Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2020

Đỗ Quý Toàn: Chất thơ trong văn

Chúng ta băn khoăn về sự khác biệt giữa thơ và văn kể từ khi người Việt tiếp xúc với văn chương Pháp. Trước đó các cụ thấy hai thứ hiển nhiên là khác nhau rồi. Có vần, có điệu thì gọi là thơ, nếu không thì là văn. Vào đầu thế kỷ 20 thì sự phân biệt còn khá rõ ràng. Phạm vi của thơ và của văn có biên giới, dựa vào hình thức. Đến giữa thế kỷ 20, có những thi sĩ viết “thơ bằng văn xuôi” theo lối “poème en prose” của các thi sĩ Pháp, như Rimbaud, Claudel, v.v… Từ đó nói đến thơ người ta không thể chỉ căn cứ vào vần, điệu, hay giới hạn số chữ trong một câu. Thơ tự do đẩy thơ sang mấp mé bờ văn xuôi. Tùy bút đẩy văn xuôi tràn sang biên giới của thơ.

Khi Phạm Đình Hổ viết Vũ Trung Tùy Bút thì tùy bút của ông giống như các truyện ngắn. Tới Nguyễn Tuân thì tùy bút ở giữa truyện và phiếm luận, mà bây giờ chúng ta có một chữ khác là tạp văn, một chữ rất tiện dụng (theo lối Lỗ Tấn). Tùy bút, nhờ Võ Phiến, Mai Thảo… lấn sang biên giới của thơ nhiều hơn. Và chúng ta có thể nói đến “chất thơ” trong văn Mai Thảo hay Võ Phiến hoặc Phạm Công Thiện. Từ chữ THƠ để nói về một hình thức, chúng ta nói đến Chất Thơ, trước đây gọi là Thi Vị. Khi ta tự hỏi “Thơ và văn xuôi khác nhau thế nào” chúng ta muốn nói đến Chất Thơ, chứ không nói về hình thức của thơ. Hình thức có thể là một yếu tố, không là tất cả.

Vì thơ và văn xuôi đều là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm chất liệu cho nên người ta đem phân tích ngôn ngữ để dựa vào đó mà phân biệt thơ với văn xuôi. Đại để, ngôn ngữ có hai yếu tố chính: âm thanh mà chúng ta nghe thấy khi đọc hoặc nói, và các tình ý mà âm thanh gợi ra (hoặc âm thanh tưởng tượng khi nhìn chữ viết).

Dựa trên hai yếu tố này, có người đề nghị phải tìm chất thơ ở cả hai phạm vi: chất thơ do âm điệu gây ra, và chất thơ do ý tứ. Một câu có vẻ trầm bổng, vần câu sau theo vần câu trước, thì nhờ âm điệu có chất thơ. Một đoạn văn không có các yếu tố âm điệu nhưng các chữ dùng trong đó gợi ý tứ nhiều thì nó có chất thơ ở ý nghĩa. Một ý trừu tượng “rất rộng lớn” có thể được chuyên chở bằng nhiều từ ngữ, thí dụ: mênh mông, mênh mang, bạt ngàn, bao la v.v… mỗi từ gợi tình tứ khác nhau. Sự sắp xếp các tiếng trong một cụm từ cũng thay đổi tác dụng của ngôn ngữ. Chắc ai cũng có thể phân biệt ý tứ khác nhau trong hai cách nói, “trời biển mông mênh” với “mênh mông biển trời.”

Lối phân biệt dựa trên hai yếu tố âm và nghĩa giúp ta hiểu “thơ bằng văn xuôi” là loại thơ mang chất thơ ở trong ý tứ nhiều hơn trong vần điệu âm thanh. Ngược lại, loại vè mà các thi sĩ thường coi nhẹ thì chỉ dựa vào vần điệu, âm thanh để gây một ấn tượng êm tai nhưng thường sáo rỗng.

Lối phân biệt đó cũng dựa trên hình thức nhiều quá. Đọc một bài văn xuôi dài, có khi đọc hết mấy trang ta mới cảm thấy có chất thơ hiện lên. Có khi hết cả bài mới thấy xúc cảm đầy vị thơ. Nhiều bài lý luận triết học của Phạm Công Thiện, đoản văn của Mai Thảo, truyện ngắn của Võ Phiến, Thế Giang, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Vũ đọc toàn bài mới thấy chất thơ dào dạt.

Cho nên sự phân biệt thơ và văn xuôi phải nhìn theo nhiều kích thước khác nhau. Các kích thước đó lại chằng chéo, ràng buộc lẫn nhau, mỗi lần bàn chúng ta chỉ có thể lấy một kích thước làm chuẩn, rất dễ gây ngộ nhận rằng đó là kích thước duy nhất. 

Chất thơ trong văn 


Để hiểu chất thơ nó nằm ở chỗ nào, chúng ta sẽ lấy thí dụ để thấy các mẫu cực đoan của một kích thước, ở một cực là thứ thơ thật thơ, ở cực kia là thứ văn xuôi thật xuôi, xuôi dòng dõng. Xin thí dụ thứ văn xuôi đòng đõng như thế này:

a) “Từ một điểm ngoài một đường thẳng ta chỉ kẻ được một đường song song với nó mà thôi.”

b) “Ta có thể kẻ một đường thẳng, đi qua một điểm ở ngoài và song song với một đường thẳng có sẵn, và chỉ kẻ được một đường duy nhất”.

c) “Qua một điểm ta có thể kẻ một đường thẳng, và chỉ có một đường, song song với một đường thẳng có sẵn”.

Chúng ta có thể viết ba, bốn lối khác nhau, xào xáo các chữ miễn sao nói cho người ta hiểu Định đề Euclide. Cách nói này có thể dễ hiểu hơn cách khác, nhưng miễn là người đọc hiểu được ý thì thôi. Trọng tâm thông điệp nằm ở ý, không phải ở lời.

Nhưng không phải là văn xuôi bao giờ cũng xuôi đuồn đuỗn như vậy.

Văn xuôi cũng có mầu, sắc, có chất, có vị. Ngôn ngữ luôn luôn có chất thơ, nếu ta biết cách làm bật ra.

Xin thử đọc một đoạn văn xuôi.

“Cái làm chúng tôi khổ cực nhất trong thời gian ở tù là đói. Đói triền miên. Đói ngày đói đêm. Đói sáng đói chiều. Đói ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác. Ăn xong bữa ăn, chúng tôi ngẫm nghĩ không biết đã ăn chưa”.

(Trần Huỳnh Châu, Những Năm Cải Tạo ở Bắc Việt)

Trong đoạn này Trần Huỳnh Châu lập lại nhiều lần chữ Đói, mỗi chữ Đói bắt đầu một câu ngắn. Những câu dài dần thêm: ba tiếng, bốn tiếng, lại bốn tiếng, rồi 6 tiếng, tới 16 tiếng. Có câu gồm hai nhóm song song đối nhau: “Đói ngày, đói đêm – Đói sáng, đói chiều.” Câu dài 16 tiếng chia làm ba đoạn lập lại cùng một cú điệu, từ ngày đến tháng, rồi đến năm. Câu chót chữ “Ăn” được dùng ba lần, mở đầu là “Ăn xong,” kết thúc là “đã ăn chưa.”

Cách xếp đặt chữ nghĩa như vậy phải có một tác dụng đặc biệt ngoài ý tưởng được trình bày. Nó khác với một lối viết lạnh lùng, thí dụ: “Những người đi tù cải tạo thấy khổ nhất là nạn thiếu thực phẩm suốt trong thời gian bị tù. Mỗi bữa được cho ăn rất ít, ăn cũng như không ăn.” Viết như vậy cũng đầy đủ ý nghĩa, nhưng không gợi những tình tứ trong cảm giác nung nấu sôi động mà câu văn của Trần Huỳnh Châu đã tạo ra. Một đoạn văn như của Trần Huỳnh Châu không gọi là xuôi, theo nghĩa thẳng tuột, trơn tru, thiếu gia vị như Định dề Eucid. Trong câu nói hàng ngày chúng ta cũng hay dùng ngôn ngữ theo lối đầy thi vị. “Hổng biết!” Nói vậy không giống như khi nói: “Tôi không biết!” Hay là: “Thưa ông tôi không biết.”

Đọc hồi ký Trần Huỳnh Châu ta có cảm tưởng anh không phải là người thích làm văn chương, anh không có ý làm thơ. Anh muốn kể lại, trình bầy cảnh sống ở nhà tù cải tạo. Cũng kinh nghiệm đó, kể bằng cách nào cho người đọc hiểu được, cảm được thì thôi. Nhưng khi viết hồi ký cũng như khi nói chuyện hàng ngày, chúng ta đều lựa chọn các từ ngữ, các cách sử dụng, xếp đặt từ ngữ. Viết, và nói với một mối xúc động thì tự nhiên các tiếng, các cách xếp đặt từ ngữ vì mối xúc động đó thôi thúc mà bật ra. Chúng ta không viết và nói một cách bình thản như khi viết bản báo cáo khoa học về “tình trạng thiếu thực phẩm.”

Bản báo cáo khoa học viết cách này hay cách khác cũng được. Khi diễn tả một cảm xúc thì chỉ có một cách duy nhất để tạo một ấn tượng.

Trong câu nói hàng ngày chúng ta hay lập đi lập lại một cấu trúc văn phạm, hay một cách ngắt câu để bắt người nghe phải chú ý hơn. Đó là thi vị của câu nói. Đổi lời nói đi, tác dụng truyền tin (tường thuật khách quan) của câu nói vẫn còn, nhưng tác dụng khích động tình tự người nghe sẽ giảm. Thí dụ một câu văn nổi tiếng của Nguyễn Bá Học mà chúng ta đọc lại để so sánh với câu phát biểu về định đề Euclide.

Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông.

Tại sao ta thuộc lòng câu đó như một câu tục ngữ? (tục ngữ ngắn hơn, có vần và nhịp rõ ràng hơn). Chúng ta thấy câu văn trên không phải chỉ nêu một ý tưởng (tường thuật) mà còn muốn khích động người đọc, in dấu hằn lên tâm não người đọc.

Để thấy rõ tác dụng khích động của nhịp điệu, xin thử giữ lấy ý mà sửa cách nói trong câu trên; giống như phát biểu định đề Euclide:

1) Đường đi không khó vì có núi sông ngăn cách mà vì người ta sợ núi sông ngăn cách.

2) Núi sông ngăn cách không làm đường đi khó mà chính lòng người sợ núi sông làm cho đường đi khó.

3) Người ta sợ núi sông ngăn cách nên thấy đường đi khó chứ không phải vì có núi sông nên đường đi khó.

Ba câu viết lại này không thể thay thế câu văn của Nguyễn Bá Học, không gây được tác dụng như lối Nguyễn Bá Học viết. Cả ba câu đó chứa cùng một ý nhưng tác dụng ngôn ngữ thì không có, vì tiết tấu, nhịp điệu đã khác hẳn, nhạt nhẽo, vô vị.

Câu văn của Nguyễn Bá Học đẹp và dễ nhớ một phần lớn là nhờ nhịp điệu. Tác giả đã được đào tạo trong lối văn cổ, như khi viết các bài phú có vần, có đối. Về tiết tấu ta thấy câu của Nguyễn Bá Học có ba đoạn chính:

Đường đi khó (nêu vấn đề) không khó vì ngăn sống cách núi (mệnh đề thứ nhất, phủ định) mà khó vì lòng người ngại núi e sông (mệnh đề hai, xác định).

Trong ba đoạn của Nguyễn Bá Học chữ khó lập lại ba lần, làm nổi ý chính, vấn đề chính. Chúng ta đọc không cần để ý đến dấu chấm câu mà vẫn ngắt câu đúng chỗ. Vì lối văn cổ khéo thì như vậy. Phan Ngọc nhận xét “Tất cả cơ chế của câu văn cổ là dựa vào tiết tấu, chứ không dựa vào những công cụ của ngữ pháp, tức là không dựa vào văn pháp và dấu chấm câu. Lối văn này còn chịu ảnh hưởng của thời truyền khẩu chưa dùng chữ viết. Như Phan Ngọc thấy, “Chấm câu theo kiểu hiện tại là một sự can thiệp của tư duy lô gích vào ngôn ngữ” (Tiếp xúc Ngôn Ngữ… 1983, trang 220, 221). Nhờ tận dụng sở trường của lối văn cổ, dựa trên cảm thức quen thuộc về ngôn ngữ của người Việt nên câu văn của Nguyễn Bá Học có nhiều chất thơ. Dùng tiết tấu làm nẩy chất thơ.

Trong cách sử dụng từ ngữ, các nhóm “ngăn sông, cách núi” và “ngại núi, e sông” gây ra các cảm tưởng cụ thể. Nếu nói “núi sông ngăn cách” và “e ngại núi sông” thì “núi sông” là một từ kép, một kết hợp từ pháp chứ không phải là kết hợp cú pháp như nói “núi và sông.” Núi sông sẽ trở thành một từ trừu tượng chỉ một tổng thể gồm núi và sông, núi hay sông, mà không thể đếm một, hai “núi, sông.” Khi tách ra từng nhóm hai từ (vị - tân) như “ngại núi, ngăn sông” thì các động từ “ngại, e, ngăn, cách” cũng cụ thể hơn là khi dùng động từ kép “e ngại” và “ngăn cách”.

Viết theo lối đối ngẫu là do ảnh hưởng của văn chương Hán Việt. Ngữ pháp Việt Nam dùng ba hệ thống: hệ thống nền tảng gốc tiếng Môn-Khmer, thêm một tầng tiếng Thái, sau đó là ngữ pháp gốc Hán Việt với tính chất đối xứng, và ngữ pháp hiện đại chịu ảnh hưởng suy luận lô gích Tây Phương (Phan Ngọc, trang 333). Những câu văn càng đi gần với hệ thống nền tảng và hệ thống đối xứng thì càng nhiều chất thơ hơn. Đọc kỹ thứ thơ “tây nhất” là thơ tự do, ta nhận thấy điều đó. Các câu thơ tự do có cấu trúc thuần Việt hay cấu trúc Hán Việt thường khích động lòng người đọc hơn là các câu thơ có cấu trúc “Tây” với ảnh hưởng ngôn ngữ Ấn – Âu.

So sánh các câu phát biểu định đề Euclide với câu văn Nguyễn Bá Học viết chúng ta thấy Nguyễn Bá Học đã vượt ra khỏi thứ văn xuôi, xuôi đuồn đuỗn. Ba, bốn cách phát biểu định đề Euclide đều có thể dùng được. Ta có thể nói về các bài báo cáo khoa học theo cách này hay cách khác, bài này hay bài khác, không sao.

Cũng như muốn nghe bản tin về thời tiết, ta có thể nghe đài phát thanh này hay đài truyền hình khác, chúng ta chỉ chú ý đến nội dung, không cần hình thức. Đài nào loan tin chính xác hơn, kịp thời hơn, thì chúng ta nghe. Khi hai đài có nội dung bằng nhau thì chúng ta chọn giọng nói của xướng ngôn viên, âm nhạc đệm, chứ không cần chú ý đến câu đặt cách nào, lời chọn ra sao. Nhưng một câu văn như câu của Nguyễn Bá Học thì khác. Tác giả không phải chỉ chú ý đến nội dung. Thông điệp của ông phát xuất từ trong tâm, bao gồm cả ý nghĩa và tình tự, tạo nên tác động của lời nói trong lòng người đọc. Phải như ông viết mới có giọng quả quyết, hùng hồn, thuyết phục. Nói theo cách khác thì ý nghĩa vẫn còn nhưng tác dụng đã mất. Khi nhận xét câu của Nguyễn Bá Học là “hùng hồn” hay “giắn dỏi” hay “thiết tha” là đã chú ý đến tác động thuần ngôn ngữ của câu văn.

Chất thơ không chứa ở từng chữ, từng câu, mà còn ở trong từng đoạn, cách đặt các câu trong một đoạn. Thử đọc một đoạn văn của Trần Hoài Thư, với lối viết văn bây giờ rất hiếm người viết:

Những con chim đã trở lại biển. Và còn tôi cùng thành phố ngậm ngùi. Đã xa rồi những cánh chim của một mùa xuân, một hôm nào về trên thành phố, thật đúng hẹn, hay trên một ngọn đèo nào, như An Khê, như Đơn Dương xa xôi. Đã xa rồi, đôi cánh nhỏ, bờ ngực mượt trắng, tinh nghịch lượn vờn trên không. Ở đấy, bầu trời lúc nào cũng thật trong và thật xanh, và đất đai dường như cựa mình cùng những mầm lộc mới. Và chỉ còn lại tôi, ngơ ngác như người Thượng buồn thiu mất bản, mất buông…

Trong đoạn này Trần Hoài Thư viết thơ xuôi. Tác giả không chỉ gởi đến người đọc những ý tưởng, mà tặng cho chúng ta những cảm xúc. Xúc cảm hiện lên trong cách đặt câu. Đã xa rồi… Đã xa rồi. Và còn tôi… và chỉ còn lại tôi. Biển, thành phố, ngọn đèo, đôi cánh chim, mùa xuân, bầu trời, mầm lộc mới, người Thượng, đất đai… Đó là những tảng mầu, những chấm mầu trên một bức tranh ấn tượng, mỗi cụm từ là một hình ảnh, mỗi câu một ấn tượng.

Tác động ngôn ngữ của văn xuôi còn nằm trong bố cục, như khi đọc một truyện ngắn hay một cuốn tiểu thuyết. Nhân vật hiện ra như thế nào. Sự kiện được kể lại như thế nào. Các nhân vật nhìn cảnh vật, nhìn lẫn nhau, nhìn cuộc đời như thế nào. Khi nhà văn lựa chọn một cách kể chuyện, nhà văn đã lựa chọn một cách tác động của ngôn ngữ. Tác động đó sẽ in hằn vào trí óc ta một hình ảnh, giống như một câu thơ hay. Bóng người in trên vách trong Chùa Đàn của Nguyễn Tuân; cái tăm xỉa răng của ông quận Toàn của Võ Phiến; mẩu bánh mì quệt chung quanh bát cháo trong Một Ngày Trong Đời Ivan Denisovitch của Soljenitsyn; tuyết rơi trong Chúc Phúc của Lỗ Tấn. Đọc rồi chúng ta nhớ mãi, không phải là nhớ một ý tưởng, nhưng nhớ một cảm xúc, một hình ảnh tác động mạnh.

Chúng ta dùng tiếng nói để mô tả, để thẩm lượng, để sai khiến, và để tạo cảm xúc. Lời nói tự nó càng khích động nhiều cảm xúc, thì càng nhiều chất thơ. Vì vậy sự phân biệt thơ và văn xuôi có thể đo lường ở mức cảm ứng với ngôn ngữ trong lòng người đọc. Đó là một kích thước trong nhiều kích thước. Văn là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ để nói về cuộc đời trước mắt chúng ta. Không phải từng tiếng, từng câu, từng đoạn, mà là toàn thể tác phẩm, với một phong cách riêng, đã tạo ra nghệ thuật. Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu của Trần Vũ, Vũng Nước Đọng của Thế Giang, Chuyện Năm Ngày của Phạm Thị Hoài có những phong cách độc đáo như thế.

Đọc Tướng Về Hưu của Nguyễn Huy Thiệp chúng ta xúc động không phải chỉ vì các tình tiết trong câu chuyện. Mối xúc động lớn nhất là do cách nhân vật kể chuyện. Nó dửng dưng, lạnh lùng. Người, vật, câu nói, nỗi buồn, cảnh vui, người chết bịnh, người chết trận, tất cả xuất hiện bên cạnh nhau như các đồ vật, cái bàn, cái ghế. Qua cách kể chuyện, chúng ta thấy linh hồn của một thế giới, một xã hội.

Nadine Gordimer kể rất nhiều chuyện về xã hội Nam Phi, nhân vật da trắng và da đen. Đọc một truyện ta thấy người da đen và người da trắng yêu nhau, những người da trắng thường rất tốt, rất tử tế. Nhưng cách ứng xử của các nhân vật, cách các nhân vật nhìn nhau, chính cái đó khiến độc giả thấy ghê rợn tâm lý kỳ thị chủng tộc. Không phải các hành động của nhân vật tố cáo cách kỳ thị chủng tộc. Nhưng cách họ nhìn người da đen, cách họ nói, nghĩ, với tất cả thiện ý, mới gây cảm giác buồn nôn. Trong xã hội đó, người da đen xuất hiện như những con vật nuôi trong nhà, hay các đồ dùng; những người da trắng nhìn người da đen ở cạnh mình như ở một thế giới xa cách, không thể hiểu, không thể chạm tới được, không thể chia sẻ được.

Khi nhà văn tạo ra một bút pháp riêng biệt, đó là một cách nói riêng, chứ không phải là đề tài riêng… Thế Giang, Trần Vũ, Hồ Đình Nghiêm, Nguyễn Huy Thiệp cũng như các nhà văn thế hệ trước, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, có lối văn truyện ngắn riêng vì họ chọn cách kể chuyện riêng. Đọc họ, chúng ta có thể nhận ra ở mỗi truyện một dấu vết, như những nét mặt, những dấu tay.

Cũng vậy, khi nhớ lại những tác phẩm lớn trong văn chương thế giới, dù chỉ đọc bản dịch, chúng ta thường hình dung một khung cảnh toàn bộ trong đó các nhân vật sống, thở, nói, hành động, mà không cần chú ý đến các tình tiết trong câu chuyện.

Nét vẽ câu thơ 


Có lần Wittgenstein dạy học, ông đưa ra một thí dụ. Ông bảo học trò hãy thử vẽ hai hình vuông giống nhau và nhận xét coi, họ sẽ thấy giữa hình vuông này hay hình vuông kia thực ra coi hình nào cũng được. Xong rồi, lại thử vẽ hai nét mặt người. Sẽ thấy, dù chúng ta cố ý vẽ cho giống nhau, nhưng nhìn hai khuôn mặt, chúng ta sẽ thấy chúng khác nhau. Bắt chước vẽ một cái hình mặt người rất khó, vẽ lại một cái hình vuông thì rất dễ.

Sự khác nhau đó một phần ở nơi nét vẽ, một phần ở nơi người coi. Một người vào trong tòa nhà, thấy cái bảng vẽ hình điếu thuốc lá trong vòng tròn, bị gạch chéo, thì biết rằng trong nhà đó cấm hút thuốc. Sau đó, nếu hỏi hình điếu thuốc vẽ thế nào, dài hay ngắn, có vẽ khói bay lên hay không, nhiều hay ít khói, thì người ta có thể đã quên mất. Người ta có thể không nhớ lệnh “cấm hút thuốc” mới coi được diễn tả bằng hình vẽ hay chữ viết. Vì khi nhìn thấy bảng hiệu đó, người ta chỉ chú ý đến nội dung, mà không chờ đợi gì ở hình thức cả. Hiểu được ý cấm hút thuốc, là đủ. Hình điếu thuốc quay về phía bên phải hay bên trái không quan trọng.

Khi đọc văn xuôi loại báo cáo khoa học cũng vậy. Người ta không chờ đợi gì ngoài nội dung của bản báo cáo. Nghe tin thời tiết người ta cũng có thái độ tương tự. Nhưng đọc hai bài thơ cùng viết về cảnh sương mù ở miền Tây Bắc, người ta sẽ thấy khác nhau. Không thể nói: đọc bài thơ này hay bài thơ kia cũng được. Ngược lại, phải nói: “Đọc xong bài thơ này, nên đọc thêm bài thơ kia nữa.” Khi nào bài thơ mà có thể đọc hay không đọc cũng được, đọc bài này hay bài khác cũng vậy, thì thứ thơ đó không đủ chất thơ, hoặc hoàn toàn không có chất thơ.

Thử so sánh hai đoạn thơ lục bát cùng nói về tình yêu quê hương.

Đoạn thứ nhất:

Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả dập dờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều
Quê hương biết mấy thương yêu
Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau
Mặt người vất vả in sâu
Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn

…. (bỏ bớt 4 đoạn)

Ta đi ta nhớ núi rừng
Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ
Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô
Bát canh rau muống, quả cà ròn tan
(Nguyễn Đình Thi, 1958)

Đoạn thứ hai:

Xuôi nam tôi thấy rừng tràm
thấy dừa lả ngọn, thấy cam trĩu cành
thấy rào dâm bụt tươi xanh
thấy bông trang nở đỏ quanh nhà người
thấy sân nắng rợp bóng xoài
thấy me thay lá rơi dài lối đi
thấy cò trắng đậu bụi tre
thấy ven bờ nước tím hoa lục bình
thấy tôi đứng ngẩn ngơ nhìn
thấy tôi nhớ quá quê nghìn dặm xa
thấy tôi lạc chợ bao mùa
thấy tôi thèm một chỗ về, tôi ơi!
(Nguyễn Văn Ngọc, 1989)

Đoạn trên là của một nhà thơ già tuổi đời và già tuổi nghề. Đoạn dưới là của một nhà thơ tôi vừa đọc lần đầu tiên (báo Thế Kỷ 21 xuân Canh Ngọ, tháng 1-1990). Nhưng tôi thấy đoạn thơ thứ hai đầy chất thơ, còn đoạn thứ nhất rất… xuôi. Cái gì đã gây cho tôi cảm tưởng như vậy? Phải chăng vì bài thơ của Nguyễn Văn Ngọc (xưng tôi) có chất vị thơ riêng, rõ ràng phong cách thi sĩ. Còn những đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi (xưng ta) không tạo ra cảm tưởng đó. Những câu thơ của ông Thi nghe chung chung quá, ước lệ quá, như thể ai muốn viết về quê hương, dùng thể thơ lục bát, thì cũng có thể sẽ viết đại loại như vậy. Những chữ dùng trong bài thơ, “đâu trời đẹp hơn,” “biết mấy thân yêu,” “chịu nhiều thương đau” nghe nhạt nhẽo. Những câu viết “vất vả in sâu,” “dòng sông vỗ bờ” thì hơi gượng, hoặc gượng vì ý, hoặc ép uổng vì vần điệu.

Ngược lại, bài thơ của Nguyễn Văn Ngọc toát ra vẻ thanh thản, tự nhiên, có khí vị riêng biệt. Trong toàn bài thơ của thi sĩ mới này tôi chỉ thấy một chữ hơi làm cho mình khó chịu, là chữ “quá” trong câu thứ mười (thấy tôi nhớ quá quê nghìn dậm xa). Nhưng hai câu chót thật là tuyệt vời, phải không?

Trở lại với thí dụ hình vẽ của Ludwig Wittgenstein, ta có thể nói bài thơ của Nguyễn Văn Ngọc giống vẽ mặt người, nếu có ai định mô phỏng viết lại thì hơi khó. Khó mà có một nhà thơ khác viết giống như bài thơ của Nguyễn Văn Ngọc. Nhưng nếu có ai định viết lại một bài thơ cho giống Nguyễn Đình Thi thì tôi chắc là không khó. Các hình ảnh, nhịp điệu trong bài thơ Nguyễn Đình Thi dễ lập lại cũng như vẽ một hình vuông thì dễ vẽ lại. Thơ Nguyễn Đình Thi thời xưa (Sớm mát như sớm năm xưa) độc đáo hơn nhiều.

Bài thơ độc đáo làm người đọc nhớ các đặc điểm về ngôn ngữ của nó, như nhớ một nét mặt người. Còn bài thơ tầm thường thì giống như cái dấu hiệu “cấm hút thuốc;” người đọc có thể nhớ đại ý nó nói gì, còn cách nói như thế nào không nhớ. Nếu nói lại cách khác cũng chẳng sao. Bài thơ hay, cũng như mặt người, biểu lộ một ngôn ngữ có cá tính. Nếu cảm xúc của thi sĩ có cường độ lớn, và năng khiếu của thi sĩ về sử dụng ngôn ngữ cao, hai thứ đó sẽ tạo ra cá tính. Người viết văn xuôi vẫn có cá tính, nhưng ở thơ cá tính nổi lên thành chủ yếu, đứng hàng đầu. Đọc bài thơ như gặp mặt, bắt tay với một người, nhìn chăm chú vào nét mặt, rồi không thể quên được. Điều đó ở trong văn cũng có, khi văn có chất thơ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét