Thứ Bảy, 24 tháng 7, 2021

Lê Thiệp: Nhà Báo Nông Dân

Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi :

- Xếp có dính dáng đến Duy Dân không?

Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói :

- Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái.

- Xếp là nhà báo.

- Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân.

Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi nhạc hơn thằng Duy và giỏi tiếng Pháp hơn ông Khiêm.” Ông Hoàng Hải, nhạc sĩ trong ban Tam Ca AVT rất nổi tiếng của Lữ Liên, là anh ruột của chuẩn tướng Không Quân Lưu Kim Cương.

Nay nếu người xếp của tôi bảo ông là nông dân thì tôi cũng chỉ biết cười tự hỏi người cầm chịch tờ Chính Luận ngày ngày đối phó với dư luận lại phải điều khiển những ông nhà báo coi trời bằng vung như các ông Phan Nghị, Hồng Dương, Thanh Thương Hoàng hay phải chạm mặt với những văn nghệ sĩ nổi danh như Hoàng Hải Thủy, Văn Quang và đối mặt với những ông như Cao Dao, Như Phong hoặc cả lô trí thức khoa bảng thì liệu ông ta có phải là một anh nhà nông không? Câu trả lời là cả một quá trình.

Tôi gặp ông lần đầu tiên vào khoảng tám giờ sáng khi đến xin việc tại tòa soạn Chính Luận. Quang cảnh tòa soạn vào giờ báo lên khuôn như một cái chợ vỡ và chỉ sau này tôi mới biết đó là lúc gay go nhất. Ông đang lui cui chúi mũi vào một tập bản thảo ngẩng lên nhìn tôi hỏi:

- Thế ông học đến đâu rồi?

Câu hỏi bất ngờ và có vẻ khó chịu khiến tôi dở giọng du côn :

- Thưa cũng vầy vậy thôi. Tôi không rõ phải học đến đâu thì mới được vào làm báo Chính Luận.

Hình như ông đang chú tâm vào công việc nên cũng chẳng trả lời mà nhặt hai bản tin teletype rơi vãi đưa cho tôi bảo :

- Ông thử dịch cái này.

Tôi lóng ngóng ngồi xuống một cái ghế nhìn quanh nhìn quẩn hỏi :

- Thưa ông, tôi có thể xin một tờ giấy trắng không?

Ông cầm bản in teletype lòe nhòe lật mặt sau bảo :

- Ông cứ viết vào đây được rồi.

Đó là một bản tin AFP và một bản AP. Hai bản tin không dài lắm và khi tôi bí một chữ thấy cả chồng tự điển thì hỏi :

- Thưa ông, tôi có thể dùng tự điển không ?

Ông đẩy mấy cuốn tự điển ra trước mặt tôi không nói năng gì, lui cui làm viêc. Khi dịch xong tôi đưa, ông không hề liếc mắt, cầm bản dịch bỏ trong ngăn kéo, bảo :

- Mai ông đến nhá.

Khó mà tưởng tượng một cơ quan ngôn luận uy tín như Chính Luận lại có cung cách tuyển người như vậy. Tôi bước xuống chiếc cầu thang tối om ở đường Lê Lai nghĩ chắc ông nhà báo lớn này giễu tôi cho vui. Hôm sau, ông anh rủ đi Mộc Hóa chơi, tôi bèn làm một chuyến xuống thăm bà chị cả và lũ cháu, không tơ tưởng đến vào làm phóng viên cho tờ báo mà tôi vẫn ngưỡng mộ.

Khoảng hai tuần sau khi trở về, vào một buổi chiều, tôi mò đi gặp anh Nguyễn Trọng của tờ Tự Do cũng với toan tính xin việc và nhân đi qua tôi tự nhủ “Tại sao không vào hỏi xem sự thể thế nào.” Khi vừa thò đầu vào thì tòa soạn vắng tanh chỉ có hai ba ông đang ngồi. Vừa nhìn thấy tôi, ông Thái Lân hôm trước khác hẳn, tươi cười bắt tay tôi, ân cần mời tôi ngồi bảo :

- Thế ông đi đâu mà hôm nay mới ghé. Ngày mai đi làm được không ?

Trời đất ơi, thế này là thế nào? Tôi như từ trên trời rơi xuống, dạ lia dạ lịa.

- Chúng tôi làm việc sớm, năm giờ sáng đã bắt đầu rồi. Ông muốn làm phóng viên thì phải làm quen với mọi việc trong tòa soạn trước đã, rồi từ từ tính.

Cái mà ông bảo làm quen với mọi việc đó khiến tôi đi từ người sửa tin xe cán chó, viết lại bản tin lem nhem của ông Phúc tòa án, đọc những tin bá cáo của Cảnh Sát đô thành và đủ thứ tin câu cú không thành câu cú của ông Văn Đô để đăng vào mục Từ Thành Đến Tỉnh. Hai tháng sau, ông lôi tôi khỏi mục xe cán chó này, bảo từ nay tôi chuyển sang ban dịch thuật.

Thực ra, tôi đọc nhiều hơn là dịch. Mỗi buổi sáng tinh mơ, ông Kiếm đến VTX mang về một chồng bốn bản tin viễn ấn UPI, AP, Reuter và AFP. Nhiệm vụ của tôi là đọc thoáng qua cái nhập đề (tiếng báo chí là lead ) tất cả tin của các hãng này phân loại ra và xếp lại cho có thứ tự coi xem tin nào lớn tin nào nhỏ. Như vậy có nghĩa tôi phải tới rất sớm để đọc trước rồi sau đó tường trình vắn tắt chuyện gì xảy ra trong ngày cho ông Thái Lân liệu định.

Lúc đầu tôi cũng lao đao lận đận với công việc này vô cùng. Trước hết là phải dậy sớm để đến tòa soạn cỡ chưa đến năm giờ sáng, sau đó là toét mắt ra đọc. Những bản tin viễn ấn do VTX thầu in lại bằng chất hóa học khỉ gì không rõ sặc mùi cồn và chữ màu tím lòe nhòe rất khó đọc cho nhanh. Nhưng rồi cũng qua, chỉ dộ hai tháng sau tôi nắm vững mọi thứ. Phải nói là mọi thứ tin tức từ chiến sự chỗ nào đang đụng lớn, cuộc hành quân nào đang tiếp diễn và mọi chuyện trên trời dưới biển ở khắp thế giới, chuyện chính trị Mỹ, chuyện tả phái Tây hay

những chuyện lằng nhằng ở Trung Đông. Mãi sau này, tôi mới nghiệm ra chính những lúc tờ mờ sáng ngồi cạnh ông là lúc tôi học hỏi nhiều nhất.

Tin tức thường được ghi nhận liên tục từng giây phút một và chỉ một tin nào đó có thể bốn hãng tin cùng loan một lúc với tin sơ khởi và sau đó là những chi tiết được bổ túc. Mỗi buổi sáng tinh mơ ông lò dò đến có lẽ chỉ sau tôi nhưng chắc chắn là trước những ông làm tin và câu hỏi bao giờ cũng là “Hôm nay có gì lạ không?” Câu hỏi rất tầm thường nhưng là cả một thách đố với tôi. Phải có cái nhìn bao quát mọi việc diễn ra hàng ngày với con mắt báo chí. Phải phán đoán nhanh cái gì là chính cái gì là phụ. Đôi khi phải nhìn sau sự kiện và đôi chiếu với quá khứ mới hiểu tại sao. Từ đó mới biết để lượng định tình hình trong ngày ngõ hầu trình bày tin tức với người đọc sao cho chính xác và hấp dẫn. Vốn ngoại ngữ của tôi có lẽ đong không đầy lòng bàn tay nhưng chính thời kỳ này tôi lờ mờ thấy mình đọc nhanh hơn, dễ hơn. Mấy cuốn tự điển chỉ có tôi dùng và sau một thời gian tất cả bươm ra.

Một hôm, trong lúc buổi chiều rỗi việc ông hỏi tôi “Ông thấy News Week với Times tờ nào hay hơn.” Tôi nghĩ sao thì nói vậy “Tôi thấy News Week viết có góc cạnh hơn và nhiều tính tin hơn trong khi Times thì đào sâu và hơi bảo thủ.” Ông gật gù và hỏi về nhà, tôi có làm việc thêm không, tôi hiểu lầm rằng tôi có làm thêm việc gì để kiếm tiền không nên trả lời không. Ông ngạc nhiên, nhỏ nhẹ nói “Tối nào tôi cũng phải đọc thêm đến hai ba giờ sáng. Làm báo mà không chịu học thì khó mà tiến được.” Tôi thấy hôm nào ông cũng ôm cả chồng báo ngoại quốc về nhà nên không ngạc nhiên. Trong khi đám bạn bè cùng ra nghề đã đi săn tin thì mỗi sáng tôi lại lủi thủi thức dậy, lóc cóc đến Ngã Sáu Sài Gòn tạt vào tiệm hủ tíu Tàu làm một ly xây chừng và chính trong dịp này tôi được làm quen với ông Trần Việt Sơn. Tuổi tác chênh lệch và tiếng tăm của ông nên dù ông bảo “Thôi, anh em đi”, nhưng tôi không dám và luôn luôn gọi ông là Bác. Ông Sơn lúc đó làm tin quốc tế cho tờ Tự Do, tòa soạn ở cạnh Chính Luận. Tôi và vị ký giả đàn anh đó mỗi sáng xà vào tiệm hủ tíu Tàu giữa lúc tờ mờ sáng gọi một ly cà phê bít tất nóng sủi bọt và một cái xíu mại. Hai bác cháu đổ cà phê ra dĩa, bưng dĩa lên húp từng ngụm nhỏ như những bác xích lô và những người lao động khác trước khi đến tòa soạn để vật nhau với tin tức. Vóc dáng của ông Sơn khiến ai không biết thì khó nghĩ ông là một nhà báo và hơn nữa là một người hoạt đông cách mạng. Tóc ông phủ gáy, dáng hiền lành, ăn nói nhỏ nhẹ. Sau 1975, tôi nghe loáng thoáng rằng ông có thể bị bắt nên tìm đến nhà ông ở đường Hai Bà Trưng để báo động. Khi mở cửa nhìn thấy tôi, ông không mở hẳn mà nói rất vắn tắt “Cám ơn anh nhưng anh đi ngay đi đừng vì tôi mà mang họa.” Ông khép cửa không nói gì thêm. Tôi nghe nói sau đó ông chết trong trại tù. Từ một thư sinh mặt trắng tôi bỗng ngồi với những người mà thực ra cả đời tôi không bao giờ mơ tưởng sẽ là đồng nghiệp của tôi. Hãy nói về ông Nhượng. Tôi gọi ông là tự điển sống vì khi dịch gặp chữ bí, lười tra tự điển tôi quay sang hỏi “Bác ơi chữ này nghĩa là gì.” Ông giảng chữ này gốc La Tinh là thế này nhưng khi sang tiếng Pháp thì đổi ra sao và đến tiếng Anh lại có nghĩa khác. Ông Nhượng là tác giả bài Tà Áo Văn Quân và có lẽ vì đi dậy học từ lâu nên khi nói gì cũng nói tới nơi tới chốn. Một lần sau khi công việc đã vãn, tôi hỏi ông về hát chèo và tò mò tại sao các cụ lại mê cái bộ môn sân khấu khó hiểu này. Ông Nhượng bèn giảng cho tôi và để dẫn chứng ông nhảy hẳn lên bàn, đóng vai Quan Công. Ông dùng cái chổi phất trần làm ngựa và cất giọng sang sảng làm cả tòa soạn trố mắt ngạc nhiên. Ông lúc đó đã khá lớn tuổi, răng thì lung lay, hơi móm nữa nhưng giọng hát chèo và những bộ dạng, động tác của ông khiến tôi như đang ngồi nghếch mắt ở sân đình thuở nhỏ xem hát chèo vào những dịp tết.

Những đàn anh quanh tôi mỗi người là một cá biệt như ông Lê Văn Anh, người đã cho tôi chữ húy là Do Hoan trích từ câu chữ Hán “Chước tham tuyền nhi giác sảng. Xử hà diệc nhi do hoan.” Nguyên khi Nixon sang Tàu, có một số hình chụp trong đó có biểu ngữ bằng chữ Tàu và khi phải viết lời chú thích tôi bí, hỏi thì ông Anh dịch ngay “Hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ” và giảng câu đó ở trong Luận Ngữ. Thấy ông giỏi chữ Nho, tôi hỏi về thơ Đường và hôm sau ông đem đến cho tôi cuốn Thơ Đường của Trần Trọng San bảo đọc. Từ đó thỉnh thoảng ông lại dạy tôi một bài thơ và ban cho tôi cái tên húy Do Hoan với nghĩa rằng dù lâm vào lúc cùng túng mà lòng vẫn vui. Tôi chưa bao giờ ký Do Hoan nhưng cả đời tôi, tôi vẫn tâm niệm phải sống như lòng mong mỏi của người đàn anh này.

Rồi còn ông Lưu Duyên Hoàng Hải vừa là nhà báo vừa là nghệ sĩ trong ban AVT nhưng thật khó hình dung giữa một ông Lưu Duyên cặm cụi hiền từ với ông ca sĩ Hoàng Hải ôm cây đàn nguyệt hát “Ba bà đi bán lợn con…” đầy nét trẻ trung nghịch ngợm trên sân khấu. Sau 1975, một lần gặp lại, ông hỏi tôi có nhớ Lâm Thao không và khi biết chúng tôi thân nhau ông kể một chuyện vui “Bây giờ nó phải gọi tôi là bố chứ không anh anh em em như ngày xưa.” Nguyên khi di cư vào Nam, ông có một người con gái còn nhỏ bị kẹt lại không ngờ có một gia đình nhận cô bé làm con và đem theo vào Nam. Hai bố con không hề biết để liên lạc lại cho đến sau 1975. Cô bé đó lớn lên ở miền Nam và lập gia đình với Lâm Thao là phóng viên đài phát thanh quân đội.

Khi kể chuyện này ông cười bảo tôi “Lâm Thao lần đầu tiên gọi tôi bằng bố có vẻ lúng túng tệ”. Ông Đặng Văn Sung là người Nghệ An và tòa soạn Chính Luận có lúc được dân làng báo coi là báo của mấy anh Xứ Nghệ, có lẽ vì hai ông Võ Xuân Đình và Đậu Phi Lục. Hai ông này đều theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn của Việt Minh, đều là bộ đội chính qui nhưng ngay sau đình chiến đã bỏ ngũ và di cư vào Nam. Có thể vì hiểu Cộng Sản nên họ là những người ghét Cộng Sản đến tận xương tận tủy. Ông Đình kể cho tôi một chuyện mà mãi đến sau 1975 tôi mới hiểu và thông cảm hơn.

Nguyên khi bỏ trốn về Hải Phòng tìm cách đi Nam, ông tạm trú tại nhà một người quen và buổi sáng khi họ pha cà phê thì bên cạnh có để một hộp sữa đặc. Ông Đình kham khổ quá lâu, nhìn hộp sữa cầm lòng không được, mắt trước mắt sau không thấy ai đã cầm hộp sữa hút một hơi hết nhẵn. Sau này, tôi đã thấy đứa em con ông chú là bộ đội uống bia pha với cả nửa lon sữa đặc mà không ngạc nhiên vì nhớ đến ông Đình.

Tờ mờ mỗi sáng, ông Thái Lân phân phối công việc và ai nấy cặm cụi. Tôi chưa thấy trong cái tập hợp nho nhỏ đó ai to tiếng với ai và mọi người đều coi trọng nhau khiến tôi cũng không dám ba hoa khi thấy những người đáng tuổi cha chú vẫn gọi tôi là ông mặc dù tôi luôn luôn thưa anh, thưa bác. Tôi vẫn nghĩ chính trong hai năm đó tôi học hỏi rất nhiều và phải chăng cuộc đời, cách suy nghĩ và hành xử của tôi phần nào được hình thành trong khoảng thời gian này, nhất là ảnh hưởng từ ông Thái Lân?

Nhưng khi chuyển sang làm phóng viên săn tin thì mọi chuyện khác hẳn. Nó nhộn nhịp ồn ào sống động hạp với tuổi trẻ của tôi hơn, nhất là không còn phải dậy sớm nữa. Xếp trực tiếp của tôi là anh Thanh Thương Hoàng. Anh Hoàng thấy tôi lúc nào cũng ăn mặc lôi thôi lếch thếch, tóc thì phủ gáy nên gọi tôi là hippy Thiệp và sau đó thành thằng Híp.

Phóng viên Chính Luận khá đông gồm Trần Nguyên Thao, Phương Thúy, Đường Thiên Lý, Lê Phú Nhuận, Duy Sinh, Nguyễn Sĩ Yên, Tâm Chung, Văn Chi… mỗi người được phân phối săn tin một lãnh vực riêng nhưng cái vui nhất là không có chuyện kiểm soát hay phải có bài có tin hàng ngày.

Từ khi không phải mỗi sáng lò mò toét mắt đọc teletype, liên hệ giữa tôi với ông Lân chuyển sang một hình thái khác. Mặc dù do anh Thanh Thương Hoàng điều động, lâu lâu ông Lân cũng hỏi và rất nhiều lần ông chỉ cho tôi manh mối nguồn săn tin, nhất là dặn dò về những gì quan trọng đằng sau tin xảy ra. Đôi khi tôi hung hăng quá thì ông chỉ cười hoặc lẳng lặng không nói năng gì. Một kỷ niệm khó quên cho thấy cá tính của ông.

Nguyên khi có cuộc tranh cử vào Quốc Hội Lập Hiến, tôi viết bài tường thuật cuộc nói chuyện của đối thủ tranh cử của ông Sung. Bài viết hình như có hơi ca tụng nhân vật đối thủ của ông Sung — tôi nhớ là Hồ Ngọc Cứ — và khi báo ra thì ông Sung gọi tôi vào vẻ mặt giận dữ “Việt Cộng có phá tôi thì cũng chỉ đến thế này.”

Thú thật, tôi mặt nghệt ra và ngượng chín người, nhưng lanh trí biện bạch “Viết tin xong tôi có trình tòa soạn và quyết định đăng hay không là do tòa soạn.” Ông Thái Lân có mặt ngay đó lên tiếng “Lỗi ở tôi. Tôi nhờ Thiệp lo tin này và sơ ý không đọc kỹ, vả lại lúc đó báo lên khuôn vội quá.”

Cung cách của ông là như vậy. Nếu cần, ông sẵn sàng nhận trách nhiệm. Ông không buộc ai phải thế này thế nọ mà chỉ lẳng lặng hành xử. Không bao giờ to tiếng với ai, ngay cả nhiều trường hợp nếu gặp người khác thì thái độ e khó giống ông. Một lần tất cả nhân viên ký giấy đòi tăng lương và khi mọi người đã ký chừa tên ông trên đầu. Ông lắc đầu không ký, chỉ thản nhiên cầm bản chữ ký bỏ vào ngăn kéo. Tòa soạn xầm xì khá lớn để ông nghe thấy “Đồ hèn, phản bội anh em.” Có một ông còn nửa đùa nửa thật nhái thơ Dương Khuê “Bác Lân thôi đã thôi rồi. Lương cao bổng hậu bác xơi một mình.”

Ông ngậm hột thị làm thinh. Không khí căng thẳng cả hai tuần lễ. Anh Thanh Thương Hoàng với chức Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả hậm hực ra mặt.

Cuối tháng bỗng mọi người được tăng lương theo đúng đòi hỏi và không ai nói năng gì nữa. Tôi cũng tức anh ách vì thái độ của ông nên hỏi thẳng “Tại sao Xếp không ký?” Ông nhẹ nhàng bảo nếu ông ký thì cũng chỉ là một người bất mãn đòi tăng lương. Ông không ký mà chỉ nhân danh tất cả anh em tòa soạn mời ông Sung đi ăn, trình bày hoàn cảnh khó khăn của mọi người. “Phải biết mình biết người. Ông Sung không phải là người chịu khuất phục trước áp lực, nếu tôi không bình tĩnh thì sự thể chả ra thế nào cả, có khi lại nát bét.”

Vụ này chỉ vì tôi hỏi, ông mới nói ra cho mình tôi nghe. Vào một buổi chiều, tôi đang lúi húi viết lách thì thấy ông khi cúi xuống nhặt tờ giấy bỗng cứ khom người không đứng dậy được. Tôi đỡ và dìu ông xuống ghế lo lắng hỏi. Một lúc sau, ông mới nhỏ nhẹ “Tù ông ạ! Việt Minh nó đánh.”

(Còn tiếp một kỳ)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét