Thứ Bảy, 5 tháng 6, 2021

Nguyễn Đức Tường: Vệ Sinh Chủng Tộc

Cách đây 17 năm *, ngày 19 tháng Giêng 1989, Philippe Rushton, giáo sư tâm lý học của trường Đại Học Western Ontario, Canada, đã trình bày trước Hiệp Hội Hoa Kỳ về Tiến Bộ Khoa Học – American Association for the Advancement of Science (AAAS) – tại San Francisco, một bài khảo cứu có tựa đề “Tiến Hóa Sinh Vật và Đặc Điểm Di Truyền (Liên Quan tới những Khác Biệt giữa Dân Á Đông, Da Trắng và Da Đen)” – Evolutionary Biology and Heritable Traits (With Reference to Oriental-White-Black Differences). Bài thuyết trình đã làm thay đổi đời sống của ông ta và gây một chấn động trong giới trí thức và nghiên cứu.

Trong bài thuyết trình, Rushton kiểm điểm lại những khảo cứu đã được in trong các tạp chí nghiên cứu, đưa đến một kết luận dè dặt rằng, tính trung bình, người Á Đông trưởng thành chậm, ít năng động tình dục, có bộ óc lớn và chỉ số thông minh IQ cao hơn người Phi Châu. Còn người da trắng thì ở giữa hai nhóm sắc tộc trên. Rushton nói tiếp hệ thống tam tài về chủng tộc này có nguồn gốc không những chỉ ở sức mạnh về kinh tế, văn hóa, gia đình và môi trường sống mà còn về tiến hóa di truyền, liên hệ tới gene, mạnh hơn là khoa học xã hội chính thống đã xác định.

Giả thuyết của Rushton làm ban tổ chức của AAAS choáng váng. Trong cuộc họp báo để tách họ ra khỏi giả thuyết trên, tiến sĩ Walter Massey, phó chủ tịch nghiên cứu tại Đại Học Chicago, chủ tịch của AAAS, nói, như một nhà tâm lý học, Rushton có khả năng cao và, do đấy, các nhà nghiên cứu tham dự hội nghị tùy nghi rút tỉa kết luận. Ông nói tiếp AAAS không khóa miệng bất cứ một ai, nhưng riêng chính ông, ông thấy bài viết mang lại ưu phiền và kết luận của nó “đáng nghi ngờ đến cao độ.” Rất nhanh chóng, trong hàng ngũ kinh viện, Rushton trở thành một kẻ cầu bơ cầu bất.

Nhưng những phiền toái cho Rushton mới chỉ bắt đầu. Trở về nhà ở London, Ontario và công việc giáo sư tâm lý ở Đại Học Western Ontario, ông được tiếp đón bởi những náo động mỗi lúc một tăng trưởng. Tờ báo có uy tín lớn phát hành trên toàn quốc, The Globe and Mail, với hàng chữ đậm ở trang nhất: “Canadian Professor Provokes Uproar With Racial Theories”; tờ báo lắm độc giả Toronto Star : “Theory Racist: Prof Has Scholars Boiling”; còn tờ London Free Press: “UWO Professor Denies Study Was Racist.” Từ báo chí cho đến những nhóm tích cực hoạt động xã hội, họ kêu gọi đại học phải sa thải Rushton vì đã khuyến khích căm thù. Đài truyền hình loan truyền lý thuyết với ảnh của Rushton chồng trên phim ảnh lực lượng xung kích Nazi. Cứ như vậy, mỗi ngày một lớn, giới truyền thông bỏ quên những dè dặt, những điều kiện đề ra trong lý thuyết và, chẳng mấy chốc, tên Rushton dính liền với những kinh hoàng của Holocaust.

Hai tuần lễ sau buổi thuyết trình, thủ tướng của chính phủ tỉnh bang Ontario tuyên bố lý thuyết của Rushton “đáng ngờ đến cao độ” và có thể phá hoại “một xã hội dựa trên nền tảng cơ hội đồng đều cho tất cả mọi người.” Ông điện thoại cho chủ tịch trường đại học nói, mặc dù ông hiểu và ủng hộ quan niệm tự do của người nghiên cứu, trong trường hợp này cần phải có sự sa thải để cảnh báo, cho xã hội biết rằng cách nhìn về chủng tộc đó “thật đáng kinh tởm.” Và vì đại học không chịu sa thải Rushton, ông thủ tướng gọi Cảnh Sát Tỉnh Bang điều tra xem ông giáo sư có phạm vào tội hình sự (tội ác gây căm thù, có thể bị phạt tù đến hai năm) nào không? Sau sáu tháng điều tra, ông bộ trưởng Tư pháp không đem ông giáo sư ra tòa, nói khảo cứu “điên rồ (loony) nhưng không phạm pháp.”

Đối ngoại, đại học giữ vững lập trường về sự tự do của người nghiên cứu. Trong một buổi họp báo, ông chủ tịch khẳng định rằng không có chuyện điều tra, hay chuyện tạm cho nghỉ việc và Rushton có thể theo đuổi bất cứ nghiên cứu nào mà ông ta muốn. Đối nội, Rushton đã trở thành đối tượng của một cuộc săn bắt. Bà khoa trưởng, một nhà nhân loại học, tuyên bố Rushton đã mất hết uy tín về khoa học; bà tấn công trên mặt báo, cả con người lẫn công trình khảo cứu. Bà viết, “Có chứng cớ nào cho việc xếp hạng về sự tiến hóa của các chủng tộc này hay không?” – “Không,” bà tự trả lời. Bà rất cẩn thận nói đó là ý kiến chuyên môn của riêng bà chứ không phải của đại học.

Nhưng tất nhiên không mấy ai dám coi nhẹ ý kiến của bà khoa trưởng, nhất là mấy vị chức sắc dưới quyền bà. Trong suốt mười hai năm dạy học, Rushton luôn luôn được xếp hạng “tốt” hoặc “ưu tú” trong việc xếp hạng hàng năm; lần này ông được phê “xoàng” vì “thiếu nhạy cảm.” Với điểm phê này, Rushton dễ có thể bị sa thải. Ông phản đối qua nhiều cấp bậc, trưởng ban rồi đến khoa trưởng. Vì bà khoa trưởng đã bầy tỏ ý kiến của bà trên mặt báo, Rushton xin bà tự loại mình ra ngoài. Bà không chịu. Sau sáu tuần, bà viết một lá thư dài bảy trang cho biết quyết định của bà, phỉ báng độ “nhạy cảm” cùng tinh thần (vô) “trách nhiệm” của Rushton và hỏi có bài khảo cứu nào ngoài bài viết của Rushton xác minh cách nhìn về chủng tộc đó không? Rushton tự vệ bằng cách viết thư cho nhiều đồng nghiệp trên thế giới và nhận được trên 50 lá thư ủng hộ trong đó có nhiều thư xác nhận những chứng cớ mà ông đã trình bày. Bà khoa trưởng điên lên, nhưng rồi mãi mãi Rushton cũng thắng qua hai ủy ban khiếu nại, và ông ta được xếp hạng lại là “tốt” và “ưu tú.”

Trong khi đó, nhiều phần tử cấp tiến tích cực và một số sinh viên da đen biểu tình phản đối; viện lý do an ninh, đại học không cho Rushton vào giảng đường, buộc ông phải diễn giảng bằng videotape. Lại khiếu nại, sau một khóa, Rushton được quyền trở vào diễn giảng trực tiếp trong lớp học.

Những chuyện làm phiền nhiễu vẫn còn tiếp tục. Thí dụ năm 1995, Quan Thuế Canada giữ lại cuốn sách Race, Evolution, and Behavior của Rushton, xuất bản ở Hoa Kỳ, được nhập cảng về Canada, để điều tra xem có phải là tài liệu tuyên truyền gây căm thù hay không? Quan Thuế Canada chỉ trả lại sách sau chín tháng “điều tra.” Ngày nay, thỉnh thoảng người ta vẫn còn nhắc đến cuộc tranh luận năm 1989 trên đài truyền hình CBC giữa Suzuki và Rushton (bạn đọc có thể vào xem trên Internet ở địa chỉ http://archives.cbc.ca/IDC-1-74-663-3727/people/david_suzuki/clip5).


*

David Suzuki là một nhà di truyền học nổi tiếng. Ông là giáo sư tại Đại Học British Columbia, có nhiều chương trình khoa học rất ăn khách trên truyền thanh và truyền hình ở Canada và khắp thế giới. Suzuki thách thức Rushton tranh luận trên đài truyền hình. Ngoài khả năng chuyên môn rất cao về di truyền, Suzuki còn là một chuyên viên có hạng về truyền thông; lẽ dĩ nhiên, Rushton không có nhiều hy vọng, nhất là khi lại trước một cử tọa thù địch. Ta hãy nghe Suzuki hùng biện trước những tiếng hoan hô, vỗ tay của cử tọa: “I did not want to be here. I do not believe that we should dignify this man and his ideas in public debate. His claims must be denounced, his methodology discredited, his grant revoked and his position terminated at this university. This is not science.”

Suzuki thường được coi là đã thắng trong cuộc tranh luận. Nhưng nhiều người phê bình Suzuki đã tấn công con người Rushton nhiều hơn là khoa học Rushton, với sự trợ giúp của một đám đông. Sự việc này cùng những tấn công tới tấp Rushton tương tự đến từ mọi phía khiến tôi nhớ đến một chuyện khác, cũng liên quan đến chủng tộc, nhưng trong một hoàn cảnh trái ngược hẳn.

Đầu thập niên 1960, tôi sang Hoa Kỳ, đến học ở Atlanta, Georgia. Atlanta là xứ sở của Scarlett O’Hara trong Cuốn Theo Chiều Gió, với những cô gái miền Nam, má hồng chín mọng, nổi tiếng là đẹp gọi là những “quả đào Georgia” – Georgia peaches. Nhưng đây cũng là xứ sở của người da đen – gọi là negro chứ không là black hay Afro-American như ngày nay – khi tôi đến, họ mới bắt đầu dám rụt rè lên ngồi ở phía đầu xe buýt (chỗ của họ trước kia là phía cuối xe buýt.) Tất nhiên Atlanta vẫn còn những quán ăn người da đen không được phép vào ăn. Pickrick là một cafeteria, quán ăn tự phục vụ thuộc loại này, chủ là ông Maddox.

Lester Maddox là một người phân biệt chủng tộc ghê gớm; ngoài chuyện đó ra hay có lẽ chính vì chuyện đó, ông đúng là một gentleman miền Nam, xuề xòa, tốt bụng, giọng nói hơi cao, cử chỉ nhanh nhẹn, nhẹ nhàng. Pickrick ở gần trường tôi học, thức ăn ngon, giá phải chăng, nổi tiếng với món đùi gà rán, nên sinh viên ngoại quốc – sinh viên “quốc tế,” theo cách nói thời đó – thường đến ăn đông. Kỳ thị là kỳ thị dân da đen, chứ còn đối với bọn sinh viên quốc tế chúng tôi – đại khái gồm Việt Nam, Do Thái, Pakistan, nhiều nước Nam Mỹ – như để nhấn mạnh điểm khác biệt, bao giờ Maddox cũng niềm nở. Ông thường đến ngồi cùng bàn nói chuyện thân mật; một lần, vui câu chuyện, ông gọi người làm mang bánh nhân hạt hồ đào – pecan pie – đặc sản của miền Nam, ra mời cả nhóm. Ông đặc biệt thích bông đùa qua lại với anh bạn người Pakistan có lẽ vì da anh đen nhất và trông rất sang: cao lớn, ria mép vểnh lên như David Niven, dáng đi oai vệ của sĩ quan hoàng gia (cưỡi ngựa cũng giỏi nữa, anh dậy tôi cưỡi ngựa), lại sang sảng nói tiếng Anh của Nữ Hoàng. Câu chuyện cũng có một lần chạm đến “kỳ thị chủng tộc,” một người hỏi Maddox tại sao người ta sẵn sàng, vui vẻ bán cho dân da đen chiếc xe hơi hai nghìn đô-la mà không chịu bán cho họ cốc cà-phê mười xu? Bí câu trả lời, ông cười xòa, vỗ vai nói, “Không sinh đẻ ở đây, các anh không hiểu được.”

“Con người ta sinh ra đều bình đẳng.” Câu nói nghe rất đẹp và cao quý, đứng xa mà nhìn. Ta đã biết điều đó đến cả trăm năm nay, “bình đẳng” là một danh từ trừu tượng, đem thực tế lồng vào tự nhiên có nhiều vấn đề, vì không thể bình đẳng “xuông” mà được. Nếu bình đẳng là có thể mua được một cốc cà phê mười xu ở cùng một chỗ như mọi người khác thì bình đẳng cũng không nhiều mà giá phải trả nhiều khi quá đắt; thí dụ như ba sinh viên hoạt động tích cực cho quyền bình đẳng bị hạ sát ở Mississippi, xác vất ở rạch nước bên cạnh đường. Năm 1964, Luật Quyền Công Dân (Civil Rights Act of 1964) ra đời làm thay đổi cục diện. Bạn cùng buồng của tôi, người Mỹ Do Thái, một phần tử đã cấp tiến lại càng thêm cấp tiến, càng niềm nở với các bạn da đen. Một hôm, trông thấy anh đón chào vồn vã một anh bạn da đen, tôi nói, “Ê, Mel, mày nên bắt tay nó một cách bình thường thôi, mày tiến lên ba bước như vậy làm nó lúng túng!” Mel đỏ mặt, chửi thề, “You bastard Vietnamese!” Chúng tôi nhìn nhau cười, bình đẳng.

Ông Maddox là một người Mỹ, tuy ít học nhưng rất am hiểu những quyền tự do của mình: tự do kinh doanh, tự do liên kết... Pickrick được xây dựng với vốn từ $400, tiền vợ chồng ông dành dụm được, và bởi mồ hôi nước mắt của cả gia đình gồm thêm bốn người con. Đó là một cơ sở thương mại gia đình và cũng là nhà của riêng ông và, vì vậy, Maddox nghĩ, tùy ý ông muốn tiếp ai thì tiếp.

Luật Quyền Công Dân 1964 không nghĩ như vậy, định nghĩa Pickrick là một cơ sở thương mại phục vụ công cộng và, vì vậy, ai vào cũng được. Ông đi kiện để chống lại điều luật này và đã thua kiện. Lúc đầu, có một lần Maddox cầm súng lục đứng trước cửa, ngăn không cho ba sinh viên da đen từ đại học Georgia Tech đến ăn, sau đó ông không tuân lệnh tòa án, tuyên bố với một nhóm sinh viên da đen khác, “Cho dù các anh có sống đến trăm tuổi, các anh cũng không bao giờ có được một miếng gà rán ở quán ăn này!”

Tôi nghĩ Maddox chỉ nói mạnh thôi, đến một lúc nào đó ông cũng phải hòa nhập, cho dân da đen vào ăn. Nhưng, không, ông nhất định chống lại. Để tượng trưng cho sự chống đối, Maddox để một đống cán rìu ở cửa tiệm, gọi là “đùi gà Pickrick” – Pickrick drumstick – bán $2 một cái. Nhiều người mua cán rìu hoặc để ủng hộ hoặc làm kỷ niệm. Nhiều đối đầu hay bạo động đã xảy ra ở Miền Nam; biểu tình tuần hành, ủng hộ và chống đối, với cảnh sát chống bạo động đứng giữa. Thống Đốc George Wallace của tiểu bang Alabama đứng ngăn không cho hai sinh viên da đen ghi tên nhập học; tòa án liên bang phải can thiệp, và Wallace chỉ đứng tránh sang một bên khi ông Phó Chưởng Lý xuất hiện cùng với cảnh sát liên bang. Rồi chuyện ba sinh viên bị giết ở Mississippi như kể ở trên... Tình hình mỗi lúc một căng thẳng, sôi sục. Bầu không khí nguy hiểm, ngột ngạt, khó thở, rắn đặc đến độ có thể cắt bằng dao. Phải có người thua, và người đó tất nhiên là Maddox.

Maddox tuyên bố đóng cửa quán ăn. Ông cho may một bao vải đen lớn rồi đem chụp kín lên ống khói lò sưởi của nhà hàng, với hàng chữ “LBJ đóng cửa quán ăn này.” LBJ là cố tổng thống Lyndon B Johnson. Là một chính khách xuất thân từ Texas, cố gắng cho thông qua Luật Quyền Công Dân là một hành động vô cùng quả cảm của tổng thống Johnson. Nhưng cái chụp vải đen trông như một sự chết chóc rùng rợn, một sức mạnh to lớn nghiền nát một sinh vật nhỏ bé. Có lẽ vì sinh trưởng ở một nước nhỏ bé, tôi thấy bất nhẫn, có một điều gì không phải. Bữa cơm sau cùng, trước ngày đóng cửa, lúc chia tay, tôi bắt tay ông Maddox, nói: “Thưa ông Maddox, tôi rất tiếc ông phải đóng cửa quán ăn, công lao bao nhiêu năm của gia đình ông. Ông biết quan điểm của chúng ta không giống nhau nhưng tôi rất kính trọng và quý mến ông. Và trong cuộc đối chọi không đồng đều này giữa ông và chính phủ liên bang, tôi cảm thấy có một cái gì rất vô luân.” Maddox nắm giữ tay tôi một lúc lâu, tỏ vẻ cảm ơn; miệng mấp máy nhưng không nói gì có lẽ vì xúc động.

Thêm: Năm 1966, Lester Maddox là ứng cử viên của đảng Dân Chủ, được bầu làm Thống Đốc tiểu bang Georgia, nhiệm kỳ 1967-1971. Theo hiến pháp tiểu bang, ông không thể ứng cử làm thống đốc nhiệm kỳ sau, nhưng ông ứng cử và trúng cử làm Phó Thống Đốc, với Thống Đốc tiểu bang lần này là tổng thống tương lai Jimmy Carter. Nhiều người, lo ngại rằng đại họa sẽ đến với tiểu bang Georgia nếu Maddox làm thống đốc, ngạc nhiên thấy Maddox rất cấp tiến. Ông là thống đốc đầu tiên cử người da đen vào nhiều chức vụ quan trọng; cải cách về hệ thống nhà tù của ông được người da đen rất mến phục. Maddox mất năm 2003, thọ 87 tuổi.

*

Trở lại câu chuyện Rushton. Rushton bị chỉ trích nặng nề bởi các nhà khoa học ở ngay trong phòng hội nghị. Làm sao mà ông ta có thể đi đến kết luận từ một trắc nghiệm về sự thông minh có tính cách thiên vị về văn hóa như thế? Hơn nữa, tại sao ông ta lại nghiên cứu về vấn đề đó? Tên Rushron trở thành một tính từ trong ngôn ngữ Canada. Và ông trở thành một giáo sư nổi tiếng nhất nước.

“Vệ Sinh Chủng Tộc” – racial hygiene (Anh), Rassenhygiene (Đức) – tựa đề bài viết này có lẽ sẽ làm một số bạn đọc giật mình, bị sốc. Thật ra, đó là một vấn đề rất cũ, bắt nguồn gần như từ ngay sau khi cuốn Origin of Species (1859) của Charles Darwin ra đời. Chủng tộc là một vấn đề được nghiên cứu trong nhiều ngành học: y học, tâm lý, sinh vật... ở khắp Âu Châu. Ernst Haeckel kết hợp thuyết tiến hóa với thứ “triết học tự nhiên” của Đức, đi đến kết luận chỉ những chủng tộc thích đáng nhất mới sống sót và chiếm ưu thế, và vì vậy phải trông chừng, giúp cho chủng tộc thích đáng nhất đó chống lại bệnh tật và suy thoái. Houston Stewart Chamberlain phát triển thêm chủ đề này, cho rằng chủng tộc Đức (hay đúng hơn Teutonic) bẩm sinh ở một trình độ cao hơn những chủng tộc khác và phải được coi là nền tảng của xã hội tiên tiến. Cũng theo chiều hướng đó, sự ưu sinh – eugenics – phép cải thiện di truyền của con người bằng cách gây giống chọn lọc, rất được chú ý và nghiên cứu ở nhiều nước.

Ta sẽ không ngạc nhiên thấy, rất nhanh chóng, vấn đề khoác thêm áo chính trị. Ngay đầu thế kỷ thứ 20, không ai khác hơn là ông vua thép và vũ khí Đức, Friedrich ‘Fritz’ Krupp, đã vận dụng thuyết tiến hóa để đưa đến những kết luận chính trị và xã hội. Krupp treo giải thưởng về nghiên cứu sinh vật nhưng giải thưởng đã được quyết định bí mật từ trước cho nghiên cứu khuyến khích sự tương đương giữa lịch sử chính trị và xã hội và ảnh hưởng của di truyền sinh vật.

Tất cả những nghiên cứu loại này đều có tiềm năng gây nên những xáo trộn lớn trong xã hội, nhưng dù sao chúng cũng vô hại nếu chúng tiếp tục chỉ ở trong phạm vi nghiên cứu, không được thêm những ảnh hưởng bên ngoài khác xen vào. Năm 1936, Alfred Ploetz, tác giả của quan niệm Rassenhygiene, ở tuổi 76, được Hitler cử giữ chức giáo sư ở Đại Học Munich. Theo ông, cũng vẫn theo thuyết tiến hóa, chọn lựa không thích đáng sẽ dẫn đến suy thoái. Chủ chốt của “Vệ Sinh Chủng Tộc” của Ploetz là sự e ngại rằng những người không thích đáng sinh sản nhanh chóng hơn những người thích đáng và có năng khiếu nhất; nói cách khác, cần có một sự kiểm soát nào đó. Ở lúc ban đầu này, Ploetz không phải là người bài Do Thái tích cực; thực ra, ông ta đã xếp hạng Do Thái chỉ ở dưới Aryan một tí và kể tên một số người tài Do Thái như Jesus, Spinoza và Marx để làm chứng. Ploetz tin rằng người da trắng có khả năng thích ứng với sự thay đổi khí hậu và địa hình hơn là người da đen. Ông ta tuyên bố sự thông minh của một người da trắng so với một người da đen cho cùng một sự tương phản như sự thông minh của một người da đen so với một con khỉ đột.

“Có thể có một chủng tộc bẩm sinh đã ở một trình độ cao hơn tất cả các chủng tộc khác.” A priori, không có lý do gì cấm phát biểu trên đúng (hay sai); nhưng chỉ ở nước Đức, với những định kiến và lý thuyết của họ, các nhà khoa học Đức Quốc Xã, cố cắm cái cọc vuông vào khít một lỗ tròn, đã cố chứng minh là giòng giống Aryan có trình độ cao nhất, và mới có các người lãnh đạo chính trị đủ cực đoan để cho thi hành những chính sách cực kỳ dã man như ta đã biết, khiến cho vấn đề chủng tộc trở thành vô cùng nhạy cảm và cấm kỵ, ít ai dám động đến nó.

Tháng Sáu 2005, Rushton (một lần nữa) và Arthur Jensen, giáo sư tâm lý Đại Học California ở Berkeley, đồng tác giả một bài khảo cứu dài 60 trang, đăng trên Psychology, Public Policy and Law, một tạp chí của Hiệp Hội Tâm Lý Hoa Kỳ. Trong bài này, hai vị học giả liệt kê mười loại bằng chứng, những yếu tố đã đóng góp cho sự cách biệt có thể đo được về trí thông minh giữa các nhóm chủng tộc, bao gồm cả những trắc nghiệm khảo cứu và nhà binh, kích thước của bộ óc và khảo cứu về con nuôi, để chứng minh luận điểm người Á Đông, như một tập hợp, đã tiến xa trong quá trình tiến hóa hơn người da trắng, và người da trắng hơn người da đen.

Theo tác giả, người ta không bàn cãi về sự cách biệt về IQ giữa các chủng tộc, mà chỉ bàn cãi về nguyên nhân của nó. Thực vậy, người ta đã tranh cãi nhiều về những nguyên nhân này. Vài người chê phương pháp trắc nghiệm, lý luận rằng họ đã dùng một khái niệm hạn hẹp phương tây để đo. Người khác nói thông minh không phụ thuộc nhiều vào di truyền mà vào những yếu tố chung quanh: nghèo khó, thiếu ăn, giáo dục của cha mẹ, kỳ thị, và cả phẩm chất của trường học nữa.

Thế nhưng, Rushton và Jensen nhấn mạnh rằng từ 50 đến 80 phần trăm những cách biệt IQ giữa các nhóm chủng tộc có thể giải thích được bằng gene, bởi sự thông minh di truyền bẩm sinh. Lý thuyết này, theo họ, có một hàm ý sâu sắc trong việc hoạch định những chính sách vì nó gợi ý xã hội phải chấp nhận rằng sự khác nhau giữa các nhóm chủng tộc luôn luôn thể hiện trong sự thành công về học vấn hay trong những đo lường quan trọng khác về “thành công.”

Cuối cùng, xã hội phải chấp nhận một thực tế là trong cùng một tầng lớp xã hội nhóm này có nhiều đại diện, nhóm kia có ít đại diện. Nói cách khác, những người hoạch định chính sách xã hội không nên tìm cách tạo nên sự đồng đều, bình đẳng giữa các nhóm sắc tộc – một điều không thể xảy ra được, theo Rushton – mà phải cố làm sao sống với sự khác biệt có tính cách thống kê này. “Bạn phải tuyệt đối chấp nhận rằng không thể có nhiều người Tàu trong một đội bóng rổ hay có nhiều người da đen trong đám học sinh tốt nghiệp trung học. Đó là một thực tế của đời sống. Nó không phụ thuộc vào việc bạn cố gắng thay đổi tiêu chuẩn, bạn không thể làm quân bình sự việc xảy ra, điều không thể xảy ra được,” Rushton đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn.

Rushton cũng nhấn mạnh sự việc đó không áp dụng cho cá nhân mà cho từng nhóm, vì “đến trẻ con ở lớp mẫu giáo cũng hiểu rằng tuy bình thường con trai cao hơn con gái, nhưng có nhiều cô con gái cao hơn những cậu con trai trung bình.”

Mặc dù vẫn gây gổ hơn bao giờ hết, những ý kiến mới của Rushton không gây nhiều phản ứng từ các khoa học gia cho đến chính trị gia, cảnh sát hay những người phản đối. Sự việc này khiến cho Rushton phải hỏi: Cái gì đã thay đổi? Tại sao những ý kiến của ông ta đã gây bao nhiêu tranh cãi cách đây 15 năm, bây giờ không khuấy lên được một chút sóng? Hay là mọi người đã chán ngấy ông ta? Hay là những tiến bộ của khoa học đã khiến cho lý thuyết của ông ta trở thành chính thống? Rushton nói ông ta muốn tin rằng những người phê bình ông đã bị những phát hiện khoa học mới trong bài viết làm cho im lặng. Tuy nhiên, ông ta không ngây thơ quá đỗi như thế. Ông ta nghĩ người ta lờ đi, quay mặt nhìn chỗ khác.

*

Khi đăng bài của Rushton và Jensen, tạp chí Psychology, Public Policy and Law đã làm một việc không bình thường là trong cùng số báo đó đã cho in thêm ba bài khác chống lại. “Lợi ích gì với thứ khảo cứu thực hiện bởi Rushton và Jensen?” Đó là câu hỏi của một trong những người phê bình, Robert Sternberg, nhà tâm lý học thuộc Đại Học Yale. Ông Sternberg nói thêm vấn đề mà Rushton và Jensen đã bỏ thì giờ nghiên cứu không có một giá trị nào cho ai trừ những kẻ hoài nghi – cynics – muốn dùng nó để kỳ thị. Ông hỏi, “Liệu khoa học có thực muốn cung cấp thứ vũ khí đó không?” Nhưng đó không phải là những câu hỏi hữu ích có tính cách khoa học. Phản ứng tương đối câm lặng như vậy trước bài khảo cứu thật ra không lạ lùng. Vào thập niên 1980, Rushton bị coi là thuộc loại trí thức hàn lâm thối tha; ngày nay, có một đội binh nho nhỏ những khoa học gia kiếm tìm, khám phá căn nguyên di truyền của trí thông minh và dị biệt về di truyền giữa những hậu duệ của giòng giống Phi Châu, Á Châu, Ấn Độ, Trung Đông, hay Âu Châu. Những khảo cứu đi theo nhiều đường hướng khác nhau mà một là dự án vĩ đại Human Genome Project, dự án này kiếm thấy mẫu hình DNA giữa những nhóm chủng tộc có đôi chút dị biệt.

Tháng Sáu 2005, tạp chí Journal of Biosocial Science đăng một bài khảo cứu của một nhóm khoa học gia thuộc Đại Học Utah; bài này gợi ý những người Do Thái Ashkenazi – người Do Thái giòng gốc Âu Châu – đã tiến hóa với khả năng trí tuệ được tăng trưởng qua phép chọn lọc tự nhiên. Những nhà khảo cứu này, dẫn đầu bởi chuyên gia về nhân loại học Henry Harpening, nhận thấy những người Do Thái Ashkenazi có chỉ số thông minh IQ cao hơn tất cả những nhóm sắc tộc khác; thí dụ so với nhóm người Âu Châu, chỉ số thông minh IQ thuộc loại “thần đồng” trên 140 của họ nhiều gấp hơn sáu lần. Albert Einstein, Sigmund Freud, Gustav Mahler và chừng một nửa số những nhà vô địch cờ vua trên thế giới thuộc nhóm những người Do Thái này. Ở Hoa Kỳ, người Do Thái Ashkenazi chiếm chừng 3% dân số nhưng được tới 27% tổng số giải Nobel trao tặng cho dân Mỹ.

Ông Harpending và đồng nghiệp kết luận rằng sự chọn lựa tự nhiên đã đóng một vai trò quan trọng làm tăng trưởng sức mạnh trí não của nhóm sắc tộc. Theo lý luận của họ, bao nhiêu nghìn năm bị kỳ thị đã xô đẩy người Do Thái vào những nghề nghiệp thử thách trí tuệ như chủ ngân hàng hay thương mại – nghề nghiệp khi ấy bị coi thường bởi những người theo Thiên Chúa giáo. Bởi vì những người Do Thái Âu Châu luôn luôn kết hôn trong cộng đồng của họ, và cũng bởi vì gia đình những thương gia lớn thành công thường đông con, sự chọn lựa tự nhiên dẫn đến những gene làm tăng trưởng thông minh trở nên bình thường. Các nhà khảo cứu cũng giả dụ thêm rằng chính những gene làm tăng trưởng trí thông minh cũng có thể là những gene đã đẩy tới những bệnh thần kinh như Tay-Sachs, thường xảy ra nhiều hơn trong nhóm sắc tộc này.

Cũng trong tháng Năm, một khảo cứu khác thuộc Đại Học Chicago được đăng trên tạp chí Science nói bộ óc tiếp tục tiến hóa nhanh chóng nhờ ảnh hưởng của hai gene liên hệ đến kích thước độ lớn của nó. Hơn nữa, bài khảo cứu này thấy rằng những gene này thường thấy nhiều hơn trong đám những sắc tộc Âu Châu hay Á Đông, nhiều hơn là nhóm Phi Châu dưới Sahara. Một lần nữa, lại thêm một kết luận khó chịu có hàm ý xã hội.

Có một thời các nhà di truyền học gần như đã sẵn sàng loại bỏ hoàn toàn chủng tộc ra khỏi khoa học, khiến cho Rushton lỗi thời. Đầu thập niên 1970, nhà di truyền học Richard Lewontin thuộc Đại Học Harvard lý luận rằng khác biệt về di truyền giữa các chủng tộc quá nhỏ, không có lý do gì người nghiên cứu phải xếp loại người ta ra đen, trắng và Á Đông. Tin tưởng của ông rằng chủng tộc “không có ý nghĩa sinh vật” được coi gần như một tín điều trong giới nghiên cứu.

Năm 2000, dự án Human Genome Project, với sức mạnh của một trận động đất lớn, đã làm đảo lộn cả thế giới sinh vật học, bắt buộc các nhà khoa học có một cái nhìn mới về di sản di truyền của nhân loại. Thoạt tiên, khảo cứu về DNA có vẻ như khẳng định lời nhắn nhủ của Lewontin về sự bình đẳng và tình huynh đệ giữa con người. Dự án khoa học lâu mười ba năm ấy nhận thấy rằng con người ta chung nhau đến 99.9 phần trăm di sản di truyền, chỉ có 0.01 phần trăm là khác nhau. Tất cả mọi người đều có cùng một cỗ gene cơ bản gồm ba tỷ những xếp đặt chuỗi chữ của gene, tất cả sự khác nhau giữa những cá nhân hay chủng tộc đều nằm ở trong con số rất bé nhỏ trong ba tỷ xếp đặt đó. Nhưng 0.01 phần trăm của ba tỷ là ba mươi triệu xếp đặt khác nhau, thiên nhiên tha hồ mà thao túng!

Rất oái oăm, đáng lẽ khảo cứu xem những gì khiến con người ta giống nhau, các nhà khoa học như nhảy chồm vào xem những gì khiến ta khác nhau. Thực sự, họ hành động với một mục đích cao cả: họ muốn tìm hiểu nguồn gốc di truyền của những bệnh tật như bệnh tiểu đường, cơn đột quỵ hay ung thư. Ta đã biết nhiều chứng bệnh không phân chia đồng đều giữa những nhóm sắc tộc. Thí dụ như bệnh thiếu máu di truyền nặng – sickle cell anaemia – thường thấy nhiều hơn ở nhóm người tổ tiên Phi Châu. Hemochromatosis, một rối loạn di truyền khiến cho cơ thể hấp thụ quá nhiều chất sắt, ít khi thấy ở người Ấn hay người Tàu, thế nhưng tới bảy phần trăm dân Thụy Điển mắc chứng bệnh này. Tương tự như vậy, tuy có một vài yếu tố khác ảnh hưởng như chế độ ăn uống hay cách sinh sống, những chứng bệnh như áp huyết cao, ung thư tuyến tiền liệt và suy thoái thận thường thấy ở người da đen nhiều hơn là da trắng.

Các nhà khoa học tin rằng khảo cứu về tương quan giữa biến đổi DNA và chủng tộc hay nhóm sắc tộc có thể đưa đến gene cơ động của căn bệnh, và từ đó đến trị liệu và việc sản xuất thuốc. Vì có nhiều người khảo sát liên quan giữa di truyền và chủng tộc, càng ngày càng nhiều người đi đến kết luận là ông Lewontin đã nhầm. Neil Risch, giám đốc Trung Tâm Di Truyền Nhân Loại (Center for Human Genetics) tại Đại Học California ở San Francisco, hiện nay được coi là một trong những nhà di truyền học hàng đầu thế giới, là nhân vật chủ chốt trong cuộc tranh luận đầy xúc động này. Risch lý luận rằng một khác biệt di truyền rất nhỏ đã tiến triển giữa các chủng tộc bởi sự biệt lập địa lý qua nhiều thế hệ của những dân Phi Châu dưới Sahara, dân da trắng, dân Á Châu, dân ngoài đảo Thái Bình và thổ dân Mỹ Châu. Trong một bài khảo cứu đăng trên Nature Genetics năm 2002, ông Risch cũng cho thấy, bằng cách phân tích DNA, các nhà khảo cứu có thể nói đúng đến 99.9 phần trăm thành phần chủng tộc của một cá nhân như được diễn tả bởi chính họ. Ông cũng nói về giới tính thì các nhà khảo cứu có thể đoán sai nhiều hơn.

Ngay cả Francis Collins, cựu giám đốc của Genome Project, cũng nhìn nhận điều này khi ông nói với Nature Genetics rằng có lẽ các nhà khảo cứu trong dự án đã nói quá mạnh về sự không đáng kể của liên hệ sinh vật học với chủng tộc. Tiêu điểm của cuộc tranh luận ngày nay dường như chuyển qua việc xếp loại những biến đổi di truyền. Những người như Neil Risch tin rằng chủng tộc là một phương pháp chính đáng, nhưng tất nhiên nhiều người khác lý luận rằng dùng chủng tộc là điều không cần thiết và gây nhiều xúc động. Dù sao chăng nữa, phần lớn những nhà khoa học ngày nay chấp nhận di truyền có đóng một vai trò trong sự biến đổi của con người, và một liên kết nào đó giữa di truyền và yếu tố môi sinh đã quyết định trí thông minh. Về điểm này, hai trong số ba người phê bình đã trả lời Rushton trong Psychology, Public Policy and Law cũng phải nhượng bộ. Thách thức nhiều hơn có lẽ là câu hỏi: sự cách biệt về IQ giữa dân Á Đông, da trắng và da đen cố định hay có thể thay đổi được? Làm sao để nâng cao chỉ số thông minh IQ của một nhóm và, quan trọng hơn, làm sao để cao trình độ thành tựu về học vấn của một chủng tộc hay một nhóm sắc tộc nào đó?

Theo Lisa Suzuki và Joshua Aronson, giáo sư tâm lý của Đại Học New York, lý thuyết của Rushton nguy hiểm ở chỗ nó hàm ý sự cách biệt về IQ giữa các chủng tộc hay nhóm sắc tộc hầu như không thay đổi được. Vì vậy, nó sẽ làm suy yếu những tác dụng xã hội như những hành động tích cực trong việc thuê người làm hay những chương trình giáo dục đặc biệt cho dân nghèo hay dân Mỹ da đen. Về phần Rushton, ông ta nói thành tựu học đường của người da đen có thể làm tốt hơn, và sự cách biệt về chỉ số IQ có thể làm giảm đi phần nào, nhưng không bao giờ có chuyện đồng đều. Rushton khẳng định rằng ngày nay ý kiến của ông ta gây gổ chỉ là vì chúng không phù hợp với tín điều tôn giáo và chính trị được nhiều người ưa chuộng, ấy là mọi người sinh ra đều bình đẳng. “Đó không là tin vui cho nhiều người, vì vậy, theo nghĩa đó, nó có tính cách gây gổ,” ông ta nói.

*09/2006

Tài liệu tham khảo:

Rushton, J Philippe: The New Enemies of Evolutionary Science, Liberty, Vol. II, No. 4, pp. 31-35 (1998);

Rushton, J Philippe: Race, Evolution, and Behavior: A Life History Perpective, 2nd Special Abridged Edition (2000);

Duffy, Andrew: Rushton Revisited (2005);

Kreisler, Harry: Conversations with History – Conversations with Richard C. Lewontin, Institute of International Studies, UC Berkeley (2003);

Gitschier, Jane: The Whole Side of It – An Interview with Neil Risch (2005).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét