Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2021

Việt Dương: Trên Đường Tự Học Chữ Nho Của Hai Nho Sinh Đào Mộng Nam và Phạm Xuân Hy - Phần 1

Người viết có hai người bạn thân, chơi với nhau từ thời còn học ở mấy lớp trung học đệ nhất cấp là Đào Mộng Nam và Phạm Xuân Hy. Ba chúng tôi đều mê đọc sách. Riêng hai bạn Xuân Hy và Mộng Nam có ước vọng là học chữ Hán để nghiên cứu văn chương, văn hóa Tầu. Tôi không quan tâm về việc học chữ Hán, nên thấy ước vọng của Hy và Nam chỉ là ý thích của tuổi mới lớn, khó giữ được giữa đời sống có quá nhiều việc phải làm để có thể tiếp tục việc học ở trường.

Nhưng chỉ 7 năm sau, chứng kiến sự thành tựu với 3 tập sách Chữ Nho Tự Học của Đào Mộng Nam (57-64) và sự thành tựu của Phạm Xuân Hy với những sách dịch truyện Liêu Trai, những bài nghiên cứu về văn chương, lịch sử Trung Hoa vào thập niên 1990, tôi thấy mình đã nhận định nông nổi về ước vọng của hai người bạn. Từ hai sự thành tựu lớn này, tôi nghĩ việc tự học chữ Nho của Mộng Nam và Xuân Hy đã trở thành những tấm gương đẹp. Vì thế tôi muốn ghi lại ít điều về hai tấm gương ấy.

I. Phạm Xuân Hy


Phạm Xuân Hy sinh năm 1939, di cư vào Nam với mẹ, nhưng sống ở Trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ, cạnh Trường Đua Phú Thọ, Sài Gòn. Khi biết trại có quyết định đóng cửa vào năm 1958, Hy đã tình nguyện đi sớm theo sự khuyến khích của trại để được trại phát cho 700 đồng. Xuân Hy đã dùng số tiền này để mua chiếc xe đạp, làm phương tiện đi học và đi bán báo. Hy đến ở nhờ nhà Phạm Quang Chiểu bạn học của tôi, ở Cống Bà Xếp, gần chợ Hòa Hưng đường Lê Văn Duyệt. Gặp Xuân Hy ở nhà Chiểu, thấy nhà chật chội, nên tôi bảo Hy về ở nhà tôi ở ấp Cả Trắc, gần ngã ba Ông Tạ. Năm 1957, khu này là miền quê, dân cư thưa thớt, sống với nghề trồng mấy loại hoa cúc, huệ, mào gà... và trồng mấy loại rau như cải, sà lách, hành tỏi... Xuân Hy về ở nhà tôi có thể gọi là an cư, ngày đi học, đêm đi bán báo Tự Do, Ngôn Luận tới 10 giờ.

Hy đến ở nhà tôi đã đem đến cho tôi mấy nguồn vui:

- Thứ nhất, Hy đã dẫn tôi vào nghề bán báo buổi tối. Mỗi chiều khoảng 6 giờ, chúng tôi tới lấy báo Tự Do ở đường Võ Tánh, ngã sáu Sài Gòn, và Ngôn Luận ở đường Lê Lai, khi báo mới in ra. Hy đi bỏ mối báo, vì đã có được mấy chục gia đình mua báo tháng. Còn tôi mới vào nghề nên phải đi bán rao ở Phú Nhuận. Tôi phải đi xa như thế vì mấy khu dọc đường Lê Văn Duyệt đã thuộc về một số bạn vào nghề trước. Mỗi tối tôi bán được 40 số báo dễ dàng. Vào hẻm nào trên đường Chi Lăng, Nguyễn Huệ, Võ Tánh cũng phải quay xe lại với tiếng gọi: Báo. Đi bán rao hơn 4 tháng, tôi có trên 40 chục gia đình mua báo tháng. Thế là tôi thôi bán rao, chuyển sang bỏ mối như Xuân Hy. Đêm nào cũng hơn 10 giờ mới về đến nhà, nhưng tôi vui vì đã kiếm được tiền để tự lo lấy quần áo, sách vở.

- Thứ nhì, Xuân Hy đến, tôi có bạn đồng hành đọc truyện Tàu để thảo luận những tình tiết và nhân vật trong những truyện đó. Những đêm mưa, chỉ có tiếng i..om của ếch, nhái, ễnh ương, chúng tôi mỗi người một đèn dầu, đọc truyện Liêu Trai Chí Dị, Tam Quốc Chí, Thất Kiếm Thập Tam Hiệp... Khung cảnh đêm hoang vu với những tiếng ộp oạp của ễnh ương đã đưa chúng tôi vào thế giới ma quái của Liêu Trai Chí Dị. Trong khi trò chuyện về truyện Tàu, Hy nói với tôi là anh sẽ tự học chữ Hán để có thể đọc Liêu Trai, Tam Quốc, Thủy Hử... từ nguyên tác chữ Hán. Theo Hy những trang chữ Hán có sức thu hút đặc biệt, và bảo là học giả Nguyễn Hiến Lê, Tây học mà tự học chữ Hán để có thể nghiên cứu văn chương Tàu. Hy đưa tôi coi 3 cuốn Đại Cương Văn Học Sử Trung Hoa của Nguyễn Hiến Lê và cuốn Học Chữ Hán Bằng Thơ Đường của Trần Trọng San mới mua. Hy nói: Vừa đọc vừa học. Chưa biết sao, nhưng đọc thơ qua chữ Hán thấy thú hơn. Từ đó, tôi cũng làm quen với thơ Đường qua cuốn thơ Đường của Trần Trọng San.

Xuân Hy ở nhà tôi trên một năm, rồi cùng mấy người bạn khác thuê nhà bên trại Tân Chí Linh. Đường vào Tân Chí Linh đối diện với ngõ vào ấp Cả Trắc, qua đường Thoại Ngọc Hầu. Năm 1960, Hy học năm cuối ở trường Chu Văn An, và năm sau thành công chức của Nha Trước Bạ, Sài Gòn. Đầu thập niên 1960 gia đình tôi chuyển lên Đà Lạt... Tôi vào trường Bộ Binh Thủ Đức, rồi ra chiến trường ở Thừa Thiên, Quảng Trị, nên từ đó không gặp Xuân Hy nữa.

**

Năm 1982 tôi ra tù cải tạo, vượt biên tới Galang năm 1986 và được vào Mỹ định cư năm 1987. Qua bài giới thiệu tập sách “Việt Nam Đỏ Sau Chiến Tranh” tôi viết khi ở trại Bataan, Phi Luật Tân, trên tờ Lửa Việt của Hải Triều, Xuân Hy liên lạc được với tôi vào cuối năm 1987. Sau đó, Hy gửi cho tôi “Truyện Kinh Kha” do Phạm Xuân Hy dịch từ Sử Ký Tư Mã Thiên, và cho biết đang dịch Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh và một số truyện Liêu Trai của những tác giả khác. Đọc bản dịch truyện Kinh Kha với những điều Hy cho biết, tôi nhớ lại lời Hy nói thời ở ấp Cả Trắc năm 1957-58 và mỉm cười trước ước vọng đã thành tựu của Hy.

Tôi viết thư hỏi Xuân Hy: Tiên sinh học chữ Hán từ năm nào. Cách học ra sao, tìm ra cách học mới hay vẫn học theo nếp cũ. Học trong thời gian bao lâu thì tiên sinh có thể đọc truyện và dịch.

Xuân Hy đã trả lời như sau:

“Tôi bước vào con đường tự học chữ Nho từ năm 1975, trước hết là để thực hiện ước vọng từ lâu và sau đó là để tiêu khiển trước sự đổi thay đột ngột kinh hoàng của đất nước. Học để quên đi những tháng ngày khó khăn đen tối, lo âu cho một tương lai mờ mịt. Mới đầu tôi mua cuốn tự điển Hán Việt của Thiều Chửu, bắt đầu gạch từng nét, đếm từng chữ. Khi đã có một số chữ làm vốn, tôi vào Chợ Lớn, trước cửa sân Tinh Võ, trên đường Nguyễn Trãi, mua những quyển truyện bằng tranh, lớn bằng bàn tay mà tôi mê thích khi còn nhỏ, như Tiểu Lý Quảng, Thuyết Đường, Song Trùy Hà Nguyên Khánh, Chinh Đông Chinh Tây...hình vẽ rất đẹp với những hàng chữ ngắn gọn để đọc. Tôi dùng tự điển Thiều Chửu để tra từng chữ cho hiểu cốt truyện và để học.

Với vốn chữ đã khá và quen văn Tàu, không biết bao lâu, nay nghĩ lại, có thể trên một năm, tôi bước sang đọc tiểu thuyết võ hiệp như Bạch Phát Ma Nữ của tác giả nổi tiếng thời ấy là Lương Vũ Sinh, viết theo lối bạch thoại, từng là bậc thầy của Kim Dung. Rồi tiến xa hơn, tôi bước sang đọc cổ văn, tức văn ngôn và tập dịch Liêu Trai Chí Dị mà thời ở ấp Cả Trắc (1957-58) tôi đã nói là sẽ có ngày đọc từ nguyên tác chữ Hán. Văn trong Liêu Trai viết theo lối văn ngôn, thường chứa nhiều điển cố, thành ngữ, cú pháp rất khúc mắc, thâm thúy khó hiểu. Có khi đọc được mặt chữ, nhưng không hiểu nghĩa của câu.

Xuân Hy cho biết Hy và gia đình vượt biên năm 1979, đến đảo Pulau Tanga, thuộc Mã Lai. Ở trên đảo được 6 tháng thì được phái đoàn Pháp nhận cho định cư. Hy viết thư về Việt Nam nhờ chú em vợ mua cho cuốn từ điển Thiều Chửu học tiếp và từ đây đi vào dịch truyện theo lời khuyên của cụ Nguyễn Hiến Lê là viết và dịch cũng là một phương pháp học một ngoại ngữ nhanh nhất.

Đến đầu thập niên 2000, tôi nhận được email của Hy, cũng chuyện về tự học chữ Nho, Hy cho biết có hai người bạn hỏi Hy về việc học chữ Hán. Một người hỏi rằng Hy học tiếng Tàu hồi nào mà dịch thuật nghe có vẻ xuôi tai. Người khác nói là mình mới mua mấy chục tờ báo cũ để tìm đọc những truyện Liêu Trai Chí Dị, thấy cậu dịch Bồ Tùng Linh cũng khá - cậu dịch hay là cop của ai đấy? Sự thắc mắc của hai người bạn, vừa có ý thán phục, nhưng thoảng mây mù có đôi chút nghi ngờ. Riêng tôi rất cảm động và yên lòng với câu nói “Cậu dịch Bồ Tùng Linh cũng Khá”, cũng như câu “Nghe có vẻ xuôi tai”. Nghe có vẻ xuôi tai là vì tôi đã trút tất cả tâm tư và tình cảm vào cốt truyện và tôi đã sống với nhân vật của mình khi tôi dịch loại truyện chí quái lãng mạn này. Đôi khi gặp những câu cú khó khăn, nhiều điển tích, thành ngữ hiểm hóc, không có đồng nghĩa của tiếng Việt, tôi chỉ dịch ý mà không dịch chữ để cho bớt lủng củng. Việc này đòi hỏi nhiều công sức và thì giờ tra cứu. Chẳng thế mà cụ Nguyễn Hiến Lê đã phải nói: “Dịch là một việc làm bạc bẽo, vì công việc khó khăn mà ít người thưởng thức. Riêng ở nước ta, nó lại càng bạc bẽo, vì hiếm người chịu đọc sách dịch”.

Việc dịch chữ Nho khó thật, nhưng tôi làm công việc này một phần là để tự học và một phần vì đam mê loại truyện truyền kỳ chí quái. Sau khi đã có một số dịch phẩm về loại truyện chí quái, và đã có được một số độc giả về loại truyện này, tôi cho xuất bản vài dịch phẩm với những chú thích riêng của mình”.

Từ chữ Nho, Xuân Hy đi sang chữ Nôm và anh đã cho biết việc nghiên cứu chữ Nôm như sau:

“Những năm còn đi làm ở Pháp, khi chưa nghỉ hưu, tôi bước sang lãnh vực chữ Nôm. Đó là thứ chữ được tổ tiên ta sáng tạo, dùng để biểu thị tiếng nói của dân tộc mình - chữ Nôm được cấu tạo dựa vào chữ Nho, tức là chữ Hán đã được Việt hóa, khi người Việt đọc lên, người Tàu nghe không hiểu gì cả. Còn chữ Nôm thì người Tàu không đọc được. Tôi đã để thì giờ chăm chú nghiên cứu và phiên âm một vài truyện Nôm, mong bảo tồn được đôi chút những từ ngữ Việt cổ. Nhưng sức người có hạn, tôi không đi được tới cùng của môn học này sau mấy dịch phẩm.

Ngoài những bản dịch đã xuất bản gồm Liêu Trai Chí Dị, Hậu Liêu Trai, Thúy Thúy Truyện và Thiếp Bạc Mệnh, do nhà xuất bản Văn Hóa ở Houston xuất bản và Tây Sương Ký Liên Hoàn Đồ (tự xuất bản), Phạm Quân đã đưa lên nhiều trang mạng cả năm, bảy chục truyện dịch với chú giải riêng và mấy chục bài nghiên cứu về văn hóa, sử và văn học của Trung Hoa. Đặc biệt họ Phạm đã soạn xong 3 bộ: Niên Biểu Trung Quốc từ nhà Tần đến nhà Tấn - Sổ Tay Nhân Vật Trung Quốc và Sổ Tay Chữ Hán (dịch và giải thích những từ ngữ, nhân danh, địa danh, lịch sử, văn học, điển tích đã tra trên các từ điển ở trên mạng và xếp theo mẫu tự ABC).

Trong phần giới thiệu về bản dịch Truyện Kinh Kha của Phạm Xuân Hy, giáo sư Trần Huy Bích đã viết:

“Nhà biên khảo Phạm Xuân Hy ở Paris, người đã dịch Liêu Trai Chí Dị và Hậu Liêu Trai trong khoảng thời gian từ 1988 đến 1997, đã dịch, chú thích rất công phu, rồi tự xuất bản những truyện Trung Hoa rất ít người biết như Phùng Hiệp, Yến Vĩ Nhi, Vĩnh Châu Dã Miếu Ký... đã tìm đọc từ rất nhiều tài liệu khác nhau bằng Hán văn để viết về mối tình kín đáo giữa Tào Thực với chị dâu là Chân Hậu, vợ của Ngụy Văn Đế Tào Phi, đưa tới bài “Lạc Thần Phú” nổi tiếng trong văn học Trung Hoa. Ông cũng từng viết về những nghi án liên quan đến Dương Quý Phi, đến Giả Hoàng Hậu, người chịu trách nhiệm khá lớn về việc làm cho nhà Tây Tấn của Tư Mã Viêm (cháu nội của Tư Mã Ý đời Tam Quốc) bị suy yếu rồi phân hóa sau mới có một đời”. (tranhuybich.blogspot.com).

Người viết xin trích ít lời của nhà thơ Du Tử Lê viết về Phạm Xuân Hy:

“Nhắc tới dịch giả Phạm Xuân Hy, những người đọc sách, nhất là hàng trí giả về lãnh vực chữ Hán, chữ Nôm, hầu như không ai không biết tới tên tuổi của ông.

Họ Phạm không chỉ là tác giả của một số tác phẩm dịch được nhiều người ưa thích như Liêu Trai Chí Dị, Hậu Liêu Trai và Thiếp Bạc Mệnh là 3 tuyển tập chọn lọc do nhà xuất bản Văn Hóa ở Houston, Texas lần lượt ấn hành từ năm 1988 tới 2002, ông còn là tác giả của những công trình dịch thuật lớn như phiên âm bản truyện Nôm “Chiêu Quân Tân Truyện của tác giả Nguyễn Tiến Khang, xuất bản năm 1922, hay phiên âm bản “Phép Dòng Chị Em Mến Câu Rút Đức Chúa Giê Su”, bản khắc năm 1869, phiên âm bản Nôm “Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ” của Pigneau de Béhaine, bản khắc năm 1774. Ông cũng đã hoàn tất phần chuyển ngữ tác phẩm đồ sộ nhan đề “Trung Quốc Lịch Triều Đại Sự Niên Biểu (từ nhà Tần đến hết Tam Quốc).

Một số dịch giả chữ Hán có thẩm quyền ở trong cũng như ở ngoài Việt Nam cho rằng mức độ uyên thâm về chữ Hán để dịch được những tác phẩm văn học cổ Trung Hoa sang tiếng Việt, chúng ta có không ít tài năng. Nhưng một học giả được coi là uyên thâm cả chữ Hán và chữ Nôm thì phải nói là chúng ta có quá ít. Ngày một ít hơn nữa! “Trong số ít này, chúng ta có dịch giả Phạm Xuân Hy, hiện cư ngụ ở Paris”. Một nhà Nho cựu trào ở hải ngoại đã kết luận. (dutule.com)

Kết luận

Từ cuối năm 1987, chúng tôi liên lạc được với nhau ở hải ngoại, người ở Pháp, người ở Mỹ, mỗi lần thư hay điện thoại Xuân Hy đều nhắc đến thời sống với tôi ở ấp Cả Trắc, với tình cảm sâu đậm và nuối tiếc một thời nghèo mà rất đẹp. Chẳng hạn mới đây, khi tôi hỏi Xuân Hy thêm ít điều về chuyện học chữ Nho và tập biên khảo dở dang, sau phần trả lời, họ Phạm không quên nhắc lại thời học trò hàn vi “Ấp Cả Trắc với ngôi nhà nền đất, mái tranh, đêm đêm có ánh trăng lọt xuống giàn hoa mướp vàng, nghe tiếng dế gọi nhau rỉ rả, đẹp như truyện Liêu Trai Chí Dị trong thế giới học trò nghèo của chúng mình nơi cố quận ngày tháng cũ”.

Khi đọc những lời này, tôi chợt nghĩ – Có lẽ khung cảnh nhà tranh vách ván trong ấp Cả Trắc cô tịch, hoang vu với vườn hoa cúc, hoa huệ, với những đêm trường mưa rả rích, với tiếng ộp oạp.. của ếch nhái, ễnh ương, đã in sâu trong tâm trí nho sinh Xuân Hy thế giới Liêu Trai ma quái, nên Xuân Hy đã khởi đầu đi vào dịch Liêu Trai Chí Dị và những truyện ma quái của những tác giả khác. Có lần tôi hỏi sao tiên sinh không dịch những tác phẩm về văn học sử hay lịch sử của Tàu mà lại đi vào thế giới ma quỉ của Liêu Trai Chí Dị, thì họ Phạm trả lời là muốn rong chơi với ma quỉ ở giữa kinh thành đầy ánh sáng của Paris. Thì ra vậy. Mà như thế thì Xuân Hy đã đưa ấp Cả Trắc của những đêm mưa với “Giấc hồ thơm tóc gái liêu trai” (Vũ Hoàng Chương) sang kinh thành Paris. Ở giữa Paris mà vẫn sống với ánh lập lòe của đom đóm trong ấp Cả Trắc, và tiếng thì thầm của Oanh Oanh trong đêm dưới mái hiên như đang ở “Miếu nguyệt vườn sương gặp gỡ nhau” (Vũ Hoàng Chương).

Những hồi tưởng tha thiết của Xuân Hy về ấp Cả Trắc đã dẫn tôi trở về cái làng định cư đầu tiên khi mới di cư vào Sài Gòn. Nơi đây, nhiều buổi tối chúng tôi thường vào quán cà phê vợt, cạnh lối vào ấp, uống một ly cà phê với nhiều đường, rồi mua một ổ bánh mì dài còn nóng dòn ở lò bánh mì Hạnh Phúc, cạnh quán cà phê vợt, xé ổ bánh mì làm đôi, mỗi người một nửa, vừa đi vừa ăn trên đường Thoại Ngọc Hầu. Đó là con đường lớn nối ngã ba Ông Tạ với đường Trương Minh Giảng, Công Lý và Võ Tánh phía đi vào phi trường Tân Sơn Nhất. Đường lớn nhưng gập ghềnh đất đá với nhà thưa thớt, đi qua khu nghĩa trang Bến Tre với cảnh ma quái tối đen cùng ánh đom đóm lập lòe bên những bụi rậm bên đường. Trên đường này Hy đã nhiều lần nói lên ước vọng học chữ Hán để đọc Liêu Trai Chí Dị, Tam Quốc, Thủy Hử, Tây Sương Ký bằng chữ Hán. Hơn 20 năm sau, không những Xuân Hy đã đạt được ước vọng đọc những tác phẩm ấy bằng nguyên tác mà còn đi xa hơn trong việc sử dụng chữ Hán để nghiên cứu văn chương, sử và văn hóa Tàu. Có một điểm rất rõ là mỗi lần tôi đọc một dịch phẩm hay một bài khảo cứu nào của họ Phạm, tôi cũng hiểu nhiều hơn với những chú thích nhiều công phu tra cứu của tác giả.

Đầu thập niên 2000, Xuân Hy cho biết là hơn 20 năm đã mua nhiều sách chữ Nho, chất đầy phòng để khi về hưu có thì giờ sẽ thực hiện một số đề tài nghiên cứu. Nhưng khi về hưu, Hy than là sức khỏe đi xuống nhanh với đủ thứ bệnh, mắt kém, tai nghe không rõ. Mấy năm gần đây tình trạng càng tệ hơn, nên đã phải bỏ dở việc nghiên cứu. Nghe Xuân Hy than, tôi đã nói với Hy là Lão Tử chỉ viết bộ Đạo Đức Kinh hơn 5000 chữ trong một đêm để lại cho đời, rồi cưỡi trâu đi về phía tây. Xuân Hy cũng có khuynh hướng Lão Tử và đã ngao du trong thế giới chữ Nho gần 40 năm. Như thế cũng nên thảnh thơi cưỡi trâu ra đi theo Lão Tử.

II. Đào Mộng Nam


Tôi kết giao với Đào Mộng Nam cũng vào năm 1957, năm Phạm Xuân Hy đến ở nhà tôi. Nam có mấy đặc điểm là đầu lúc nào cũng chải bóng, nói nhỏ nhẹ, hát hay và ngâm thơ rất hay với đủ thứ giọng. Mỗi lần đến chơi, tôi thường nghe Nam hát bài Tà Áo Xanh (Dang Dở) của Đoàn Chuẩn, Từ Linh, còn thơ thì thường ngâm Bài Hành Phương Nam của Nguyễn Bính và bài Nguyện Cầu của Vũ Hoàng Chương. Có một lần đến chơi, Mộng Nam rủ tôi ra quán cà phê vợt ở đầu ngõ vào ấp Cả Trắc. Khi uống cà phê, Nam đưa tôi coi quyển vở có mấy trang chữ Hán và nói là đang theo học chữ Hán với cụ Lâm Tuyền Dã Phu Phan Vọng Húc, thân phụ của nhà thơ Phan Lạc Tuyên và Phan Lạc Giang Đông mà qua Giang Đông, Nam đã tới nhờ cụ Húc dạy chữ Hán. Nam bảo học một mình cô độc, nên rủ tôi đi học với Nam. Tôi cũng thích chữ Hán và đã học hết cuốn Hán Văn Độc Bản trong 2 năm đệ thất, đệ lục ở trường Chu Văn An (không hiểu tại sao chương trình chữ Hán lại bỏ ở đệ ngũ), nhưng thời gian này tôi đang đi bán báo ban đêm, còn quá ít thời giờ cho bài vở ở trường. Vì thế tôi bảo Nam là cậu học đi, còn tôi thì không có thì giờ để theo học. Sau này có thời giờ sẽ tính mà biết đâu lúc đó tôi lại phải làm lễ bái sư thầy Đào Mộng Nam. Từ đó thỉnh thoảng Nam vào nhà tôi sau giờ học ở nhà cụ Phan Vọng Húc. Vẫn ở quán cà phê vợt, Mộng Nam cho biết việc học tiến triển, tuần 3 buổi. Cụ Húc là lớp Nho sĩ cuối cùng còn lại nên cụ hết lòng giảng dạy, hy vọng sau này có những người trẻ tiếp nối việc của cụ. Cụ thường than là là Phan Lạc Tuyên và Phan Lạc Giang Đông đều đi vào nghiệp văn chương, nhưng không hề quan tâm đến chữ Nho.

Tôi thân với Đào Mộng Nam qua chuyện sách vở. Tôi mê sách nên thường để dành tiền tìm mua những quyển sách quí hiếm thời đó như Văn Học Khái Luận của Đặng Thái Mai, Kinh Thi Việt Nam của Trương Tửu, Thượng Cổ Sử Ai Cập của Nguyễn Đức Quỳnh, Xã Hội Việt Nam của Lương Đức Thiệp, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân... và nhà tôi thành nơi trao đổi sách của những người trẻ lớp tuổi tôi thích đọc sách. Đào Mộng Nam bằng tuổi tôi, sinh năm 1941, lúc đó mới 17, 18 tuổi, nhưng sau khi đọc xong cuốn nào, Nam thường có những nhận định khác lạ. Chẳng hạn như sau khi đọc 2 cuốn Đi Tìm Một Căn Bản Tư Tưởng và Diễn Tiến Của Phong Trào Quốc Gia Việt Nam của Nghiêm Xuân Hồng, Nam đem sách trả tôi và nói là nhóm Quan Điểm của Nghiêm Xuân Hồng, Lê Quang Luật và Mặc Đỗ sẽ chẳng đi đến đâu vì đã vướng vào vòng đấu tranh giai cấp của K. Marx, khi xướng lên tư tưởng giai cấp tiểu tư sản làm lịch sử và trí thức tiểu tư sản lãnh đạo lịch sử để đối lại với giai cấp vô sản. Cái nền tiểu tư sản không vững còn trí thức không bao giờ thống nhất với nhau thì làm sao lãnh đạo lịch sử. Qua lịch sử Tàu và Việt ta thấy những ông vua làm nên lịch sử đều không ở tầng lớp trí thức, thường ít học nhưng có tài quy tụ tay chân tả hữu và biết nắm thời cơ. Còn tầng lớp trí thức gọi là kẻ sĩ thường theo phò trước hay sau khi ông vua đó làm chủ thiên hạ. Gần chúng ta nhất như Hồ Hữu Tường là nhà trí thức hàng đầu, là lý thuyết gia, nhưng hoàn cảnh thời thế đã đẩy ông chạy theo phò Bảy Viễn (một tay anh chị có quân và tướng). Sở dĩ tôi nhớ những nhận định này của Nam, vì tôi để tâm đọc hết sách của Nghiêm Xuân Hồng và thấy lý thuyết gia họ Nghiêm sau khi ra phò tướng Nguyễn Khánh bị vỡ mộng, vì tưởng Nguyễn Khánh là Nasser của Ai Cập, nên quay về đọc hết truyện Kim Dung, rồi nghiên cứu Phật Giáo, thành cư sĩ với đạo hiệu là Tịnh Liên, đi truyền bá Phật pháp, tôi thấy Nam hiểu sớm và sáng hơn tôi nhiều.

Khoảng cuối năm 1958, Đào Mộng Nam đến bảo tôi là Nam nhường cho tôi một chỗ kèm trẻ ở tư gia trong khu cư xá sĩ quan Chí Hòa, vì nhà Nam ở Nguyễn Cảnh Chân, trên Tân Định, xuống đây xa quá. Nam dẫn tôi đến cư xá sĩ quan, giới thiệu tôi với gia đình một đại úy tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn truyền tin. Thế là Phạm Xuân Hy đã dẫn tôi vào nghề bán báo đêm, còn Mộng Nam dẫn tôi vào nghề kèm trẻ tư gia.

Đầu năm 1963, gia đình tôi bán nhà đất ở ấp Cả Trắc và chuyển lên Đà Lạt. Cuối năm 1964, tôi có việc phải xuống Sài Gòn. Một buổi sáng trong khi đang đứng chờ xe buýt ở Ngã Bảy, nghe tiếng gọi tên ở bên kia đường, nhìn lên thấy người gọi vẫy tay, tôi đi vội qua thì ngạc nhiên, đó là Đào Mộng Nam, tóc chải mướt, mặc bộ bà ba trắng, chân đi guốc mộc. Nam cầm tay tôi cười nói:

- Mới xa cách một năm mà không nhận ra nhau nữa à?

- Cậu thay đổi kiểu ăn mặc thế này, lại nắng chói giữa người và xe cộ, làm sao nhận ra.

Nam cầm tay tôi đi về phía đường Phan Thanh Giản:

- Về nhà mình ở trên này.

Tôi theo Nam đi qua bệnh viện Bình Dân, rẽ vào một đường hẻm khá rộng. Đi chừng mấy chục mét, Nam dừng lại mở cổng đi vào. Ngôi nhà rộng, kê 5, 6 cái bàn dài với ghế dài. Trên tường có chiếc bảng đen lớn. Nam đưa tôi tới cái bàn vuông ở cuối phòng bảo:

- Cậu ngồi đây để mình đi lấy nước uống.

Sau khi rót trà ra chén, Nam bảo tôi:

- Đây là trường dạy chữ Nho của mình từ đầu năm 1964. Học viên khá đông, đa số là người lớn, có cả sinh viên đại học văn khoa và người Tàu.

Tôi ngạc nhiên nhìn Nam không nói nên lời. Nam đưa tôi một tập in ronéo, nhan đề là Chữ Nho Tự Học, rồi nói:

- Sau khi học cụ Phan Vọng Húc được 2 năm, có được một số vốn chữ Nho, mình xuống Chợ Lớn, vào nhà sách, tìm mua những sách dạy học sinh từ vỡ lòng đến sơ trung, cao trung của Đài Loan và Hồng Kông, nghiên cứu những bài học từ thấp lên cao với cách dạy của họ. Từ việc đọc kỹ sách giáo khoa của Đài Loan và Hồng Kông, mình tìm ra cách học mới, đơn giản dễ nhớ, chớ không như cách cụ Phan Vọng Húc dạy. Cụ là nhà Nho cựu trào, vẫn dạy theo nếp học cũ, mất nhiều thời gian và phải vận dụng nhiều trí nhớ. Học theo cụ thì phải mất 3, 4 năm mới đọc được Tam Quốc, Thủy Hử.. Vì thế mình từ giã cụ, rồi tự học theo cách của mình. Trong quá trình học đó, mình soạn ra 3 tập này. Cậu đem về học đều theo cách phân tích của mình, chữ sẽ vào đầu tự nhiên và dễ nhớ. Đọc xong 3 tập này, từ 6, 7 tháng đến một năm, cậu sẽ đọc được Tam Quốc Chí, Liêu Trai Chí Dị và Sử Ký Tư Mã Thiên...

Tôi giở tập I, xem qua một số trang, rồi hỏi:

- Cậu tìm học chữ Hán vì động lực gì?

- Trở về nguồn cội. Chữ ABC dễ học, phổ thông là một ơn ích cho dân tộc Việt. Nhưng chỉ có chữ ABC, chúng ta sẽ đi ra xa, ra ngoài nguồn cội. Mình đã tìm ra cách học chữ Nho dễ và nhanh. Bằng phương pháp học này, mình sẽ thực hiện một cuộc vận động trở về nguồn bằng chữ Nho. Mình sẽ phát triển việc dạy chữ Nho ở những Phật Học Đường, Hội Khổng Học và một số cơ sở do mình vận động tự thành lập. Từ những cơ sở này vừa dạy vừa tìm những người hiểu giá trị của về nguồn, nhất là giới trẻ, sinh viên đại học, kết thành những hạt nhân văn hóa. Phát triển việc dạy và học chữ Nho cũng là tạo áp lực để Bộ Quốc Gia Giáo Dục thiết lập lại chương trình dạy chữ Nho ở trung học. Mình hình dung khi tất cả những học sinh trung học thông thạo chữ Nho thì bộ mặt văn hóa của đất nước sẽ khác, nguồn văn hóa sẽ sâu thẳm chớ gốc rễ không mờ nhạt, vong bản như bây giờ. Việc làm văn hóa không phải là chuyện kêu gọi mà là tạo điều kiện và hoàn cảnh cho nó tự hành. Mình đã tự tạo được căn bản cho mình và tự tin trong cuộc vận động này.

- Cuối năm 1957, cậu rủ tôi đi học chữ Hán ở nhà cụ Phan Vọng Húc. Tôi nghĩ đó chỉ là ý thích của tuổi trẻ, nhưng không ngờ cậu nuôi một hoài bão lớn, một cái nhìn xa. Còn tôi thì nông cạn, không nhìn gì cả.

- Lúc đó, mình không dám nói nhiều, nghĩ là phải học thông chữ Nho rồi mới có thể nói tiếp. Và hôm nay mình đã nói tiếp.

Tôi đưa tay nắm tay Nam:

- Mừng Nam đã đạt được sự thành tựu căn bản bước đầu để có thể đi xa. Năm 57, tôi nói đùa là biết đâu tới lúc đó sẽ bái cậu làm sư phụ. Không ngờ nay thành sự thực. Bây giờ tôi phải đi. Chiều mai khoảng 6 giờ, tôi sẽ trở lại làm lễ bái sư và mời Nam tới nhà hàng Ngọc Sơn ở đường Lê Thánh Tôn.

(Xem tiếp phần 2)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét