Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

Trần Minh Thảo: Ở Việt Nam ý thức dân tộc còn mang tính làng xã

Tôi trình bày một số suy nghĩ cá nhân nông cạn với mong muốn cùng các bạn làm sáng tỏ vấn đề, tự thấy có trách nhiệm góp phần đổi mới đất nước một cách bền vững. Bài viết phân tích các biến chuyển về ý thức dân tộc, quá trình phát triển lịch sử của Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 cho tới nay.

1/ Cuộc vận động đổi mới nửa đầu thế kỷ 20


Non 100 năm trước, đầu thế kỷ 20, Việt nam có một cuộc vận động đổi mới theo hướng kinh tế thị trường. Đó là phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) của các nho sĩ có Tây học yêu nước (với nghĩa tương tự như có Hán học) Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Phan Chu Trinh… Đó là lần đổi mới thứ nhất mà lạ lùng thay cũng là đổi mới theo sau phong trào duy tân của các trí thức nho sĩ Trung Hoa nhưng không làm theo Trung Hoa. Phong trào tồn tại một thời gian thì bị người Pháp đàn áp, tan rã. Tuy thế, nhìn tổng quát phong trào Duy Tân ở Việt Nam có tác dụng rất sâu rộng mà những cuộc vận động về sau, kể cả cuộc cách mạng do đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo theo tôi cũng là con đẻ của phong trào ấy.

Phong trào Duy Tân - Đông Kinh Nghĩa Thục chủ trương 3 việc:

- Chấn dân khí: Thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường của người dân (làm chủ xã hội, đất nước, ý thức tự làm chủ, không chịu nô lệ ai, tức là không sợ ai), chống chế độ chuyên chế, áp bức (quân chủ, thực dân). Phong trào dịch các sách gọi là tân thư của các nhà tư tưởng phương Tây như Montesquieu, J. J. Rousseau, Kant ,Darwin… từ chữ Hán sang quốc ngữ (các sách này do các trí thức duy tân Trung Hoa Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu… dịch từ chữ Pháp sang Hán văn). Đề cao dân quyền thực chất là xoá bỏ quân quyền (cuối cùng là đuổi người Pháp ra khỏi nước), thiết lập chế độ dân chủ kiểu phương Tây. Phong trào này coi Người Việt trên ba miền là công dân một nước Việt Nam thống nhất. Đấy là lần đầu tiên tư tưởng dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một được trình bày công khai.

- Khai dân trí: bỏ cái học cũ (Hán học), coi đó là cái học lạc hậu, chậm tiến, nô dịch, học chữ quốc ngữ và văn hóa khoa học phương Tây (lối tư duy lôgic). Phù hợp với điều mà người Pháp nói: Khai hóa thuộc địa.

- Hậu dân sinh: làm giàu theo kiểu phương Tây – kinh tế thị trường. Phong trào mở hiệu buôn để học buôn bán và làm tài chính. Một tầng lớp tư sản bản xứ hình thành trở thành các ông chủ (sở hữu tư nhân của cải nói chung). Sự phát sinh ra tầng lớp ông chủ (còn nhỏ) này đã kích thích lòng tự hào: ta không thua kém gì Tây nếu thông hiểu cách buôn bán, làm ăn kiểu Tây phương.

Phong trào ấy không thành công do người Pháp lo sợ mất quyền cai trị. Người Pháp nhìn không xa, hoặc lúc đó kinh tế tư bản chủ nghĩa chưa xuất hiện nhân tố toàn cầu hóa, hoặc vì chủ nghĩa tư bản lúc đó chỉ ở tầm khu vực nên cuối cùng thua trắng tay.

Người Pháp đàn áp tàn bạo phong trào Duy Tân - Đông Kinh Nghĩa Thục và các phong trào yêu nước khác. Nhưng người Pháp buộc phải thực hiện nhiều chủ trương do các phong trào yêu nước đổi mới đó đề ra. Hoặc người Pháp thấy một số chủ trương của phong trào đó cũng có lợi cho chính quyền thực dân. Ví dụ về việc khai dân trí:

Khoa thi Hội năm Mậu Ngọ (1919, 12 năm sau khi Phong trào Duy Tân mở Đông Kinh Nghĩa Thục) là khoa thi cuối cùng theo cái học cũ (chữ Hán), là khoa cuối cùng đặt dấu chấm hết cho một kỷ nguyên Hán học (Nho học) kéo dài 844 năm trên đất nước ta (kể từ khi vua Lý Nhân Tôn mở khoa thi Tam trường lần thứ nhất năm 1075). Đông Kinh Nghĩa Thục là nhà trường mở ra để dạy quốc ngữ, dùng quốc ngữ để dạy kiến thức phương Tây cho người Việt. Sau khi phong trào bị đàn áp, người Pháp buộc phải mở các trường tuần tự từ tiểu học đến đại học (dạy học bằng chữ quốc ngữ, chữ Pháp, có cả chữ Hán) tiếp tục công việc của Đông Kinh Nghĩa Thục. Chương trình học trong các nhà trường hoàn toàn theo chương trình của Pháp. Có lẽ chưa có đội ngũ các nhà sư phạm người Việt soạn sách giáo khoa Việt Nam nên trẻ em Việt Nam thời đó phải học thuộc lòng câu: tổ tiên ta là người Gô-loa (Pháp) bằng Pháp ngữ! Về sau có sách giáo khoa quốc văn thì mới bỏ được bài học chối tai đó. (Đọc thêm: ”Đông kinh nghĩa thục”, Nguyễn Hiến Lê; ”Đại cương lịch sử Việt nam”, NXB Giáo dục, Hà nội)

Nhưng tôi không tiếp cận phong trào đổi mới đầu thế kỷ 20 tại Việt nam theo hướng đó.

Bài viết có mục đích góp phần làm sáng tỏ khía cạnh dân khí tức dân quyền, quyền làm chủ của nhân dân mà cốt lõi của nó là ý thức dân tộc thống nhất do cuộc vận động ấy sinh ra và tìm hiểu bằng cách nào, bước đi nào để Người Việt Nam nâng cao dân khí, nghĩa là có ý thức dân tộc, ý thức làm chủ đất nước với tư cách mỗi công dân là một chủ thể bình đẳng về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với dân tộc và đất nước, tức là quyền mỗi dân tộc tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình (quyền dân tộc tự quyết). Phong trào Duy Tân chủ trương, muốn cho người dân biết được quyền của mình thì phải khai dân trí (giáo dục, tuyên truyền). Chủ trương đó đúng nhưng chưa đủ. Và lần đầu tiên xã hội Việt Nam biết thêm một sức mạnh văn hóa mới: Báo chí. Báo chí trở thành một thứ nhà trường truyền bá tư tưởng dân chủ phương Tây (dân chủ Mác-xít cũng là một kiểu dân chủ sinh ra trong lòng văn minh phương Tây, là thứ phản diện của nền văn minh ấy).

Từ cuộc vận động duy tân đòi quyền dân tộc tự quyết đó sinh ra bốn dòng vận động chính:

- Dòng trí thức thành thị (được đào tạo trong nước hoặc tại chính quốc) tiếp tục con đường hợp tác với Pháp, cải cách có điều kiện, khi đủ mạnh thì đòi người Pháp trả lại quyền tự chủ cho Việt Nam: ví dụ nhóm Tự Lực Văn Đoàn do nhà văn Nhất Linh chủ xướng.

- Dòng dựa hẳn vào người Pháp để canh tân đất nước: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh.

- Dòng sử dụng bạo lực giành quyền lực chính trị trước (có xu hướng bảo hoàng hoặc gần với chủ nghĩa tam dân của Quốc dân đảng Trung Hoa): điển hình là cuộc khởi nghĩa Quốc dân đảng của lãnh tụ Nguyễn thái Học.

- Dòng do Nguyễn Tất Thành (chủ tịch Hồ chí Minh về sau) khởi xướng (ông có tân học tuy là con của một nhà nho đỗ đạt, ông từng dạy học ở trường Dục Thanh, Phan Thiết là loại học hiệu do phong trào Duy Tân mở ra). Có lẽ do người thanh niên ấy cho rằng đi theo con đường duy tân cải cách thì chậm, nên sau khi ra nước ngoài tìm con đường khác đã tìm ra chủ nghĩa Mác-Lênin. Ông nói đọc xong Luận cương các vấn đề dân tộc của Lênin thì mừng chảy nước mắt. Ông chọn con đường đi nhanh (không phải là đi tắt). Con đường cách mạng vô sản.

Trong giòng trí thức thành thị, tôi sẽ tiếp cận Tự Lực Văn Đoàn(1933-1940) vì tôi thấy tổ chức ấy có một cách nhìn rất mới trước các vấn đề xã hội Việt Nam thời bấy giờ: vạch ra bộ mặt thật “bùn lầy nước đọng” của nông thôn Việt Nam. (Học giả Nguyễn hiến Lê nhận xét: ”Bùn lầy nước đọng” chữ dùng của Tự Lực Văn Đoàn là chính xác cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng về nông thôn Việt Nam). Tự Lực Văn Đoàn chủ trương giải phóng người nông dân trong cảnh bùn lầy nước đọng trở thành một người công dân (người nông dân bước ra ngoài lũy tre làng, có ý thức làm chủ, bình đẳng trước pháp luật với các thành phần khác trong xã hội). Thấy được nông dân vừa là đối tượng của công cuộc đổi mới vừa là lực lượng của cuộc vận động đổi mới là cái nhìn sắc bén, đúng đắn. Các phóng sự Bùn lầy nước đọng, Trước vành móng ngựa đã phơi trần bộ mặt nông thôn Việt Nam rất sinh động. Chỉ trong 3 năm, các ông đã vui mừng khoe công: ”Sự thay đổi của linh hồn dân ta đã ngấm ngầm từ tốn mà tiến hành, không có sức mạnh nào ngăn cản lại được nữa. Những lý tưởng, những quan niệm cũ dần dần mất đi vẻ uy nghi lẫm liệt, tất rồi cũng theo thời gian mà bị phá tan, nhường chỗ cho những quan niệm những lý tưởng mới”. Việc của ngàn năm không thể nào phá đổ nhanh thế được. Đảng cộng sản sau này khi nắm quyền cả nước cũng phải trầy trật với nó đến 30 năm mà vẫn chưa xong, thì một tờ tuần báo phát hành 10.000 số mỗi kỳ (khá lớn ở thời đó) chủ yếu cho người biết chữ ở thành thị làm sao chuyển biến nổi tình hình nông thôn đã trở thành nếp kéo dài cả nghìn năm. (Người cộng sản nói đó là lạc quan kiểu trí thức tiểu tư sản xa lông?).

Mục tiêu của Tự Lực Văn Đoàn là đả phá những thối nát nằm ở mặt trái của cái gọi là văn minh làng xã. Cái triều đình con con cực kỳ dốt nát, bất nhân, thối nát, tàn bạo cai trị làng xã được Tự Lực Văn Đoàn hí họa thành những lý toét, xã xệ làm trò cười cho thị dân (nông dân tuyệt đại bộ phận không biết chữ). Từ hướng nhìn của Tự Lực Văn Đoàn thử tìm hiểu kết cấu của làng (xã) Việt Nam như là địa bàn hoạt động kinh tế chính trị văn hoá xã hội của người Việt, là địa bàn chiến lược kinh tế quốc phòng của quốc gia Việt kéo dài cả nghìn năm. Sau này, có lúc làng xã thành ra quận huyện, tuy vậy bản chất vẫn là làng xã.

Văn minh làng (xã). Làng thời Trần có tên là hương. Đại Việt sử ký toàn thư ghi hai hương Bàng Hà, Ba Điểm đầu hàng giặc Nguyên nên vua Trần xóa sổ hai hương đó, bắt dân vào làm nô tì nhà quan. Tuy khó nghe nhưng chính xác phải gọi là văn minh làng. Cũng không thể nói văn minh nông thôn vì tuy nhìn chung tập hợp làng là nông thôn nhưng mỗi làng là một đơn vị độc lập, mỗi làng có sự độc lập nhất định với các làng chung quanh. Không có một cộng đồng làng, chỉ có một tập hợp làng cấu thành quốc gia Việt. Các làng không có nghĩa vụ với nhau, mỗi làng chỉ có nghĩa vụ với nước (làng nước) thực chất là nghĩa vụ với vua chúa, triều đình.

Làng là một cộng đồng người Việt (Kinh), có thể có một thiểu số sắc dân khác. Cộng đồng này quần tụ trên một diện tích hẹp gồm những cái vườn (đất thổ cư) vài trăm mét vuông (khoảng 1 sào bắc bộ) liền nhau, trên đó có nhà ở của mỗi gia đình (khoảng 50-100 gia đình). Nhà tranh vách đất là chính, chỉ một vài nhà giàu hoặc nhà thờ họ, đình, chùa mới có tường xây, lợp ngói và tường bao có gắn vật nhọn sắc đầu tường để chống trộm cướp. Gia đình là một tổ chức cùng huyết thống có từ một đến nhiều thế hệ chung sống. Gia đình càng có nhiều thế hệ chung sống thì được dân làng coi là gia đình phúc đức sâu dày, nối được mạch tổ tông. Làng có thể gần một giòng sông nhưng nét đặc trưng của làng là lũy tre bao quanh với cổng làng thường đóng lại về đêm. Quanh làng bên ngoài lũy tre là cánh đồng lúa (hoa màu tùy vụ). Làng ở miền Nam (vùng đất mới) “thoáng hơn” vì yếu tố lũy tre không còn nữa. Giữa làng có ao làng là nơi chứa nước sinh hoạt cho cả làng (ăn uống tắm giặt). Làng miền Nam không có ao làng vì đã có nhiều kênh rạch cũng là một thứ tụ điểm sinh hoạt văn hóa. Làng có đình làng, nơi diễn ra các lễ hội của dân làng (tụ điểm văn hóa chính), có thể có thêm vài ngôi miếu thờ các vị thần. Làng có người đỗ đạt (tú tài trở lên) thì được dựng văn miếu thờ Khổng tử và các học trò (thất thập nhị hiền) ở cánh đồng làng (có thể là để tỏ cho người làng khác biết trình độ văn học của làng mình?). Làng còn có chùa Phật (Phật giáo đại thừa, thường thì hai ba làng có một ngôi chùa cũng ở ngoài cánh đồng). Người chết có thể an táng trong vườn nhà hoặc trên ruộng nhà. Mộ tổ (mã tổ) là ngôi mộ to nhất làng, mộ của vị lập ra làng. Mộ của người đến sau hoặc con cháu phải nhỏ hơn. Chết được mai táng gần nhà là cái chết có phúc, chết xứ người là vô phúc. Một số Việt kiều lớn tuổi muốn trở về quê hương cho gần tổ tiên ông bà có lẽ cùng một suy nghĩ như vậy. Những họ tộc lớn có thêm nhà thờ họ do người con trai cả trông nom. Nhà không có con trai nối dõi là nhà vô phúc (bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại), không có người trông nom mồ mã tổ tiên, giỗ cúng người đã khuất là đại vô phúc, làng xóm đàm tiếu, chê trách rất nhục nhã.

Tổ chức hành chính cai trị có vị đứng đầu là lý trưởng và một số chức sắc không có thực quyền nhưng được hưởng một số đặc quyền. Những chức sắc làng có thể dùng tiền để mua kể cả chức lý trưởng. Sinh hoạt văn hóa của làng diễn ra vào các dịp lễ tết ở sân đình làng. Hội hè đình đám là những dịp vui chơi, có thể có tiệc tùng mà chỗ ngồi được quy định chặt chẽ, nhìn vào chỗ ngồi trong một tiệc làng ta biết được địa vị xã hội của mỗi người. Miếng giữa làng chỉ ra lớp bậc xã hội của mỗi người nên được quan tâm đặc biệt (một miếng giữa làng bằng sàng xó bếp). Cưới hỏi tang ma khao vọng phải theo một quy định chặt chẽ. Mỗi làng có hương ước là một thứ luật làng (lệ làng), mọi người phải tuân theo. Do hương ước, làng là đơn vị hành chánh cơ bản có quyền tự trị nhất định. Kinh tế làng chủ yếu là nông nghiệp, thủ công nghiệp nhỏ bé tự sản tự tiêu, gần như không có thương nghiệp. Mua bán đã dùng tiền nhưng thông thường là hàng đổi hàng. Có nơi theo cơ chế xin cho, có đi có lại “bánh ít … bánh giầy”.

Sự chung sống sinh hoạt liền kề giữa người sống và người sống, người sống và người chết hình thành nên cái gọi là tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn dựa vào nhau, ý thức làng xóm, họ hàng, dòng tộc, ý thức về một nối kết từ quá khứ đến vị lai là ý thức phổ biến. Người ta sống vì mồ mả tổ tiên. Do chính sách đất đai thời phong kiến đã gắn chặt nông dân với ruộng đất. Đi khỏi làng là mất gốc (vong bản), mất kế sinh nhai. Nông dân không muốn rời làng đi nơi khác. Nơi an toàn nhất là sau lũy tre làng, ý thức cố thủ sau lũy tre để được bình an là nét đặc trưng của văn hóa, tinh thần Việt, nhìn cái mới lạ với con mắt hoài nghi, thù địch. Ý thức an phận thủ thường đó chỉ bị phá vỡ khi xã hội loạn lạc do đói kém, chiến tranh… ”Tha phương cầu thực” vừa là tiếng thở dài của người phải ly hương vừa là lời nhiếc móc dè bỉu (loại tha phương cầu thực là loại người không lý lịch, không rõ lai lịch, loại khả nghi). Nông dân rất sợ bỏ làng trở thành dân ngụ cư ở làng khác. Cố học giả Nguyễn Hiến Lê nhận xét: ”Tâm trạng tủi nhục đó do tổ chức hương thôn của mình. Mỗi làng là một địa phương tự trị, có tục lệ riêng, tài sản riêng (công điền), gần như một triều đình riêng. Người nơi khác tới có cảm tưởng như vô một xứ lạ, bị dân làng nghi kị, không muốn cho nhập tịch, vì không muốn chia công điền cho họ, và chỉ cho ngụ cư (như tạm trú ngày nay) thôi. Dân ngụ cư không có chút quyền lợi gì cả (không được dự vào việc làng, không được chia ruộng) nên bị khinh. Đã bị nghi kị, lại bị khinh, tất khó làm ăn, nên không ai muốn bỏ quê hương mà đi ngụ cư nơi khác cả, và cho việc phải ly hương, phải ngụ cư là tủi nhục. Ngày nay chế độ xã hội chủ nghĩa lại áp dụng chính sách thời phong kiến, chính sách địa phương tự trị đó, cũng phân biệt tạm trú và thường trú (có hộ khẩu) gây rất nhiều rắc rối và tham nhũng. Bao giờ nước mình mới văn minh được?” [Hồi ký Nguyễn Hiến Lê].

Làng xã miền Nam có thể không còn khép kín như ở miền Trung và Bắc. Những làng xã miền Nam chưa hoặc không cần có lũy tre, dân làng phần nhiều là lưu dân gồm binh lính, dân nghèo đi tìm đất sống, tội nhân lưu đày biệt xứ, người vô gia cư, vừa quyến luyến cố hương nhưng cũng thù địch với tầng lớp trên ở cố hương. Do hoàn cảnh tự nhiên ít khắc nghiệt, dễ kiếm ăn, không sợ đói nên phóng khoáng hơn người Việt ở Trung và Bắc, dễ tiếp thu cái mới, ít kỳ thị cái mới nhưng ít nhiều không mấy thiện cảm với người đàng ngoài (dân trọ trẹ – từ Huế trở ra) là nơi mà họ không dung thân được phải đào vong đến nơi xa lạ. (Sau này một số trí thức miền Nam theo Pháp muốn có một nước cộng hòa Nam kỳ có lẽ xuất phát từ tâm tư tình cảm đó?). Khi Người Việt đến xứ Gia Định thì ở đấy đã có Phật giáo tiểu thừa có gốc gác từ Campuchia chưa lần nào tham chính như Phật giáo đại thừa ở đằng ngoài, có cả Hồi giáo của người Chăm. Đó là một xã hội đa văn hóa, đa chủng tộc. Có lẽ vì vậy mà ngày nay người dân Nam bộ ít quan tâm đến những cái gọi là “quan điểm”, ”lập trường”, xuê xoa, dễ thân cận, làm kinh tế thị trường giỏi nhất nước, có nền kinh tế thị trường nề nếp nhất nước. (Đọc thêm: “Đất Gia định xưa”, ”Người Sài Gòn”, Sơn Nam, NXB TP Hồ chí Minh, NXB Trẻ).

Tín ngưỡng làng xã là một thứ đa thần giáo (có nhiều loại thần linh ngự trị trong tín ngưỡng dân Việt: Cây đa, cây gạo, bình vôi, cục đá…) hòa hợp với tam giáo (Phật, Nho, Lão) đến từ Trung Hoa. Phần mê tín dị đoan có lẽ xuất phát từ phần dung tục của Lão giáo kết với tín ngưỡng đa thần. Phật giáo (ngôi chùa trở thành trung tâm của tín ngưỡng làng xã) có tính dung nạp (sống chung) cao nên có thể thâm nhập và phát triển cả ở phương Tây có nền tảng văn minh là Thiên chúa giáo. Hoặc là cả hai tôn giáo ấy, trong bản chất có tính dân chủ cao. Khái niệm tà ma ngoại đạo có trong kinh kệ Phật giáo ngày nay chỉ có thể được thêm vào sau khi Phật giáo truyền vào Trung Hoa hoặc Việt nam, hoặc khi tôn giáo ấy tham chính. Vì khái niệm Phật tính, vô chấp, vô ngã là loại hình nhất nguyên luận không phân thị phi, phải trái (có lẽ do Phật giáo Trung Hoa thêm vào sau các đợt đàn áp Phật giáo trong các thời phong kiến (từ Tấn trở đi) hoặc từ khi Phật giáo đến Việt Nam đi vào làng xã tiếp thu thêm tín ngưỡng đa thần cho phù hợp với thứ tư duy nhị nguyên luận giản đơn, bình dân, dung tục, dễ hiểu: thiện ác, tốt xấu…). Sự đề kháng mãnh liệt của văn minh làng xã một phần có thể là do tính chất tín ngưỡng nông dân của nó. Đầu thế kỷ 20, nhà nghiên cứu Phan Kế Bính tinh thông cả Nho học đã coi Thiên chúa giáo là một bộ phận của tín ngưỡng làng xã (tác giả dùng tên cũ Gia tô giáo) khi viết sách “Việt Nam phong tục” là tập nghiên cứu bài bản, chi tiết đầu tiên về phong tục Việt nam. Sự đề kháng, ý thức không dung nạp cái mới chẳng phải chỉ đối với đạo Thiên chúa (300 năm sau khi các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt nam, đạo Thiên chúa mới được giới nghiên cứu Việt Nam đưa vào sử sách cũng còn sớm). Đạo Phật, theo một nghiên cứu gần đây cho rằng không phải từ Trung Quốc truyền sang mà do đường biển Nam Á tới, sau mới đến Trung Quốc, cũng phải mất từ 300 đến 700 năm mới thành ra quốc giáo dưới thời nhà Lý. Sau đó suy vi cho đến khi kết được với văn minh làng (xã) mà tồn tại và phát triển đến nay. Nho giáo mất hơn 400 năm mới được coi là học thuyết trị nước hay nhất (từ khoa tam trường cho đến Lê Thánh Tôn mới định hình và tồn tại cho đến 1919). Lão giáo được tiếp thu nhanh hơn và biến thành thứ tín ngưỡng mê tín dị đoan có lẽ vì nó phù hợp với tín ngưỡng đa thần của người Việt.

Trong kết cấu văn minh tín ngưỡng làng (xã) thì Phật giáo là yếu tố dung nạp các yếu tố ngoại lai nhanh nhất (có lẽ do triết lý vô chấp vô ngã). Từ hệ thống tổ chức dựa trên nền tảng môn phái, tổ đình là loại hình tổ chức không chặt chẽ nhưng làm cho triết lý Phật giáo phát triển đa dạng phong phú. Ngày nay Phật giáo tiếp thu cách tổ chức của tôn giáo khác để có một hệ thống ban đầu là Hội Phật học nay là Giáo hội Phật giáo. Một số nhà nghiên cứu phong trào Cộng sản quốc tế còn thấy hệ thống tổ chức của các đảng Cộng sản là bản sao hệ thống tổ chức của một tôn giáo. Hệ thống tổ chức đó gắn với hệ thống hành chính nhà nước. Sự cải tiến đó cho thấy Phật giáo không phải là yếu tố bảo thủ trong hệ thống văn minh làng xã.

Về sự tham gia rất đặc thù của Phật giáo vào sinh hoạt chính trị Đại Việt ngay sau thời tự chủ (thời Lý) được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất là do các nhà sư là thành phần trí thức duy nhất của nước Đại Việt thời bấy giờ. Các nhà cai trị thời ấy thường là vô học, không biết chữ. Công việc trị nước cần có văn tự để ghi chép và truyền đạt mệnh lệnh (chưa rõ trước thời Lý - Ngô, tiền Lê báo cáo, mệnh lệnh… lưu trữ, lên xuống theo cách nào). Các nhà sư là người tinh thông Hán tự do phải nghiên cứu kinh sách từ Trung Hoa truyền sang và phải viết kinh sách hoặc phải sao chép kinh sách để truyền bá giáo lý, và do đó các nhà sư Phật giáo còn tinh thông cả Nho học và Lão học (Các nho sĩ tham gia việc nước về sau có lẽ cũng do các nhà sư đào tạo ra). Nhiều công việc ngoại giao, nội trị thời đầu của một Đại Việt tự chủ do các nhà sư phụ trách. Thi ca thành văn thời đó cũng cho thấy vị trí thống lĩnh của các nhà sư tinh thông Hán học. Các thành phần khác có lẽ cũng có sáng tác thơ ca vì đó là hoạt động tự nhiên của con người, nhưng không ghi lại được đã trở thành văn chương truyền khẩu. Thuở ban đầu ở Trung Quốc có lẽ các nhà sư do chưa có trình độ Hán học cao, ít chữ nên công việc truyền giáo chủ yếu là khẩu truyền vì vậy Phật giáo Trung Hoa, do cách tiếp thu, trình độ giác ngộ lời Phật dạy đã sinh ra nhiều tông phái. Có lẽ các tông phái Việt Nam hình thành cũng cùng một cách. Khi Nho học định hình, giới nho sĩ khẳng định vị trí trong bộ máy cai trị thì các nhà sư mới không tham dự triều chính. Khi chế độ quân chủ chuyên chính bước vào quá trình suy vong thì cũng diễn ra tệ mua bán bằng cấp. Thời Lê Trịnh cho nộp tiền đi thi. Phan Huy Chú, học giả thời Nguyễn than: hạng sinh đồ 3 quan đầy cả thiên hạ (không học hành nhưng nếu có tiền nộp quan là được đi thi dù đó là người mổ lợn hoặc anh bán cá ở chợ (không biết chữ). Người đi thi đông đến nổi chen lấn giẫm đạp nhau chết ở cổng trường thi. Ông cho biết: ”thi Hương (cử nhân) thì đem (tài liệu) vào trường mà chép, thi Hội (tiến sĩ) thì học thuộc lòng (bài giải biết trước) viết ra”. [Lược khảo khoa cử Việt nam (Khoa mục chí-Lịch triều hiến chương loại chí - Phan Huy Chú), Long Điền dịch, NXB Thanh Tân, Sài gòn – 1969]. Những nho sĩ khí tiết, hoặc không muốn chen chân vào quan trường, hoặc chán cảnh chợ thi, trở về quê nhà dạy học, làm ruộng. Ông đồ, trường làng, tiếng học bài ê a là nét văn hóa độc đáo của làng (xã) Việt nam, cùng với Phật, Lão thành ra nền văn hóa tam giáo đồng lưu sau lũy tre làng. Có thể nhờ vậy mà giảm được một phần nào cảnh “bùn lầy nước đọng” trong đời sống tinh thần của nông dân Việt.

Trong thời loạn lạc đói kém, các nhà sư và ông đồ (lực lượng duy trì đạo đức, phong hóa ở làng xã) đứng ở đâu? Khi đói quá thì diễn ra cảnh “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ”, hoặc như các nhà sử học Mác-xít nói, họ đầu hàng giai cấp, tham gia cuộc nổi dậy “tước đoạt” như thi hào Cao Bá Quát.

Từ dẫn chứng đó ta có thể rút ra mấy kết luận. Nhóm quyền lực nào có tri thức sẽ trở thành lực lượng thống trị xã hội. Tuy nhiên vì quyền thường gắn với lợi nhuận (nhiều quyền thì tất yếu có nhiều của cải) nên việc đổi mới được quyết định bởi nhóm quyền lực nào chiếm ưu thế, không nhất thiết đó là nhóm tiến bộ nhất. Theo cách đó có thể suy ra nhóm tinh thông Nga ngữ sẽ kèn cựa với nhóm tinh thông Hán ngữ hoặc Anh ngữ hay ngược lại, vì đổi mới theo hướng nào thì phải vận dụng khối tri thức của hướng đó (cải cách giáo dục ở Việt Nam cứ nằm mãi ở bước dự thảo có lẽ cũng do có sự kèn cựa của các khối áp lực có nguồn tri thức khác nhau trong đảng Cộng sản).

Gần đây trong một phiên họp Quốc hội, khi bàn về việc dùng ngoại ngữ nào làm ngôn ngữ thứ hai, đã có đại biểu đề xuất dùng Trung văn. Điều ấy cho thấy quyền lực dựa vào tri thức Trung văn không muốn mất quyền. Đó là sự đấu tranh giữa các nhóm quyền lực có tri thức khác nhau được trang bị từ nhiều nguồn khác nhau dựa vào các áp lực chính trị cũng khác nhau nốt.

Tập hợp tất cả yếu tố ấy lại ta có cái gọi là văn minh làng (xã).

Mặt hẹp hòi cố chấp, nghi kỵ cái mới, giữ chặt truyền thống có trong văn minh làng (xã) là do đâu?

Có thể là do tầng lớp trên (theo cách nói Mác-xít thì tầng lớp trên ở làng gồm có bọn hào lý, ông đồ, nhà sư, thầy cúng (Lão giáo?), tầng lớp dưới là bần cố nông và các người nghèo khổ khác) ngại đổi mới vì có thể mất cả quyền lẫn lợi, chỉ đổi mới, tiếp thu cái mới từ từ để duy trì đặc quyền đặc lợi, hoặc là do đầu óc an phận thủ thường: ”Không có cái đó cũng chẳng chết ai”. Sự trì trệ trong nhận thức, ý thức bảo thủ là do phương thức sản xuất ngàn năm không có gì mới (con trâu đi trước cái cày theo sau), là do nền văn minh nông nghiệp manh mún, phụ thuộc trời đất mà có, hoặc phát sinh từ bối cảnh sinh loạt làng xã nói chung, không muốn, ngại ra khỏi lũy tre làng?

Những yếu tố khác nhau trong văn minh làng (xã) tạo ra ý thức đề kháng cao không chỉ với những cái mới mẻ mà cả với ngoại xâm. Lũy tre làng có thể hình thành ngẫu nhiên nhưng có thể suy ra là nó được củng cố trở thành hào lũy từ thời thập nhị sứ quân. Các làng xã với thủ lãnh của mình tranh nhau quyết liệt quyền cai trị lãnh thổ đã hình thành nên lũy tre làng. Lũy tre còn là phương tiện phòng vệ chống trộm cướp.

Hệ thống làng (xã) liên hoàn trở thành thành lũy, pháo đài chống ngoại xâm rõ nhất từ thời Trần. Ba lần quân Nguyên xâm lược đều sa vào thế trận làng (xã) (chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích). Xa giá vua Trần di chuyển loanh quanh trong vùng đồng bằng sông Hồng và Thanh Hóa kéo theo sau đại quân Mông Nguyên sa vào trận địa của dân binh các làng, bị tiêu hao, hoảng loạn, sút giảm ý chí xâm lược. Khí hậu thời tiết khắc nghiệt của Việt Nam cũng góp phần đánh giặc Nguyên. Vua quan nhà Trần chỉ cần vài trận đánh lớn là đuổi được quân xâm lược khỏi nước (theo “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII” - NXB khoa học xã hội - Hà nội - 1972).

Nhà Trần động viên quân dân thời đó thế nào? Một số đoạn trích sau đây trong Hịch tướng sĩ văn (đầu đề đầy đủ đọc theo âm hán Việt là :”Dụ chư tì tướng hịch văn”-bài hịch hiệu triệu, răn dạy các tướng sĩ) của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nói rõ điều đó:

- (Không ra sức kháng chiến để mất nước thì) “Bấy giờ chủ tớ nhà ta sẽ cùng bị trói, thật đau đớn thay! Chẳng những thái ấp (đất phong tặng của vua cho các vương hầu-thân quyến của vua) của ta bị tước đoạt mà bổng lộc của các ngươi cũng bị người khác chiếm mất. Chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị người khác bắt đi. Chẳng những xã tắc của ta bị người khác xâm lăng dày xéo mà tới mồ mả cha mẹ các ngươi cũng bị người khác đào bới. Chẳng những ta kiếp này bị nhục mà trăm đời về sau danh nhơ khó rửa, tiếng xấu mãi còn, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là bại tướng vậy… [Theo Tầm nguyên từ điển, Bữu Kế, NXB Khai Trí, Sài gòn, 1968: Xã là nơi tế thần đất, Tắc là nơi tế thần nông - vị thần trông coi nghề nông, về sau xã tắc được hiểu là đất nước; Xã tắc của ta nghĩa là đất nước của ta – của giòng họ nhà vua].

- (Nếu đánh thắng giặc Nguyên thì) ”Chẳng những thái ấp của ta mãi mãi là của nhà mà bổng lộc các ngươi được hưởng thụ suốt đời. Chẳng những gia quyến của ta được yên ổn giường chiếu mà vợ con các ngươi cũng được sum họp trăm năm cho đến già. Chẳng những tông miếu của ta được tế tự muôn đời mà cha ông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm. Chẳng những thân ta kiếp này được đắc chí mà các ngươi còn để tiếng thơm lưu truyền trăm năm. Chẳng những tên tuổi của ta không bị mai một mà tên họ các ngươi cũng được tiếng thơm trong sử xanh vậy…”. (Trích: “Binh thư yếu lược” - Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn - Lê Xuân Mai và cộng sự dịch - nhà sách Khai Trí xuất bản - Sài gòn - 1969).

Trong lời hiệu triệu đó ta thấy Hưng Đạo Vương đề cao 4 yếu tố: 1/ Lợi ích vật chất; 2/ Gia đình; 3/ Tín ngưỡng, yếu tố cội nguồn, gốc gác (chim có tổ, người có tông); 4/ Danh tiếng giòng họ (lưu danh thiên cổ). Người ta chỉ thành người có giá trị khi có một cội nguồn rõ ràng. Mồ mả cha ông là một nét văn hóa, bàn thờ tổ tiên là sự nối kết người đã khuất với người còn sống. Trên bàn thờ tổ tiên thì bát nhang (lư hương) là vật thờ cúng đóng vai trò kết nối con cháu với người đã khuất, với trời với đất, là vật gia bảo tâm linh, tinh thần, tình cảm truyền lại cho đời sau nguồn sống của dòng tộc. Giỗ cúng có thể thiếu đèn nhưng không thể thiếu nén nhang. Đi làm ăn nơi khác, người ta chỉ cần mang theo bát nhang là đã mang theo được dòng tộc cội nguồn, không đứt mạch quá khứ với tương lai.

Trong hai cuộc kháng chiến vừa qua yếu tố này làm cho phe quốc gia không gắn được với nông thôn chiếm 80 % dân số. Trong khi thực hiện chính sách bình định nông thôn người Mỹ đụng phải mấy vấn đề: lực lượng du kích “ngụ binh ư nông” (như dân binh thời Trần), không phân biệt được ai là ai. Tình hình đó dễ đi đến hành động “giết lầm hơn bỏ sót” (vụ Sơn Mỹ), không thu phục được lòng dân, đụng chạm đến sức mạnh vừa hữu hình vừa vô hình: tình cảm làng xóm, sợi dây liên kết người và người ở làng (xã) được củng cố hàng nghìn năm: “tình làng nghĩa xóm”; đụng đến tín ngưỡng làng xã: Người sống + bàn thờ (bát nhang) + người đã khuất (mồ mả cha ông). Đào mồ quật mả (do bom đạn, do cày ủi tìm hầm bí mật) làm cho đứt gốc nối kết với quá khứ là hình phạt nặng nề. Vua Minh Mạng dùng xích sắt xiềng mả Lê Văn Duyệt là có ý cắt ông ta ra khỏi cội nguồn mà giòng dõi cũng tuyệt diệt không tiếp truyền được về sau (vô hậu hoặc ngầm mắng ông ta là thứ tuyệt hậu). Dồn dân lập ấp là tách người sống ra khỏi người chết (tổ tiên gốc gác, mồ mả cha ông), chạy bom đạn không đem theo được bát nhang là sự cắt đứt mối quan hệ vô hình hữu hình. Không quan tâm đến yếu tố này nên người Mỹ không thắng trong cuộc chiến ấy (bình định nông thôn thực chất là đánh vào truyền thống văn minh làng (xã). Người Mỹ không chinh phục được nông dân, không chinh phục được văn minh làng (xã) Việt nam.

Sau 1975, khi Việt Nam mở cửa, một số Việt kiều về nước, việc đầu tiên thường là xây mồ mả tổ tiên, có thể một số vị còn thỉnh bát nhang sang xứ người để không mất gốc. Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng phổ biến, lâu đời, ăn rất sâu vào đời sống tâm linh, tình cảm người nông dân không phân biệt đó là địa chủ hay bần cố nông. Trừng phạt người dân bằng cách đuổi người ta chạy ra khỏi nước là hình phạt khốc liệt về mặt tâm linh, chặt đứt người ấy với cội nguồn, biến người ta thành kẻ vong bản. Vài chục năm lại đây, thấy trên bàn thờ các gia đình tín đồ Thiên chúa giáo có thêm bát nhang (lư hương). Đó phải chăng là sự tiếp thu có chọn lọc ( chọn rất đúng) văn minh làng (xã) Việt nam? Trước 1975, từ năm 1968 đến 1976 ở Sài gòn, một nhóm linh mục Thiên chúa giáo (Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan…) theo Công đồng Vatican II vận động công cuộc gắn Tôn giáo với dân tộc. Nếu cuộc vận động ấy thành công thì Việt Nam sẽ có vị Chúa hài đồng có vá tóc, bụ bẫm như tranh Đông Hồ, Đức mẹ Đồng trinh bận áo tứ thân, búi tóc, Chúa Giê-su với áo dài, khăn đóng. Cuộc vận động ấy táo bạo nên bị hoài nghi từ nhiều phía trong kết cấu văn minh làng (xã) và từ quyền lực cai trị (Quốc Cộng đều nghi ngại). Để biết thêm về việc làm của nhóm linh mục này, tìm đọc tạp chí Đối diện (Đứng dậy, đồng dao) từ 1968-1976-Sài gòn.

Sự tồn tại phát triển hay điêu tàn của làng (xã) Việt nam gắn chặt với 3 vấn đề, trở thành nỗi ám ảnh ngàn đời trong tâm tư tình cảm của mỗi người Việt: 1/ Đói nghèo; 2/ Giặc giả trộm cướp, tranh đoạt quyền lực; 3/ Ngoại xâm.

Đói nghèo, chiến tranh, ngoại xâm là ba mối bận tâm hàng đầu của nhân dân Việt Nam và mọi loại nhà nước và kế tục nhau cai trị Việt Nam từ khi giành được độc lập (Ngô Quyền) cho đến đầu thế kỷ 21. Thực sự thái bình thịnh trị mỗi triều đại kéo dài từ 3-10 năm. Trong một nghìn năm chưa đến trăm năm thực sự bình an no đủ. Theo sử cũ, sau loạn 12 sứ quân là hai cuộc ngoại xâm, các cuộc đảo chính cung đình, cuối thời Lý đánh nhau liên miên để giành ngôi vua. Nhà Trần chịu 3 cuộc chiến chống xâm lược, lại loạn cung đình, ngoại xâm (nhà Minh xâm lược), lại nội chiến, rồi ngoại xâm (nhà Thanh, Pháp, Mỹ). Chia cắt đất nước và nội chiến, chiến tranh liên miên cho đến 1989. Cứ vài năm từ cuối Trần cho đến đầu hậu Lê, Đại Nam nhất thống chí ghi ngắn gọn: đói, đói to, sâu cắn lúa, người chết ngoài đường (không có người chôn)…, giống nạn đói chết 2.000.000 người năm 1945. Nạn đói 1976-1983 cũng kinh khủng tuy không có người chết đầy đường.

Theo cố học giả Nguyễn Hiến Lê, trong những thời kỳ không đói thì thực chất cũng chỉ no một nửa. Ông quan sát bữa ăn của người nghèo ở làng quê ông (Sơn Tây, năm 1928) chỉ được 1500 calori. No chưa tới một nửa theo tính toán khoa học. Đói và thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng sinh ra cái tệ dành ăn, cái tệ một miếng giữa làng, vì miếng ăn mà kiện tụng nhau đến tán gia bại sản, thù ghét nhau truyền đời. Tiểu thuyết Việc làng của Ngô Tất Tố miêu tả sinh động cái thói giành ăn này.

Nguyễn Hiến Lê nhận xét: ”Tự Lực Văn Đoàn và Ngô Tất Tố chế diễu tàn nhẫn, truy nguyên tới cùng thì tại dân quê thiếu thịt, thiếu protéin. Trong Nam dân quê không quá nghèo, vài chục năm trước có rất nhiều tôm cá, rùa, chim… nên không thèm thịt như dân quê Bắc, Trung, không có những tục, những thói xấu kể trên. Nay đã khác rồi. Từ sau 1975, cán bộ Bắc đem vô đây thói mỗi chút mỗi “liên hoan”, họp nhau ăn uống, chắc cũng vì thiếu protéin. Nghe nói ở Bắc có nơi chỉ đặt một trạm bơm nước vô ruộng mà từ khi dự định đến khi hoàn thành, mổ hết 100 con heo”. [Nguyễn Hiến Lê-Hồi ký-NXB Văn học -1993]. Cái nhìn đó vừa khoa học vừa nhân hậu, thông cảm với cái đói nghèo triền miên của dân Việt chủ yếu là nông dân đã hàng nghìn năm. Cố học giả Nguyễn Hiến Lê còn thấy ở quê ông, nông dân do nghèo nên đói, do đói nên bịnh tật liên miên. Bịnh nhưng không có thuốc, người bệnh trùm chiếu chịu đựng vài ba ngày, nhờ trời mà hết bịnh thì tiếp tục sống, rủi thì chết. Nghèo đói, bịnh tật không thuốc men, cuộc sống hàng ngàn năm cứ một kiểu như vậy mà vẫn còn nông dân ở nông thôn, thật là kỳ. Câu hỏi đặt ra là: Thứ xiềng xích nào cầm chân người nông dân ngủ yên sau lũy tre làng? Thứ xiềng xích nào trói chân, trói tay dân tộc Việt nam không tiến lên được?

(Xin xem tiếp phần 2 trong số này)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét