Thứ Năm, 23 tháng 9, 2021

Nguyễn Hữu Phước: Từ Việt Gốc Pháp - Phần 2 (Tiếp theo kỳ trước)

 Bom, bôm, và bơm

Trong các loại tráng miệng sau bữa cơm, chúng ta có thể dùng trái “bôm” (pomme) hay còn gọi là trái táo tây. Gần đây có một loại bôm nổi tiếng của Nhật tên Fuji.  California đã sản xuất tràn ngập loại bôm nầy. 


Tiện đây xin cho nói luôn kẻo quên, trong tiếng Việt có đến ba từ  Việt gốc Pháp có âm đọc gần như nhau: “bôm,” “bơm,”   và “bom.”


Bơm (pomper) là động từ chỉ động tác đem không khí, hay một chất lỏng vào một chỗ nào đó như bơm bánh xe, bơm nước từ giếng lên thùng chứa nước, bơm mỡ bò vào bạt đạn xe. Vật dùng để bơm, gọi là cái bơm, ống bơm hoặc máy bơm (pompe). 


Từ thứ ba là “bom” (bombe)  chỉ một loại vũ khí gây nổ có tác dụng phá hoại và giết chóc. Ném bom, dội bom (bombarder) là động từ chỉ việc dùng phi cơ thả bom xuống từ trên không. 


Từ Việt gốc Pháp trong giao thiệp và ăn mặc


Chào hỏi


Các ông tây bà đầm (madame) khi gặp nhau, chào nhau bằng cách bông rua hoặc bủa sua  (bonjour: bắt tay chào nhau). Khi từ giã nhau thì nói ô rờ voa (au revoir: sẽ gặp lại) hay a-dơ (adieu: vĩnh biệt).  Khi cần thoái thác hay xin lỗi điều chi thì bắt đầu bằng từ bạt đông (pardon: xin lỗi).  Lại nhớ có câu thơ rằng :

           Bạt đông anh chớ pha sê (1)          

           Ắt tăn moa  rắc công tê tú xà  

(1)  (fâcher: giận;   attendre: đợi ;  moi: tôi;   raconter: kể;    tout ca: tức thời; phụ âm c  trong từ ca của tiếng Pháp, còn thiếu cái râu bên dưới).


Lẽ dĩ nhiên không đúng văn phạm Pháp, nhưng nghĩa thì rất rõ ràng và lại đúng vần thơ lục bát, mặc dầu là thơ ba rọi.   Từ mông sừa (monsieur: ông) và  ma đàm (madame: bà) dùng trước tên họ của ông hoặc bà nào đó để tỏ sự kính trọng. Khi những ông bạn quen thân gặp nhau, người nầy gọi người kia là toa (toi: anh hay mầy) và xưng là moa, mỏa (moi: tôi hay tao).  Cho đến ngày nay, những người VN lớn tuổi vẫn còn dùng lối xưng hô nầy. Dân ta dùng từ “bà đầm tôi” để chỉ người vợ của mình. Ngày nay từ “bà xã” thông dụng hơn. 


Ăn mặc


Khi dân Việt dùng kiểu áo tây phương trong việc ăn mặc, một số các cô, bà mặc áo đầm tức loại áo và váy chung nhau.  Đàn ông thì mặc sơ mi (chemise) và quần dài (quần Tây) như chúng ta mặc bây giờ.  Nói đến sơ mi, ông Lãng Nhân (2) có nhắc đến những từ Việt hóa trong những bài thơ mà ông xếp chúng vào loại văn thơ Việt Nam hóa trong bài lục bát sau đây:

 

          Lạnh lùng một mảnh sơ mi         

           Li-ve trằn trọc, lơ li một mình,

           Loăng-tanh ai có thấu tình

           Em-mê đến nỗi thân mình biểng-pan 

(chemise: áo; l’hiver: mùa đông;  le lit: cái giường;  lointain: xa;  aimer: yêu, thương;  bien pâle: xanh mét.)


Nếu các ông mặc áo vết (veste) hay áo  vết tông (veston) bên ngoài áo sơ mi, cùng loại vải, và cùng màu với quần thì chúng ta gọi y phục đó là bộ côm bờ lê hay côm lê (complet: đủ bộ, hay nguyên bộ).  Ngày xưa, khoảng trước 1954, người ta còn gọi cái áo veston là áo bành tô (paletot).  


Các ông bà trong ngành y khoa như bác sĩ, y tá thường mặc áo bờ lu (blouse) khi làm việc.  Đó là chiếc áo mang tính chất nghề nghiệp rất oai.  Nhưng khi dạo chơi, người đàn ông có thể mặc áo u ve (veston ouvert);  trong lúc đó, đàn bà tân thời, cải cách (của thời xa xưa đó) thích mặc áo lơ muya (Lemur: loại áo dài do họa sĩ Cát Tường vẽ kiểu), áo thun Montaigut của đàn ông cũng thuộc loại áo được các ông ưa thích.  


Cả ông, bà khi đi đâu khỏi nhà, đều có mang bóp (porte, porter: mang, đựng).  Bóp cho các bà thì gọi là bóp đầm.  Bóp cho các ông có tên bóp phơi (porte feuille). Trong thập niên 1950 tôi nhớ đám trẻ nhỏ chúng tôi thường hát nhái theo giọng bài ca “Dứt đường tơ” như sau: 

 

           Tóc em dài sao em không uốn? 

           Tốn bao nhiêu anh trả dùm cho,

           Đây bóp phơi anh đầy “bộ lư” 

           (giấy bạc 100 đồng có hình bộ lư) ....

           Nàng ơi uốn đi ...  đừng lo.


Đàn ông mặc côm lê phải mang  cà ra oách, hay cà vạt (cravate: trang sức bằng vải đeo trước ngực) mới đúng cách. Muốn cho thiên hạ biết có tiền, nhứt là khi dẫn bạn gái đi ban (bal: dạ tiệc có khiêu vũ) trong bóp phải đem theo nhiều giấy oảnh (vingt: hai mươi) tức giấy hai mươi đồng; và thêm vào còn có nhiều tờ giấy xăng (cent piastres: giấy $100.00).  


Trong lúc đó các bà các cô phải đeo cà rá (carat)  nạm hột xoàn. Thực ra carat là đơn vị đo lường kim cương.  Nó là sức nặng bằng 1/24 của một  gam (gramme) vàng nguyên chất. Gam là một phần 1000 của một ki lô (kilogramme).  Vàng 18 là một hợp kim gồm có 18 phần vàng và sáu phần kim loại khác.  


Cái cà vạt và cái cà rá sống vượt thời gian.  Ngày nay nó vẫn còn thông dụng cho cả hai phái, chỉ thay đổi màu và phẩm chất tùy theo số lượng “anh hai” (tiếng lóng để chỉ tiền).  

 

Từ Việt gốc Pháp trong giao thông


Ô tô, sớp phơ, gạt đờ co


Trước hết có xe ô tô (automobile) hay “xe hơi”.  Ở nhà lầu, đi xe ô tô là biểu tượng của nhà giàu.   Muốn tỏ ra sang trọng hay có uy quyền, người ta mướn tài xế hay sớp phơ (chauffeur).  Từ nầy thông dụng ở miền Nam hơn miền Bắc.  Sau nầy, kể cả những thập niên cuối của thế kỷ 20 từ tài xế  trở nên thông dụng cho cả VN.  Nhiều ông làm chức vụ cao, hay quan trọng, hoặc các người giàu còn có thêm một tài xế phụ.  Thực sự người nầy là gạt đờ co (garde du corps: cận vệ) ngồi phía trước, cạnh tài xế,  thường đeo kính đen trông rất  oai vệ.  


HK gọi người nầy là “bô đi gạt” (bodyguard).  Ông “bô đi gạt” nổi tiếng là ông cận vệ của tổng thống Ford.  Ông ta gạt (garde)  hay đến nỗi ông ta cưới luôn con gái của tổng thống.  Ông cận vệ nầy trở thành “gạt đờ co” trăm năm của ái nữ tổng thống. Vậy ông  nào có người làm công với chức vụ “gạt đờ co” thì nên... coi chừng con gái mình và coi chừng luôn cả... phu nhân (nói đùa cho vui, bỏ qua đi tám).   


Trở về với xe, ngoài xe nhỏ thường gọi là xe du lịch, còn có xe căm nhông (camion) dùng để chuyên chở hàng hóa. Cam nhông thứ thật to và chở thật nặng có tên là boa lua (poids lourd).  Cam nhông nết (camionette) là xe chở hàng hóa loại nhỏ, giống xe “pick up” của ngày nay.  


VN khi xưa và ngay cả ngày nay, ít khi nhập cảng căm nhông nguyên chiếc.  Họ chỉ mua cái sườn xe thôi.    Đến VN rồi họ đóng mới đóng thùng xe tùy theo nhu cầu: đóng thùng vuông chung quanh để chở hàng, hoặc đóng thùng có cửa, có băng (banc: ghế ngồi)  để làm xe  đò hay làm xe ô tô buýt (autobus) hay xe buýt.  Xe buýt rất thông dụng trong việc chuyên chở công cộng trong đô thành hay các thị xã lớn.  Xe chuyên chở hành khách đi các tỉnh lại gọi là xe đò, trong khi Pháp hay HK lại gọi cả hai loại trên là xe buýt.  Cũng trong lãnh vực chuyên chở, chúng ta còn có xe hay xe  lô ca xông (location).  Đó là những chiếc xe du lịch được dùng làm xe cho mướn hay xe chuyên chở hành khách.

        

Xe đò: Ăn banh, lơ


Trên mỗi chuyến xe đò, ngoài người sớp phơ ra còn có một hay hai người phụ tá gọi là anh Những người nầy lo việc sắp xếp chỗ ngồi, kiểm soát giấy đi xe (chữ do nguyên ngữ contrôleur tức kiểm soát viên).  Ở VN, những anh nầy còn phụ trách nhiều việc khác như đưa hành lý lên và xuống xe cho khách, giao thiệp với cảnh sát công lộ khi xe bị chận vì một lý do gì đó, hoặc phụ với tài xế sửa xe khi xe bị ăn banh (en panne) tức là khi xe bị hư.  Nhiều anh lơ rất có tài trong việc sửa xe: từ việc nhỏ như  vặn chặt một vài con bù lon (boulon) đến việc lớn như thay cả cái ăm vô da (embrayage: bộ phận trong hộp số để chuyển những chuyển động của máy xe  sang cái trục làm xe chạy trong hệ thống sang số bằng tay).  


Có người hỏi tại sao họ chịu khó làm việc như vậy (mà không đòi chủ xe trả tiền công)?  Số là  đa số chủ xe chỉ thâu tiền bán vé ở các trạm xe chánh mà thôi.  Còn việc đón khách lên xuống dọc đường và tiền kiếm thêm nầy thì tài xế và lơ chia nhau.  Các chủ xe đều biết chuyện nầy, nhưng vì không thể nào kiểm  soát được, nên thà cho trước cái quyền lợi đó cho tài xế và lơ.  Chủ xe được cái lợi là khỏi lo việc kéo xe về nằm ga ra (garage: chỗ sửa xe) vừa tốn nhiều tiền vừa mất thì giờ (tức mất tiền). Để cho tài xế và lơ tự  sửa xe, chủ chỉ phải bồi hoàn chi phí về bạt (parts: các bộ phận rời).  Xe được sửa mau, cả chủ và người làm công đều có lợi.  Một hợp tác hỗ tương không văn kiện nhưng lại rất hiệu quả trong giới xe đò.


Xăng và lốp xe


Muốn chạy xe phải có  xăng (essence).  Ngày nay, từ nầy còn thông dụng ở mọi nơi.  Xe mà hết xăng thì trở thành... sắt cục. Xưa kia nếu quên đổ xăng, để xe hết xăng dọc đường, không chạy được nữa, thì gọi là ăn banh xéc (panne sèche: hư xe khô, có nghĩa hết xăng). Chỉ còn có những lão già “vang bóng một thời trong việc sử dụng Pháp ngữ” dùng từ nầy.  Từ “ga xăng” sẽ nói đến ở một đoạn sau.  


Từ xăng còn được dùng trong một nghĩa khác.  Khi trẻ con đói bụng, mặt nhăn nhó, người ta nói em bé “thiếu xăng” hay em bé cần đổ xăng thêm.  


Dân Việt có tài chế biến trong việc dùng từ ngữ.  Thí dụ việc dùng từ “quá giang” khi chúng ta đi nhờ xe của một người khác.  Nguyên ngữ “quá giang” có nghĩa “qua sông” bằng cách đi nhờ đò, hay ghe của người khác.  Quá giang cũng dùng đến khi đi nhờ từ  nơi nầy đến nơi khác bằng thuyền. Không hiểu tự bao giờ, từ  “quá giang” được dùng cho việc đi nhờ xe.  Ngày nay thì quá giang chỉ có nghĩa là đi nhờ thôi, thuyền hay xe gì cũng được. Nhưng nếu quá giang thường quá thì nên đóng góp tiền xăng cho vui cả hai bên.


 Quan trọng không kém xăng là lốp xe (enveloppe): vỏ xe, phần bọc bên ngoài cái “ruột xe”;  sau nầy vỏ xe chỉ có vỏ mà không có ruột . HK gọi là tubeless. Khi bánh xe xẹp, phải bôm thêm hơi vào ngang qua cái súp báp (soupape: vật dụng dùng để cho không khí đi vào hoặc đi ra một chiều thôi). Tùy theo công dụng cái súp báp còn có tên là cái van (vanne).  


Ở VN lốp xe cũ được dùng một cách hữu hiệu.  Họ bọc thêm bên ngoài một lớp  cao su (caoutchouc) gọi là vỏ xe tân trang để dùng thêm một thời gian nữa.  Đôi khi xe đang chạy, phần đắp thêm bị văn ra.  Đó là xe bị  lột lốp hay bị bung ta lông  (talon: đế giày, hoặc phần ngoài vỏ xe).  Ngoài ra lốp xe cũ còn dùng để chế tạo dép. Loại dép nầy rất thông dụng ở miền Bắc. Nhưng ở miền Nam chúng mang một hình ảnh hơi đen tối sau năm 75:


              Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ,

              Mũ tai bèo che lấp ánh tương lai.”    

                   (không rõ tác giả)


Cây cao su và anh sớp phơ nói tiếng Tây


Từ cao su đã được Việt hóa trọn vẹn.  Cây cao su là một loại cây cho nhựa.  Nhựa nầy được biến chế thành nhiều vật dụng mà quan trọng nhất là vỏ xe. Cây cao su là một loại cây kỹ nghệ.  Các chủ đồn điên thời tây là những nhà giàu có nhiều quyền thế và ảnh hưởng trong việc cai trị.  Những ngôi nhà do họ xây cất để ở là những dinh thự to lớn, còn tồn tại ở rải rác nhiều nơi.  Số lớn các ngôi nhà nầy nằm trong vùng đồn điền hẻo lánh.  Chủ nhân người Pháp của thời đó đều mang súng và có nhiều cận vệ.  


 Câu chuyện rằng có một sớp phơ VN làm việc cho chủ đồn điền Pháp. Anh sớp phơ chỉ nói được lõm bõm một số từ Pháp thôi.  Vậy mà trong lúc nguy cơ và sợ hãi, đã dùng Pháp Việt ba rọi (lẫn lộn) diễn tả cho chủ hiểu được ý mình, để chủ đối phó với tình trạng nguy cấp, là câu chuyện mà tôi được nghe kể lại như một giai thoại vui, có thực hay là chuyện đùa để cười chơi, nào ai biết được.  Câu chuyện như sau:


Có một hôm, anh sớp phơ đang lau xe ngoài sân, trước dinh thự giữa một đồn điền cao su rộng lớn.  Anh thấy một con cọp xuất hiện ở bìa rừng, ngoài rào của tòa nhà.  Anh ta sợ điếng người, chạy một mạch vào trong nhà, đóng cửa cái lại và chạy nhanh về phía ông chủ người Pháp.  Anh vừa báo cáo bằng miệng vừa ra dấu bằng tay:


 “Mông sừa, mông sừa: lủy côm bốp, mè ba bốp; lủy tí tí noa, lủy tí tí dôn, lủy măn rê vu, lủy măn rê mỏa;  lủy bạt lê cà ùm, cà ùm.  Mông sưà lấy mút cà tông, mông sừa tia rê cắc bùm cắc bùm thì lủy mủ ria.”  


Ông chủ nghe vậy hiểu ngay câu chuyện, xách súng trường ra cửa và bắn chết con cọp.  Câu trên là câu ba rọi Pháp Việt (lẽ dĩ nhiên là sai văn phạm Pháp) như sau:


“Monsieur, monsieur: lui comme boeuf, mais pas boeuf; lui  petit noir, lui petit jaune; lui manger vous, lui manger moi; lui parler cà ùm cà um.  Monsieur lấy mousqueton, monsieur tirer cắc bùm cắc bùm thì lui mourir.”  Xin tạm dịch: Ông ơi, ông ơi: nó giống con bò, nhưng không phải bò; nó có chút đen,  nó có chút vàng;  nó ăn thịt ông, nó ăn thịt tôi;  nó kêu cà ùm cà ùm.  Ông lấy (súng) mút ca tông, ông bắn cắc bùm cắc bùm thì nó chết.


Trở về với cao su.  Sản phẩm khác của cao su là dây thun được dùng nhiều trong kỹ nghệ  y khoa và quần áo. Vì tính chất thun giãn của nó, dân ta dùng từ  giờ cao su để chỉ sự kiện hay trễ nãi hay không đúng giờ của dân ta.  Giờ cao su trong các bữa tiệc cưới đã trở thành một nét đặc thù của dân Việt.  (Tôi có nghe câu nói đùa: “không ăn đậu không phải là Mễ, không đi trễ không phải là Việt Nam.”)


Xe máy (xe đạp) với dây sên và ru líp


Trong chiếc xe đạp hay xe máy, rất nhiều tên các bộ phận được Việt hóa như dây sên (chaine), dây nầy chạy vòng quanh một bánh xe có răng như răng cưa, gọi là cái ru líp (roue libre: bánh xe tự do).  


Trong cái ru líp lại có một bộ phận nhỏ có công dụng độc đáo là khi chúng ta đạp xe tới thì bộ phận đó kéo bánh xe đi tới.  Nhưng khi chúng ta quay lui cái bàn đạp thì chỉ nghe re re mà không có ảnh hưởng gì đến việc kéo xe.   Bộ phận đó có ba tên khác nhau, tùy theo vùng .  Trong Nam, nó tên là “con chó”;  ở miền Trung nó được gọi là “con heo”; và ở miền Bắc nó mang danh là “con cóc”. Ai biết sửa chữa cái ru líp, đều biết cái bộ phận nhỏ quan trọng đó.  Còn tại sao nó có ba tên thì đành chịu thua.


Xe đạp dùng trong việc chạy đua thường có cái ghi đông (guidon: tay cầm) cong sụp xuống.  Xe đạp loại đua nầy còn có tên là xe cuộc (course: chạy đua) .  Ngày xưa, những tua (tour: vòng) đua xe đạp vòng quanh Đông Dương, hay tua Bến Hải - Cà Mau là những cuộc đua nổi tiếng.  Ngày nay tua vòng quanh nước Pháp (Tour de France) vẫn rất là hấp dẫn cho giới hâm mộ đua xe đạp.  Ngoài ra dân ta thường hay nói “đi dạo một tua cho khỏe.”

Các hãng du lịch thường hay tổ chức những “tua du lịch” mà chi phí gồm cả tiền vé phi cơ, tiền khách sạn, tiền ăn v.v. và có cả hướng dẫn viên đi chung rất tiện cho khách du lịch.  Cả Anh, Pháp đều dùng chữ tour nên từ “tua” của VN rất là thông dụng.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét