Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2020

Phạm Xuân Hy : Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai

Đôi Hàng Bộc Bạch 

U Linh Lục 幽明

Lưu Nguyến Nhập Thiên Thai trong « U Minh Lục 幽明 » cũng còn viết là « U Minh Lục 幽冥錄 », hay là U Minh Ký 幽冥記, là truyện thuộc loại văn ngôn đoản biên Thần Kỳ Chí Quái tiểu thuyết, do Lưu Nghĩa Khánh, tông thất nhà Tống, thời Nam triều, cùng môn khách soạn, gồm 30 quyển, nguyên thư đã bị thất tán mai một.

Trong sách « Cổ Tiểu Thuyết Câu Trầm », Lỗ Tấn đã thu thập được 265 truyện. Sách ghi chép những truyện ma quỷ, thần linh, quái dị, biến ảo vô thường, nên mới có tên là U Linh Lục. Trong U Linh Lục cũng có một số truyện tương đồng với các truyện

sách Liệt Dị Truyện列異傳  và Sưu Thần Hậu Ký搜神後記, càng làm cho truyện Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai được lưu truyền rộng rãi thêm.

Cùng như tác phẩm « Thế Thuyết Tân Ngữ » , Lưu Nghĩa Khánh đã dựa vào những cố sự có trước mà soạn thành, chứ không phải cá nhân ông một mình sáng tác.

Sách « U Linh Lục » được phổ biến rộng rãi về mọi mặt trên diễn đàn văn học Trung Quốc, như thơ, văn, hý , hoạ, kịch.

 Việt Nam, chịu ảnh hưổng nặng nề của Tầu, nên núi Thiên Thai , truyện Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai, và nhiều đoản biên truyện ký khác cũng được nhiều nhà văn, nhà thơ,nhạc sĩ, dịch thuật, phóng tác.

 Như Tản Đà từng có bài Tống Biệt, một bài thơ tuyệt vời,  bất hủ, mô tả cảnh Tiên Phàm Tiễn Biệt, lờ mờ nửa hư, nửa thực lãng đãng mơ hồ :

Tống biệt

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,
Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi!
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

Tản Đà

Về âm nhạc, đã có nhiều bản nhạc nhắc đến truyện Lưu Nguyễn, nhưng người ta không thể không nhắc đến hai nhạc phẩm lãng mạng trữ tình ưu tú nhất nói về Thiên Thai, nói về mùa thu, của hai nhạc sĩ tài ba là Văn Cao, Phạm Duy, đã  được phổ biến một cách  rất rộng rãi trong quần chúng.

Ngoài ra, trong kho truyện cổ của nước ta, chúng ta có truyện Truyền Kỳ Mạn Lục,  của Nguyến Dữ, viết bằng chữ nho, khắc năm 1763, trong đó có truyện Từ Thức Hôn Tiên 徐式奾昏, kể « truyện tiên lấy phàm », cũng mang một  sắc thái ly kỳ diễm ảo ,    xẩy ra ở huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá, nơi có « Động Bích Đào », gọi nôm na là « Hang Từ Thức 𧯅徐式 », rất nổi tiếng, phản ánh phong tục, đời sống văn hoá xã hội Việt Nam thời bấy giờ.


Lưu Nguyễn

Nhập Thiên Thai

 

劉阮入天台

 

Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng

Nhớ Lưu Nguyễn lạc tới Đào Nguyên

Văn Cao             

Nguyên tác : U Minh Lục

Tác giả : Lưu Nghĩa Khánh

Bản dịch của : Phạm Xuân Hy

 

Theo sách“Thái Bình Quảng Ký太平廣記“ quyển 41, trích dẫn sách“U Minh Lục“ của Lưu Nghĩa Khánh, người triều Tống, thời Nam triều thì :

Vào năm Vĩnh Bình ngũ niên, tức năm 62 CN, đời vua Hán Minh Đế, ở Diễm huyện, có hai người là Lưu Thần và Nguyễn Triệu rủ nhau vào núi Thiên Thai để hái thuốc, bị lạc ở trong núi mười ngày, hết lương thực, đói sắp chết, thì thấy ở đằng xa trên núi có cây đào,  đầy những trái, nhưng vách cao đèo sâu, không có đường lên, bèn víu vào những dây leo mà lên, rồi hái mỗi người ăn mấy trái cho khỏi đói, Trong người trở nên khỏe khoắn.


Sau đó hai người xuống núi, lấy bát múc nước uống, định rửa tay, thì thấy một chiếc lá rơi lạc lõng, còn xanh tươi, nõn nà, từ trong lòng núi trôi ra, sau lại thấy có một cái bát trôi ra theo, trong chén còn sót lại những hạt vừng.


Hai người mới bảo nhau:


-Nơi đây ắt là có người ở không xa.


Bèn cùng nhau lội xuống suối, đi ngược trở lại chừng hai ba dặm, đến một chân núi, gặp được  một con suối lớn, có hai người con gái đứng bên kia bờ, trông  dáng dấp yêu kiều diễm lệ vô cùng.


Hai người con gái thấy Lưu Thần và Nguyễn Triệu cầm bát múc nước, mới cười, bảo :


-Lưu, Nguyễn nhị lang, xin hãy trao lại cái chén cho thiếp !

Lưu Thần và Nguyễn Triệu vốn chưa từng biêt hai nàng, nay hai nàng lại gọi tên một cách thân mật, tựa hồ như người quen biết cũ,  hân hoan vui vẻ, và hỏi hai chàng vì sao đến trễ.


Rồi mời Lưu Thần, Nguyễn Triệu về nhà. 

Ngôi nhà mái lợp bằng loại tre lớn. Các vách phía nam và phía đông, mỗi phía đều có kê một chiếc giường rộng lớn, trên phủ gấm tía lụa hồng, ở mỗi góc giường đều có treo khánh ngọc, chuông vàng, và đầu giường có chừng mười đứa thị nữ đứng hầu.

Hai nàng mới bảo với Lưu Thần, Nguyễn Triệu :

-Nhị vị lang quân, sơn xuyên vất vả, hẳn là mệt nhọc, mau ăn đi thôi.

Rồi đem cơm vừng đen, thịt bò rừng, đãi hai chàng. Rất là ngon miệng. Ăn xong  thì uống rượu.

Sau đó có một đám tì nữ, mỗi người trên tay cầm bốn năm trái đào, chúm chím tươi cười chúc tụng :

-Kính chúc nhị vị cô nương kén được rể mới.

Lưu, Nguyễn rượu say túy lúy, vừa mừng vừa sợ, rồi cùng hai nàng vui vẻ mãi cho đến thật khuya, thì hai nàng mới mời hai chàng lên giường, mỗi người  một giường, rồi lên sau.

Nghe giọng nói và thanh âm của hai nàng ngọt ngào, êm ái, khiến hai chàng hết hẳn lo âu phiền muộn.

Sống ở đấy được mười ngày, hai chàng bỗng chạnh niềm cố quốc, bèn ngỏ ý  muốn trở về quê .

Thì hai nàng nói :

-Nhị lang, đến đây, là duyên từ kiếp trước đưa lại, sao nay lại muốn trở về ?

Vì thế, Lưu Nguyễn mới ở lại với hai nàng thêm nửa năm nữa.

Một hôm, vào tiết xuân sang, cỏ xanh mơn mởn, hoa lá rộn ràng, cây cối xum xuê. Oanh hát, yến ca, đua nhau hót líu lo, khiến hai chàng càng nặng thêm niềm tư hương cố thổ, lại khẩn khoản xin với hai nàng cho trở về nhà.

Hai nàng nói :

- Duyên kiếp ràng buộc. Chị em thiếp biết làm gì bây giờ.

Nhưng rồi, cũng gọi mấy chục đứa tỳ nữ đem nhạc cụ đàn sáo, chiêng phách, đến diễn tấu, để tiễn  biệt hai chàng về quê.

Khi Lưu Lang và Nguyễn Triệu về đến quê, thấy họ hàng làng xóm, đều tinh tán không còn ai. Xóm cũ năm xưa, nay hoàn thoàn xa lạ, không còn nhận ra được nữa.

Cũng may có đứa trẻ cháu bẩy đời, thuật lại là ông cố cố tổ ngày trước vào núi hái thuốc, lạc đường không thấy về nữa.

Đến năm Thái Nguyên bát niên nhà Đông Tấn, tức năm 383 CN đời Tấn Hiếu Võ Đế Tư Mã Huy (362-396), người tabỗng lại thấy Lưu, Nguyễn bỏ ra đi. Nhưng không ai biết là đi đâu.

 

 

Hậu thế, có người bâng khuâng nghe lời ca thiên cổ, cao vút,  mơ hồ từ xa vọng lại :

« Thiên Thai !Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng, nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới đào nguyên »

Làm bản dịch này.

Rồi âm thầm đưa tay lau nước mắt.

 

 

GHI CHÚ CỦA PHẠM XUÂN HY

 

Thái Bình Quảng Ký

太平廣記

Thái Bình Quảng Ký là một tổng tập tiểu thuyết, trong « tứ đại loài thư » do Lý Phường và Ấp Mông phụng chỉ soạn, gồm 500 quyển, và mục lục có 10 quyển.

Tháng 3 năm 977, tức năm thái Bình hưng quốc nhị niên Lý Phưởng vâng chiếu chỉ soạn, năm sau hoàn thành.

Vì sách  soạn vào năm Thái Bình Hưng Quốc đời vua Tống Thái Tổ, nên có tên gọi như vậy.

Thái bình Thiên Quốc tuyển chọn từ cả các sách của Đạo tạng, và Đạo Phật, cùng với các sách Bút Ký, Ti sử, Tiểu thuyết có đến 475 chủng, và phân thành 94 loại và 150 tiểu loại  như :

Thần Tiên,  Nữ Tiên, Đạo Sĩ, Phương Thuật, Đồng Bộc, Nô Tì, Ảo Thuật, Thần, Quỷ, Yêu Vọng, Súc Thú, Thảo Mộc… 

Thái Bình Quảng Ký, vì chuyện gì cũng có, nên được coi là nguồn gốc cho nhiều tiểu thuyết gia, bảo tồn được một số lớn các truyện cổ liên quan đến các vấn đề xã hội, kinh tế, điển cuông, phong tục…

 

Lưu Nghĩa Khánh

劉義慶

Lưu Nghiã Khánh (403-444), tự là Quý Bá, là văn học gia triều nhà Tống thời Nam Triều, theo sách Tống Thư, có truyện về ông, cho biết Lưu Nghĩa Khánh là người giản dị, chất phác, không ham muốn nhiều, mê say văn học nghệ thuật, đón mời bốn phương các văn học gia tụ tập trong nhà mình.

Lưu Nghĩa Khánh là người thuộc tông thấy của nhà Lưu Tống, tức nhà Tống (năm 420-479) thời Nam Triều do Lưu Dụ kiến lập, và được tập tước (chứ tước vị của cha ông) là Lâm Xuyên Vương, và từng đảm nhậm chức Thứ Sử Kinh Châu trong tám năm, tạo được nhiều chính tích.

Sau lại đảm nhậm chức Giang Châu Thứ Sử, nhưng được một năm, nhân vì đồng ý trong việc biếm chức Vương Nghĩa Khang nên bị Tống Văn Đế tức giận, trách cứ, bị triệu hồi về kinh, và bổ nhậm làm Nam Kinh Thứ Sử, Đô Đốc Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ty.

Đuc ít lâu bị bệnh, xin về hưu, năm 444 CN, đời Tống Văn Đế, Lưu Nghĩa Khánh qua đời ở Kiến Khang (tức Nam Kinh ngày nay).

Từ nhỏ, Lưu Nghĩa Khánh đã nổi tiếng là người tài hoa xuất chúng, yêu thích văn học.

Về sáng tác, ngoài tác phẩm nổi danh là « Thế Thuyết Tân Ngữ » , còn sáng tác « U Linh Lục », thuộc loại Chí Quán Tiểu Thuyết, trong đó có truyện « Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai », kể truyện người gặp tiên.

 

Thiên Thai Sơn

天台山

Tức núi Thiên Thai .

-Vì chữ đải () có hai âm là" thai" và "đài", nên núi Thiên Đài Sơn cũng còn gọi là núi Thiên Thai Sơn.

Núi này nổi tiếng là nơi danh lam thắng cảnh của Trung Quốc, là nơi bắt nguồn của phái Phật giáo Thiên Thai Tông Trung Quốc. Núi nằm ở phía bắc huyện Thiên Thai, tỉnh Chiết Giang. Ngọn núi chính là Hoa Đỉnh Phong, so với mặt biển cao 1138 mét.

Ở trong dẫy núi có rất nhiều cảnh trí tú lệ xinh đẹp như thác treo như giải lụa bạch, nham động, chùa cổ, thanh u, suối reo, cầu đá.

Từ các triều đại Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều, Thiên Thai Sơn đă được Đạo Giáo coi là "Đất phúc động trời". Các đạo sĩ nổi tiêng như Cát Huyền đời Tam Quốc, Đào Hoằng Cảnh thời Nam Bắc Triều, Tư Mã Thừa Trinh, từng đến đây hái thuốc hoặc tu luyện.

-Đến đời Tùy xây Quốc Thanh Tự, và Trí Di pháp sư đến đây sáng lập ra phái Thiên Đài Tông. Đến năm Trinh Nguyên nhị thập niên nhà Đường, tức năm 804 CN, có nhà sư Nhật Bản tên Tối Trừng đến Thiên Đài học tập, và khi trở về Nhật lập ra phái Thiên Đài Tông Nhật Bản, đồng thời mang theo hạt trà, và từ đấy người Nhật biết uống "trà tầu".

Các bậc thi nhân danh tiếng, các nhà danh họa, từng đến đây du lãm, và lưu lại đây nhiều bài thơ, nhiều bức họa.

Một giải thích khác về núi Thiên Thai, như sau :

Thiên Thai Sơn, theo nghĩa hẹp, hiện nay chỉ dẫy núi ở huyện Thiên Thai tỉnh Chiết Giang, thật ra, danh xưng Huyện Thiên Thai đã được Tống Thái Tổ nhà Bắc Tống, tức Triệu Khuông Dẫn đặt tên, vào niên hiệu Kiến Long nguyên niên, tức là năm 960.

 

Thiên Thai Tông

天台宗

Thiên Thai Tông (thai còn đọc là đài) là một chi phái của Phật Giáo Trung Quốc,nhân vì người sáng lập ra Thiên Đài Tông là Trí Ỷ, lấy Thiên Thai Sơn làm cơ sở truyền giáo, đồng thời lấy Pháp Hoa Kinh làm y cứ chủ yếu để truyền giáo. Cũng vì thế nên gọi là Thiên Thai Tông.

Đến thế kỷ thứ 9, Thiên Thai Tông truyền sang Nhật Bản.

Đến thế kỷ thứ 11 thì truyền sang Triều Tiên .

 

Hán Minh Đế

漢明帝

Năm Vinh Bình Ngũ niên tức năm 62 CN, là niên hiệu của vua nhà Hán, là năm Lưu Nguyễn đi hái thuốc và bị lạc vào Thiên Thai.

Hán Minh Đế (28CN-75) tên là Lưu Trang, con thứ tư của Hán Quang Võ, làm vua từ năm 58 CN đến năm 75, làm vua được 18 năm, có một niên hiệu là Vĩnh Bình.

Đến năm 383 CN , tức niên hiệu Thái Nguyên thứ tám, đời vua Tấn Hiếu Võ Đế Tư Mã Huy, Lưu, Nguyền lại đi, nhưng không biết đi đâu. (hư cấu)

 

PARIS ngày 25-7-2020. Những tháng ngày buồn cô liêu và bị cấm túc.

 



 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét