Việt mà tác giả là các bô lão, họ cũng là người lưu giữ kho tàng Văn Hóa Dân Tộc này để ký thác lại cho con cháu đời sau qua nghệ thuật truyền khẩu.

Thần thoại của bô lão không hẳn là cổ tích thần tiên để “mua vui,” vì mỗi câu chuyện trong đó chứa đựng một ẩn đề của người xưa. Những sự biến trong thời chưa có sử chỉ có thể sống còn trong tâm thức và hoài niệm chúng ta qua dạng thần thoại. “Thần thoại là sự nói lên bằng ngôn ngữ của thần bí: diễn tả những điều có thực không thấy được bằng phương tiện của những điều thấy được”(J. Schniewind 1953: 47). Định nghĩa này rất gần gũi với quan điểm của giới khảo cổ học rằng huyền thoại là thần tích (sacred tale).

Đối với con người thời ban sơ, vạn vật trần gian đều mang mầu sắc huyền bí. Con người bỡ ngỡ trước các hiện tượng thiên nhiên. Sấm chớp, giông bão, lụt lội, những cơn thịnh nộ thiên tai làm con người kính sợ. Họ dùng trí tưởng tượng mà nhân cách hóa hoặc thần thánh hóa thiên nhiên, “tạo ra thần thánh qua hình ảnh của chính mình” để tự lý giải với mình. Họ dựa vào cái biết trong cuộc sống để sáng tạo nên thế giới không thể biết của thần linh. Đang khi thế giới ấy hình thành thì biết bao truyện linh dị hoang đường được thêu dệt. Thần thoại ra đời như thế.

Tại địa bàn các tộc Việt cổ, một số lượng lớn truyện thần thoại còn được truyền đến các thế hệ con cháu ngày nay qua thuật truyền khẩu và có lịch sử rất xa xưa. Đa số là những truyền tích về thời nguyên thỉ, thuở sáng lập Trời và Đất, khai sinh nhân loại, nguồn gốc muôn loài hoặc gốc gác mỗi giống dân, đều được kể rất sống động bằng ngôn ngữ thần thoại.

Tổ tiên người Việt cổ sáng tác đủ loại thần tích quanh nguồn gốc huyền bí của vũ trụ, sự phân hai Trời và Đất. Huyền thuyết “Tổ phụ loài người” của người Nạp Tây kể rằng: Ngày xưa Trời và Đất chia đôi, vũ trụ là chất hơi mầu xanh. Một hôm nọ, bỗng lóe lên một ánh sáng rực rỡ và một âm thanh êm dịu. Âm thanh bèn biến thành một vị thần mang một quả trứng trắng. Trứng nở ra một con gà trắng. Con gà trắng này có mang theo chín vị thần tạo lập ra trời. Thế gian được tạo dựng như thế. Thần thoại dân Nạp Tây gợi cho ta liên tưởng đến một giấc chiêm bao huyễn ảo.

Thần thoại khác của người A Xương thuật rằng thuở ban đầu, vũ trụ ở trong tình trạng hỗn loạn, không bóng tối không ánh sáng; không trên không dưới, không điểm tựa để nâng; không sức đẩy, không cương vực, vô giới hạn. Mãi đến thời về sau từ cõi hỗn độn một tia sáng phát ra, bấy giờ bèn có sáng tối, mặt trời mặt trăng mới xuất hiện. Ánh sáng và bóng tối sinh ra ông Già Bà Mạ và vợ ông là bà Già Bà Mị, cùng một đám gồm 30 thiên tướng và 30 thiên binh. Từ đó, thiên đế là ông Già Bà Mạ và thiên địa là bà Già Bà Mị sinh đẻ ra thế gian. Trong lịch sử nhân loại, những thần thoại tương tự như trên phơi bày lòng tin nguồn gốc tạo dựng vũ trụ của người thái cổ. Trời đất có thể nhỏ bé nhưng óc tưởng tượng con người đã nghĩ ra chúng quả là vô giới hạn.

Những sắc dân Bách Việt khác còn có vô số các thần thoại về nguồn gốc loài người. Thần thoại của các Việt tộc như Thái, Mèo (Mông), Đô Long kể rằng Thiên Đế đã lấy đất nặn thành loài người. Dân tộc Ngõa kể rằng con người sinh ra từ hạt bầu trong trái bầu. Thần thoại người Đức Ngang kể rằng Thiên Đế đã thổi một trận cuồng phong, rải tung ra 120 cái lá. Lá đực và lá cái tìm đến nhau để sinh sản thành các tộc người.

Cho dù tường thuật các sự tích khác nhau về nguồn gốc loài người, nhưng độc đáo ở chỗ những thần thoại này đều mang chung một số các “mẫu thức” (motif): Cơn đại hồng thủy; hôn nhân “loạn luân” giữa hai anh em trai-gái ruột với nhau là hai kẻ sống sót duy nhất sau trận hồng thủy; và con người dùng nỏ bắn rơi mặt trời, mặt trăng. Ý của ông trời luôn luôn chấp nhận cuộc hôn nhân này vì mục đích sinh sản ra nhân loại. Các thần thoại nguồn gốc nhân loại có lẽ là chứng tích của ký ức mờ nhạt về tổ tiên chúng ta thời viễn cổ, chấp nhận hôn nhân cùng huyết thống trong các tập đoàn người ít ỏi ở khắp nơi, vì lý do sinh tồn. Vấn đề nội hôn và ngoại hôn, ý thức “cấm kỵ”(taboo) của luân lý sơ thời trong các xã hội cổ cũng như nguồn gốc nhân loại truyền gửi trong các huyền thoại đầy lôi cuốn ấy là nguồn nghiên cứu phong phú cho ngành dân tộc học.

Trong quá trình dài con người chế ngự thiên nhiên, những chuyện về cầy cấy, gieo trồng, chăn nuôi còn là những đề tài chính. Người thời cổ không thể biết được nguồn gốc lúa mạ, gia súc; cho nên qua tâm trí tưởng tượng, họ cho đấy là quà là lộc của trời cho. Rồi đến thời sau đó, con người mới biết tới lễ nghi cúng tế cho trời đất, hoặc cúng lễ thú vật để cầu khấn mỗi vụ mùa.

Nhưng nếu trời không nhận lễ tế, cứ gây thiên tai thiệt hại mùa màng thì sao? Tộc người Bố Lãng (tên gọi có thể do chữ Hán phiên âm từ tiếng Bố Làng) lưu truyền một sự tích về nông nghiệp như gián tiếp đưa ra lời giải: Ngày nọ, thần Bà Á Thiên không ban cho dân Bố Lãng hạt giống với gia súc nữa thì nhà vua Ngài Lạc Bố Oa sai loài kiến trắng đục thủng thành trì của thần Bà Á Thiên, thần thua trận nên kiến trắng tha về lại ngũ cốc, gia cầm và lục súc cho dân. Đàn bà vốn khôn ngoan và cẩn thận nên được giao việc nuôi gà, đàn ông thì chăn trâu bò. Đàn ông vốn dại dột và lơ đễnh nên ngày nọ trâu bò trốn mất vào rừng. Thế là từ đó về sau đàn ông phải lãnh việc mang tên nỏ vào rừng săn thú.

Ý nghĩa cổ tích này cho ta biết dù con người trong xã hội nông nghiệp cần được thần ban cho hạt giống và gia súc, nhưng con người cũng có thể hoạch định mưu kế để địch lại thần nếu không được thần ban cho. Ở đây ta thấy con người đã đủ tự tin, muốn làm chủ số phận mình trong cuộc tranh đấu giữa Con Người và Thiên Nhiên. Và thần thánh tức là phóng ảnh của thiên nhiên. Truyện “Ngài Lạc Bố Oa” cho thấy thời phát triển xã hội nông nghiệp của người Bố Lãng. Tại địa bàn đất đai sinh sống lâu đời của người Bách Việt cổ còn rất nhiều chuyện như thế đề cập tới cuộc tranh đấu giữa thần và người. Một huyền tích khác của người Lạp Hỗ đại ý tả ý chí phấn đấu để lật đổ ách thống trị của thần thiên nhiên sau thời đại họ đã tiến sang xã hội nông nghiệp.

Tổ của các tộc Bách Việt: Hạt trong trái bầu hay Chó Bàn Hồ?


Giống như người cổ ở các nơi khác, nhìn quanh những loài không phải là giống người, thì thú vật là loài gần gũi nhất với người Bách Việt. Khi Con Người Văn Hóa chớm xuất hiện, thú vật là đề tài mỹ thuật được tập tành vẽ trên đá, nặn tượng, làm đồ gốm v.v... Rồi thú vật đi vào tâm thức con người: thành những ký hiệu diễn đạt ý niệm siêu hình, tức là biểu tượng đóng vai trò chính qua dạng thức huyền thoại. Trong tự ngữ Hán, người xưa đào được xương khủng long (dinosaur) không biết đây là loài thú gì, vì đã không thấy hiện diện trên mặt đất nữa, nên dùng chữ “tượng” để ví von mà tưởng tượng ra cái không thấy bằng mắt của họ.

Lần đối mặt đầu tiên, dã thú là con mồi của người, hung dữ hơn người, và là thù địch. Phản ứng từ tâm lý mâu thuẫn hơn thua giữa người và thú: đối tượng của chinh phục và sợ hãi, người cổ biểu tượng hóa mối quan hệ giữa người và thú. Vừa thù trở thành thân: có quan hệ huyết thống, người giao phối với rắn, chó, vượn, thuồng luồng v.v...

Khi thực dân Âu Châu đi xâm chiếm thuộc địa, thoạt nghe những huyền thoại như trên, cho rằng các dân tộc bán khai thờ tổ của họ là thú vật. Từ đó thuyết Vật Tổ (Totemism) mới xuất hiện và đã có lần rất thời thượng trong học thuật Tây Phương. Thuyết Vật Tổ thực ra không phải là một phát minh mới mẻ của thực dân da trắng. Từ hai ngàn năm trước, đế quốc Hán da vàng khi xâm chiếm Bách Việt phương nam, do động cơ kỳ thị khinh miệt và trang bị bằng ý thức hệ Hán nho, họ đã không thể nào hiểu nổi ẩn dụ trong “cổ tích nam di” không xếp các dân tộc phương nam vào loại người mà liệt vào “nòi giống của chó, vượn, rắn rết, kiến, sâu bọ, quỷ ma...” Người đại biểu của thánh giáo Hán nho phương bắc bị đày đi làm quan cai trị phương nam là Hàn Dũ đã phát biểu “lũ chúng tựa loài hầu, vượn.” Thế nên người Hán Hoa cảm thấy thản nhiên vạch ra chính sách cai trị các giống dân phương nam, và các giống dân không phải Hán ở các phương đông tây và bắc, cũng đối xử như thú vật vậy.

Đến giữa thế kỷ 20, chính sách kỳ thị chủng tộc là tàn tích của chủ nghĩa thực dân hấp hối cáo chung, và đồng lúc thuyết Vật Tổ đã bị Levi-Strauss khai tử trong tác phẩm Mythologiques (Huyền Thoại Luận). Đáng tiếc thay, nhiều học giả Trung Quốc và Việt Nam (trong cũng như ngoài nước) vẫn quyến luyến lanh quanh với hồn ma thuyết Vật Tổ ấy nhan nhản hiện ra trong các khảo cứu về nguồn gốc dân tộc.

Động vật (hay thực vật) đã được sử dụng làm biểu tượng hay ẩn dụ cho luật cấm (taboo) trong quan niệm đạo đức sơ thời của nhân loại. Người nam và người nữ đầu tiên của cùng một gia đình nhân loại không được lấy nhau, vì như thế sẽ phạm tội loạn luân (incest). Và nếu đầu tiên nhân loại chỉ có một người thì sao? Thì “tức là người ấy phải giao phối với một thực thể biểu tượng bằng một cái gì đó khác với giống người.” Levi-Strauss gọi đây là một sự “mâu thuẫn thuận lý” (logical contradiction). “Cái gì khác với giống người” này là cái xương sườn của ông Adam sinh ra bà Eva; cái gì khác với bà Âu Cơ trên đất là ông vua rồng tên Lạc dưới nước v.v...

Nếu ta hiểu được cái “mâu thuẫn thuận lý” này thì ta sẽ giở lại những trang cổ thư của người Hán thuật về thần thoại “Chó Bàn Hồ” của người phương nam và đọc trong ánh sáng mới. Truyện tóm tắt như sau:

Thuở bắt đầu có thế gian, một nhà vua nọ hứa sẽ gả cô công chúa cho ai chém được đầu kẻ thù của ông, là viên đô tướng của giặc Tây Di. Trong triều không ai làm nổi, chỉ riêng một con chó của nhà vua là hoàn thành được sứ mạng. Nhà Vua buộc lòng giữ lời hứa gả công chúa cho chó. Chó bèn rước dâu về ở một động núi cao phương nam. Về sau nàng sinh được sáu trai và sáu gái, là chư tổ của dân Nam Man. Đám hậu duệ càng sinh sôi nẩy nở lan tràn khắp miền nam sông Dương Tử cả đến biên vực láng giềng và xuống tận vùng thượng du cực nam (tức Bắc Việt sau này). Sách “Đường Thư” viết như vậy.

Nếu ta thay vai trò “chó” bằng nhân vật “người phương nam” thì ý nghĩa nội dung vẫn y nguyên. Phan Huy Chú khi cải chính về địa vực nước Văn Lang, chép: “Kể ra, Nam Hải, Quế Lâm và một nửa đất Tượng Quận, từ trước khi nhà Tần chưa mở mang đặt quận huyện, dân đều là còn giống Bàn Hồ.” (Phan Huy Chú:25)

Ngày nay tích Bàn Hồ vẫn còn truyền trong tộc người Mông và Dao ở Lĩnh Nam, và người Tráng (Choang) tại Bắc Bộ nước ta. Tục truyền người Dao ở Quảng Đông, giữa mỗi nhà đều lập bàn thờ Bàn Hồ. Người Thổ ở Bắc Bộ ta vẫn còn kỵ húy Bàn Hồ và kiêng ăn thịt chó.

Trong tập “Sưu Thần Ký” có một thần tích khác của người Hán Hoa chép lại về con chó tổ phụ này: Xưa, có một bà cung nữ già thường ốm đau bệnh hoạn. Ngày nọ bà tự cứu chữa bằng cách bắt một con sâu trùng ra từ đầu bà (có lẽ bắt chí trong tóc?). Rồi bà bỏ con sâu ấy vào trong quả bầu, lấy khay (chữ Hán gọi là “hồ”) đậy lại. Con sâu hóa thành con chó, nên có tên là chó “bầu hồ.” Tích bàn hồ hay bầu hồ của Hoa và Bách Việt xoắn xuýt với nhau tự thời rất xa xưa. “Bầu” là trái bầu nậm, thuộc họ bầu, bí, dưa; hình dạng loại trái của thứ giây leo, đầu trên nhỏ, bụng dưới phình to ra vì mang nhiều hạt. Người Bách Việt cổ sánh trái bầu nậm này như người mẹ vĩ đại mang thai. Trong khi đó, tộc người Ky Nặc kể rằng tổ loài người là một trái bầu khổng lồ mọc từ dây bầu lan tràn từ lũng sâu đến đồi cao. Những hạt trong bụng “mẹ” bầu sinh ra đủ mọi tộc người.

Các dị bản như thế lưu truyền trong các chi tộc thuộc hệ Thái, Mông, Tráng kể rằng trái bầu hoặc bí khổng lồ là nơi trú ẩn của cặp anh em trai gái sống sót duy nhất sau cơn đại hồng thủy tàn phá thế gian. Cuộc hôn phối loạn luân do ý Trời, nhờ đó đã tái sinh loài người trên mặt đất (Stibel Merrigi, 1938: 331-37 và Stein, 1942:50). Cũng vậy, ta có thể mường tượng cảnh chiếc tàu vĩ đại lênh đênh trong cơn hồng thủy của ông già Noah trong Cựu Ước. Hạt bầu nở mầm thành con người, từa tựa trứng chim huyền điểu nở ra loài người trong thần thoại Trung Quốc. Huyền thoại của dân Lạc Việt đã gợi hình từ “bầu” ra “bọc” mang một trăm (100) con của mẹ Âu Cơ: Bụng mang dạ chửa, ta còn sử dụng từ ngữ “mang bầu,” có lẽ của dân Bách Việt cổ chăng?

Nhưng bầu còn là một đoạn cong của trời tròn, nên gọi là “bầu trời” (hay vòm trời); cái hồ (là cái đĩa, khay, nắp đậy) là nền đất. “Bầu hồ” là chữ chỉ động đá núi phương nam, tổ ấm của chồng chó vợ công chúa sống nuôi con, lớn lên thành các giống người không đội trời chung với người Hoa Bắc. Bầu hồ có phải là dư ảnh của hang động cư trú của người Hòa Bình, lan tỏa đi thành người Đông Nam Á và Nam Trung Quốc? Hay là “thiên động” của đạo Hoàng Lão phương nam, truyền tụng về một thế giới thần tiên ẩn khuất trong rặng núi thiêng Câu Lậu và La Phù ở Lĩnh Nam?

“Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” chắc không phải lời của Việt kinh mà của Việt mường, hoặc những người Việt cổ láng giềng anh em bị đàn áp khinh miệt. Bên dưới bề nổi của lời van xin tình thương là lời nhắc nhở bà tiên ông rồng ngự trên cao nhớ về nguồn cội xa xăm mẹ bầu, mẹ bí, mẹ bọc đã sanh các con trên giàn đồi cao lũng sâu quê hương.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét