Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2020

Hòa Đa: Chuyện Có Thể Xảy Ra

1.


Ông Tâm nằm trằn trọc, không ngủ được, mặc dù hồi đầu hôm, ông đã uống một viên thuốc ngủ.

Từ hơn một năm nay, Diễm, con gái duy nhất của ông, làm quen và đưa về giới thiệu với ông cậu Viên. Ông vừa ý lắm. Viên là một sinh viên Việt Nam, sang Mỹ học về ngành quản trị xí nghiệp. Ban đầu ông cũng biết Viên là sinh viên du học, nhưng Diễm chọn nó vì sau bao năm lớn lên ở Mỹ, tốt nghiệp đại học, Diễm vẫn không thể tìm được một bạn trai vừa ý. Có thể lối giáo dục của ông làm cho Diễm hơi khó tính trong việc chọn bạn. Thanh niên Việt Nam lớn lên ở Mỹ, Diễm cho là “Mỹ quá,” mà bạn Mỹ chính cống thì đúng chỉ là bạn thôi, nó nói không cảm được... Mà với Viên, thú thật ông cũng có cảm tình. Cởi mở và thành thật là hai đức tính ông nhận ra ngay từ những ngày đầu gặp mặt cậu thanh niên này. Càng về sau, qua những lần nói chuyện trong những bữa cơm gia đình, ông lại càng quí trọng Viên hơn vì những suy nghĩ chín chắn của nó về Việt Nam, về dân tộc. Hai thằng anh của Diễm có vẻ cũng ưa Viên, luôn có những ý kiến đẹp về nó. Chỉ có Liên vợ ông là không có ý kiến gì vì bà đã mất cách dây gần mười lăm năm, lúc Diễm mới học lớp bảy.

2.


Gia đình ông vượt biên sau khi ông từ trại học tập cải tạo về không lâu. Nhà bị phường quản lý vài tuần sau khi ông trình diện học tập, Liên với cái thai bé Diễm trong bụng gần đến ngày sanh và hai con trai phải về sống tạm với người cô vì không muốn đi kinh tế mới. Bảy năm trong trại học tập cải tạo với bao đắng cay, nhọc nhằn, ông trở về với một thân tàn, bệnh hoạn và thương tật. Một vết thương nhỏ ở đầu gối không được chăm sóc, không thuốc men đã làm chân trái của ông bị liệt một khoảng thời gian dài. Nhờ chịu khó tập luyện, chân ông không bị tệ hại hơn, nhưng trở thành khập khiểng. Tuy không hẳn là phế nhân, nhưng ông không còn giúp được gì cho vợ trong việc kiếm sống, suốt ngày lang thang trong thành phố bán vé số, mà người phân phối là một trung sĩ trong đơn vị do ông chỉ huy ngày trước. “Ông thầy đừng lo, hễ tui còn cơm, thì ít ra ông cũng có cháo, trời sinh voi sinh cỏ mà ông. Ông không chết trong trại cải tạo thì sao lại chết trong vũng trâu nằm này chớ?”- anh ta thường nói vậy để an ủi ông. Liên thì buông giầm cầm chèo, bà xoay sở mọi đường để sống còn. Thời gian đó, cái gì cũng quốc doanh hết, từ nhu yếu phẩm hàng ngày tới vải vóc, tập vở, vỏ ruột xe đạp... nhưng cũng nhờ vậy mà Liên luôn có hàng để chạy. Cũng có lúc bà bị công an chụp được, bị nhốt vài hôm, nghe cán bộ lên lớp về cuộc sống lành mạnh mới của xã hội chủ nghĩa, không được theo lề thói làm ăn của bọn Mỹ ngụy cũ, phải lao động để tạo ra của cải vật chất, lao động là vinh quang... Cũng có lần, bà bị bắt và bị đưa đi kinh tế mới với thằng con trai lớn (bà khai chỉ có một con), nhưng chỉ vài tuần sau thì trốn về vì bỏ hai đứa nhỏ ở nhà sao được? Lại mua chui, bán trốn. Chính sách ngăn sông cấm chợ làm cho công việc của bà khó khăn hơn, nhưng thoát được thì cũng bỏ công. Một lần, ngang trạm Cái Bè mà dân đi buôn chui như bà gọi là Ngã Ba Sơn Trạch (ngã ba sạch trơn), bà đi thoát hơn nửa tạ thịt heo nhờ lơ xe giấu. Lơ xe này cũng là một bạn đồng ngũ cũ của ông...

Cứ thế, cho đến ngày người trung sĩ phân phối giấy số nói với ông “ông thầy thu xếp gọn gàng, tới ngày N, giờ G, tui cho ông thầy biết sau, tụi mìmh dzọt, ông cứ mang theo bà thầy và mấy đứa nhỏ. Mọi việc để tui lo, chỉ có người nhà thôi, không sợ bể, xui lắm mới gặp tụi tuần duyên và biên phòng. Một xanh cỏ, hai đỏ ngực, ông thầy.” Ông suy nghĩ lâu lắm... Ở lại thì ông chẳng làm được gì, mà tương lai của ba đứa con ông cũng không biết ra sao, trước mắt ông cũng đã thấy con đường vào đại học của mấy đứa con sĩ quan ngụy còn chông gai hơn đoạn đường chiến binh trong quân trường của ông ngày nào. Mà đoạn đường chiến binh, ông còn vượt qua, chớ đường vào đại học của mấy đứa nhỏ coi như khó bằng đường lên trời, nhưng nghĩa vụ lao động, thanh niên xung phong phá rừng, xẻ núi đắp đường thì bọn chúng được “ưu tiên” trúng tuyển. Còn Liên, vợ ông nữa, không lẽ cứ để cho bà ấy bương chãi nắng mưa nuôi chồng con. Tuy bà không nói, nhưng ông cũng nhìn thấy sự khô héo và mệt mỏi của vợ. Còn vượt biên thì... đói khát, hải tặc... một sống mười chết. Ông lắc đầu, không dám nghĩ tiếp... Không hiểu sao ngày xưa, trong quân ngũ, đối diện với cái chết trong đường tơ kẽ tóc, ông quyết định nhanh, gọn đến vậy, còn bây giờ... có lẽ vì mạng sống của những người thân yêu nhất làm ông ngại ngùng. Phần nữa ngày xưa ông quyết định dễ dàng vì ông được huấn luyện để làm người chỉ huy và sau mười năm trong quân ngũ, với cấp bậc đại úy, ông có kinh nghiệm và kiến thức để quyết định. Bây giờ thì mọi việc chỉ còn trông vào số mạng và ơn Bề Trên che chở. Bàn luận với Liên, bà cũng đồng ý đi, bà nói “dù ở xứ người có cực nhọc đến đâu cũng không thể tệ hại hơn ở đây. Sống trên chính đất nước đã độc lập của mình mà còn bị phân biệt đối xử. Của thừa mứa họ đổ cho heo gà ăn còn hơn cho đám dân ngụy. Còn tương lai các con nữa...” bà quyết định nhanh và gọn như ông ngày xưa trong quân ngũ, dù bà cũng biết rõ những hiểm nguy đang chờ đợi trên đường vượt biên.

Tháng Hai năm Tám Ba, gia đình ông theo người bạn tốt bụng vượt biên. Tàu vượt biên chỉ gồm ba gia đình, chừng hai mươi người vừa già vừa trẻ. May mắn tàu không bị hải tặc nhưng chỉ đến ngày thứ bảy thì chân vịt bị gảy... bềnh bồng trên biển đến mười ngày sau thì được tàu dầu Brazil vớt và đưa vào trại tỵ nạn ở Mã Lai. Khi được cứu, tàu hết lương thực từ hơn ba ngày rồi, nước uống cũng cạn, chỉ còn đủ thấm môi cho trẻ con và người già và những người kiệt sức.

3.


Hai tháng sau, gia đình ông được một gia đình của một cựu chiến binh Hoa kỳ bảo trợ định cư ở vùng Đông Bắc Hoa kỳ và sáu tháng sau, gia đình ông chuyển sang sinh sống ở Nam Cali. Ông may mắn tìm được một chân phân phối báo cho những tờ báo Việt ngữ ở đây. Vợ ông tìm được một chỗ làm tương đối khá trong một công ty lớn, có đủ bảo hiểm sức khỏe cho cả gia đình, các con ông trở lại trường học. Diễm được nhận vào một trường tiểu học gần nhà, hai anh nó học lớp bảy và tám. Gia đình ông bắt đầu lại một cuộc sống mới, tuy có ít nhiều khó khăn, nhưng tràn dầy hy vọng vào tương lai. Mấy đứa con đều chăm và học giỏi. Năm năm sau, bà Liên qua đời trong một tai nạn giao thông, lúc đó Diễm mới mười ba tuổi. Bà Liên mất, thằng con trai lớn vừa xong trung học, phải vừa học nghề, vừa đi làm cho một cửa tiệm rửa xe, để phụ giúp ông phần nào về tài chánh. Cha con nương nhau mà sống cho đến ngày thằng Vũ, con trai kế của ông và con Diễm tốt nghiệp đại học. Cũng may, tụi nhỏ học giỏi, cộng thêm với tình trạng tài chánh của gia đình ông, nên năm nào tụi nó cũng được học bổng và trợ cấp, ông gần như không tốn gì để lo cho hai đứa nó, ngoài cơm ăn, áo mặc, mà những cái này, bên này không ai thiếu. Nhiều khi ngồi nhớ lại ngày cũ, chuyện xưa, ông không khỏi ngậm ngùi tự hỏi: tại sao ngày trước những người chiến thắng lại tàn nhẫn với người đồng chủng của mình đến thế và ngày nay những người dị chủng này lại bao dung cho người khác đến thế. Có hay không cái đạo đức của một nước luôn tự hào mình có hơn bốn ngàn năm văn hiến?

Bây giờ các con ông đã có công ăn việc làm, cuộc sống cũng dễ thở hơn, hai thằng con trai lớn đã lập gia đình, đã ra riêng, nhà cũng ở gần ông, sớm hôm thăm viếng. Ông sống với con Diễm, nhà chỉ có hai cha con. Mọi chi phí trong nhà ba đứa con ông chia nhau lo hết, tiền ông kiếm được chỉ để ông tiêu vặt và bỏ vào quỹ hưu bổng riêng của ông từ hơn mười lăm năm nay. Hai suôi gia của ông, một là HO, một là công chức cũ của miền Nam ngày trước, thỉnh thoảng gặp nhau, kể chuyện ngày xưa ở Việt Nam, khi thì chuyện trong quân ngũ, khi thì nhắc chuyện làng xưa, xóm cũ, mỗi người nghe người khác kể chuyện mà thấy sao như giống chuyện của mình. Ông cũng còn làm công việc của mình, cũng là có dịp ra ngoài cho hết ngày giờ và chờ ngày về hưu hay về gặp lại bà vợ đảm đang và hiền lành của mình. Có đôi lần ông cũng ngồi nói chuyện với bà, ông cũng kể cho bà nghe về những suy nghĩ và công việc của gia đình, ông nói với bà là ông bằng lòng với mấy đứa con lắm, ý nguyện của bà ông đã làm tròn, quyết định ngày xưa của bà đã có những kết quả như bà mong muốn, các con nay đã có một tương lai tươi sáng, do chính chúng chọn lựa...

4.


Hôm cuối tuần vừa qua, trong bữa cơm thường lệ của cả gia đình, Diễm và Viên chính thức xin phép ông và hai anh của nó cho phép chúng kết hôn. Thật lòng, ông chẳng có gì để phản đối cuộc hôn nhân này. Hai mươi bảy tuổi, Diễm không phải là quá trẻ hay quá già để lập gia đình, Viên cũng là một thanh niên mực thước và có tư cách. Hai đứa cũng đã cất đi mối lo trong lòng ông, khi chúng quyết định Viên sẽ ở lại đây sau khi thành hôn vì không muốn xa ông và cũng vì nghề nghiệp vững chắc và việc tiếp tục học lên của Diễm ở đây. 

Chỉ có một điều...

Khi hỏi về gia thế của Viên bên nhà thì Viên cho biết, cha Viên là một thiếu tá công an hồi hưu còn mẹ Viên là một viên chức thuộc ngành ngoại giao. Chỉ nghe có thế, ông Tâm buông đũa không còn muốn ăn nhưng cũng ráng che giấu cảm xúc của mình bằng cách xoay sang hỏi chuyện con dâu lớn về tình trạng thai nghén của nó. Diễm vô tâm, nói về những dự định đám cưới của tụi nó, Ba mẹ Viên sẽ từ Việt Nam qua dự đám cưới, vì đường xá xa xôi, khó khăn nên tụi nó xin phép ông cho làm lễ hỏi và cưới chung một lần... Ông chỉ yên lặng ngồi nghe mà trong lòng có gì như xót xa, chua chát. 

Hơn hai mươi năm định cư trên xứ người, ông chưa một lần quay về Việt Nam thăm. Mà thật ra, ông cũng chẳng còn ai là ruột thịt còn lại bên đó. Người anh duy nhất của ông đã chết mất xác trong trại học tập cải tạo nào đó ngoài Bắc, việc này xảy ra lúc ông đã định cư bên Mỹ do mấy đứa cháu con ông anh vượt biên sang Canada kể lại. Ông cũng chẳng còn mấy bận tâm về những đòn thù của bọn công an quản giáo mà ngày nào ông đã phải gánh chịu trong những ngày tháng ở trại tù có tên hoa mỹ là cải tạo. Còn lại hay không là vết thương trong lòng khó bôi xóa khi nghĩ đến những chính sách hà khắc, kỳ thị... áp đặt lên những người bị họ goi là ngụy quân, ngụy quyền, ngụy dân, tư sản. Bản thân ông và gia đình ông cũng là một nạn nhân của chính sách đó, gần như tất cả những người ông quen biết bên này đều là nạn nhân không nặng thì nhẹ, của chính sách đó. Có hay chăng là những người may mắn di tản kịp trước ba mươi tháng tư, họ không trực tiếp chịu đựng sự hà khắc của kẻ chiến thắng. Hàng ngày ông cũng đọc báo thấy nói về những tiêu cực, tham nhũng, hà lạm của những người mà trước đây khi còn chiến tranh, trong cách nhìn cảm tình của thế giới, là những những kẻ anh hùng, hy sinh tất cả gia đình, tài sản và cả địa vị để thoát ly làm cách mạng, chiến dấu cho lý tưởng giành độc lập cho đất nước... Thì ra, họ cũng chỉ là những con người cơ hội, kiểu được làm vua thua làm giặc, họ tự cho họ có quyền hưởng trước cái hạnh phúc của người dân, tự tưởng thưởng cho mình những cái mà ngày xưa họ không nghĩ tới khi còn chiến tranh. Dưới mắt ông, họ là một thứ thực dân bản xứ, còn tệ hơn những tên thực dân Tây Tàu ngày xưa, cả về bản chất lẫn thành tích. Họ đày ải đồng bào của mình không thương tiếc, cướp đoạt tài sản của người khác chỉ vì họ là những người của chính quyền cũ. Nhân danh cách mạng và xây dựng xã hội chủ nghĩa, họ tìm cách thu quén về cho họ những thứ họ thích bất kể đó là tài sản của cá nhân khác hay của quốc gia. Nhờ quyền lực, họ làm giàu trên mồ hôi người khác...

Vậy mà bây giờ, ông có thể sẽ phải kết suôi gia với một người trong số họ...

Trong mơ hồ, ông thấy ông như có lỗi với bà. Những người ngày xưa đã từng sỉ nhục bà, bắt bớ hành hạ bà, đẩy bà và các con vào con đường nghèo đói, xác xơ là những người đồng chí của kẻ sắp là suôi gia của ông. Những người đã từng đánh đập, nhục mạ, đày ải ông một cách vô tội vạ trong trại tù ngày trước có thể chính là kẻ sắp làm suôi gia với ông, hay ít ra cũng là thuộc quyền, đồng chí của ông ta.

Nhưng ông không thể nói không với Diễm được, tình yêu của nó với Viên hoàn toàn trong sáng và nằm ngoài những mâu thuẫn của thế hệ cha mẹ chúng. Sự lựa chọn của chúng nó là một lựa chọn hợp tình lý, độc lập và có trách nhiệm. Ông không có gì trách chúng, vì ngày xưa, khi các con ông còn nhỏ ông luôn giáo dục con phải suy nghĩ bằng chính cái đầu của mình và phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình. Ông đã khuyên con ông phải tương ái, kính trọng người khác bằng chính tư cách người đó chớ không phải vì gia thế, địa vị hay bề ngoài của họ. Vả lại, ngày xưa, ông và bà kết hôn nhau cũng bằng tình yêu chân thật với nhau. Lúc đó ông là một sinh viên nghèo từ miền Trung nghèo nàn sỏi đá, bà là con gái của một thương gia có của chìm của nổi ở Sài Gòn. Mối tình và hôn nhân của hai người không được gia đình bà bằng lòng nhưng vẫn phải miễn cưỡng đồng ý vì lòng cương quyết của bà. Sau khi thành hôn, hai người chấp nhận cuộc sống tự lập nghèo khó, để tránh nghe những lời mỉa nai bóng gió từ gia đình bà. Bà cũng đã đau khổ quá nhiều vì sự lạnh nhạt của gia đình bà để được sống cái hạnh phúc mà bà đã lựa chọn... thì bây giờ làm sao ông có thể từ chối sự lựa chọn của con gái ông được. Ông không thể vì sự thương tổn ông và bà đã gánh chịu mà bắt con gái mình phải hy sinh sự lựa chọn của nó.

Ông nghĩ hay là ông đề nghị với Diễm và Viên cứ tiến hành hôn lễ, không có sự hiện diện của ba mẹ Viên từ Việt Nam qua; để ít nhất tránh được cho ông những mâu thuẫn trong nội tâm khi phải anh anh tôi tôi, nâng ly với những người mà ngày trước không chừng là kẻ đã từng trực tiếp hay gián tiếp hành hạ mình. Mà có làm được như thế cũng chỉ là giai đoạn, cũng không thể tránh được phải gặp mặt nhau trong tương lai khi họ sang Mỹ thăm con, thăm cháu, và họ là những kẻ có quyền có thế để dễ dàng làm việc ấy.

Từ ngày sống lưu vong, ông thu mình như con ốc, an phận đi làm, không giao du hay có những hoạt động gì về chính trị. Ông cho rằng, cuộc chiến tương tàn đã lui vào quá khứ. Ai cũng cho mình là kẻ thắng và phía bên kia mới là kẻ bại, chẳng qua là do góc nhìn. Ông chỉ có mối bận tâm duy nhất là sinh tồn một cách lương thiện trong một xã hội tương đối xa lạ và giáo dục ba đứa con không trở thành kẻ ăn bám trong xã hội mới. Cái đó đã chiếm hết thì giờ của ông, nhất là từ khi vợ ông từ bỏ cuộc sống đầy nhiêu khê này. Hai lần trước tổ chức hôn lễ cho hai thằng con trai, ông không có gì trăn trở về tinh thần vì hai gia đình thông gia đều là người cùng “một phe.” Bây giờ, đến đứa con gái yêu quí nhất của ông. Đứa con mà ông từng dõi theo từng bước chân từ lúc vợ ông mất cho tới lúc nó trưởng thành, từ những buổi lễ tuyên dương ở trung học, đến những cuối tuần lái xe đón nó về từ ký túc xá đại học... đến những giây phút trang trọng của buổi lễ tốt nghiệp, lúc con bé chạy vội về phía ông, sau buổi lễ trong bộ áo choàng. Bây giờ, hạnh phúc của nó, phần nào khơi dậy trong ông vết thương ngày nào ông muốn quên; niềm vui của nó lại là nguyên nhân của những khắc khoải của ông. Trong lúc con gái ông dệt mộng với mối tình trong sáng và tuyệt vời của nó thì ông như bị nung nấu với dĩ vãng đau thương ngày nào của ông và của chính mẹ nó. Ông nhìn di ảnh của bà thầm ước, phải chi bà còn sống, ông có thể thảo luận với bà, thường khi bà có những ý kiến ông cho là kỳ diệu, nhất là trong những vấn đề về gia đình và xã hội. Cũng không lạ! Ngày trước bà là cán sự xã hội mà, ông vẫn thường đùa là bà giữ mục gỡ rối trên các báo là ăn khách... Rồi những ngày Diễm bước chân vào đời; học vấn và hội nhập với đời sống mới, ông không bằng Diễm, nhưng chuyện gì nó cũng về kể cho nghe và hỏi ý kiến ông (nó thường nói ông là người từng trải) hay đơn giản hơn chỉ là muốn chia sẻ với ông những buồn vui nơi chỗ làm. Hai cha con sống với nhau ngoài tình cha con, còn là lòng thông cảm sâu sắc như hai người bạn, cho nên mối tình của nó với Viên, ông biết rõ từng giai đoạn một và ông biết tình yêu của chúng trung thực và trong sáng, và chính vì thế ông không thể và có lẽ không bao giờ nói với chúng về những mất mát bi thương mà ông bà đã phải gánh chịu ngày trước. Bây giờ chỉ còn lại mình ông với những mâu thuẫn giằng xé nội tâm do đoạn kết hiển nhiên của mối tình giữa Diễm, con gái ông, và Viên. Ông đã thoáng giận mình, tại sao ngày trước ông không phản đối khi biết Viên là sinh viên du học, vì ông cũng biết hơn chín mươi phần trăm số này là con ông cháu cha, phần còn lại cũng là cổ cánh có giây mơ rễ má với cán bộ cao cấp, đằng nào thì cũng không phải là những người giống như ông. Nếu phản đối lúc đó, ông không phải đối mặt với dằn vặt bây giờ... Nhưng tại sao những mâu thuẫn về chính trị, ý thức hệ của cha anh lại trút lên vai của những thanh niên không liên hệ với cuộc chiến cũ, ngoài việc họ là con cháu của thế hệ trước? Ông đã từng coi khinh hành động phân biệt đối xử cùa những người chiến thắng, khi họ khinh miệt, chà đạp, hành hạ những người không cùng hàng ngũ... bây giờ làm sao ông có thể đối xử phân biệt với Viên khi từ chối cuộc hôn nhân này chỉ vì cha Viên là cán bộ; làm như thế, hóa ra ông cũng là người theo chủ nghĩa lý lịch mà ông từng lên án...

5.


Ông Tâm ngồi dậy, tìm nước uống, ngang phòng Diễm, đèn vẫn còn sáng, Diễm đang nói chuyện với Viên. Diễm vẫn thường làm vậy từ ngày hai đứa yêu nhau và ông biết hai đứa nó yêu nhau đến mức nào. Ông thở dài và cảm thấy như có lỗi với bà...


Houston tháng 10, 2004

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét