Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2020

Đỗ Quý Toàn: Tìm Thơ Trong Tiếng Nói (Bản mới 2020)

Thần chú 


Kinh nghiệm nói đầu tiên của một đứa bé là nói với mẹ. Huỳnh Sanh Thông đã tìm chứng cớ ở rất nhiều ngôn ngữ để ủng hộ giả thuyết rằng khởi nguyên của tiếng nói là do sự tiếp cận của đứa trẻ sơ sinh với bà mẹ, đặc biệt là với vú mẹ. Tiếng mẹ đẻ là một phần của chúng ta, của cuộc sống, cách cảm nghĩ, cách nhìn, cách tiếp nhận thế giới. Lê Bi ngẫm nghĩ về 15 năm luân lạc, thấy chỉ còn mầu da và tiếng nói:

Bao bọc ta là màu da vẫn vàng
Che chở ta là ngôn ngữ mẹ đẻ
(Tự thân)

Ma lực của tiếng nói 


Lời nói trong thơ có đặc tính của những thần chú, mật ngữ. Nó tạo nên những ảnh hưởng mà lý trí dùng óc phân tích, óc duy lý không thôi không tiếp nhận được. Nó giống như tiếng chuông của Pavlov, mình nghe từ lúc mẹ bồng trên tay.

Chúng ta đã biết rằng trên thế giới này không có tiếng nói nào êm dịu hơn tên của chính mình. Không phải thi sĩ mới thấy “Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ,… tôi hét tên tôi cho nguôi giận…” (Thanh Tâm Tuyền). Một trong những lời nói đầu tiên mà một đứa trẻ nhận ra là tên gọi của nó. “Cu Tí, cu Tí! cười nào!” Cái tên nghe âu yếm, gần gũi, thân mật, kêu gọi. Khi lớn lên, đứa trẻ lại được nghe tên của mình kèm theo với những tiếng khác, như “em … yêu” hay “anh … mến,” tác dụng ma lực của tên mình càng mạnh.

Cũng như khi con chó nghe tiếng chuông, chúng ta nghe gọi tên, nghe bút hiệu của mình thì bao hạch tuyến trong cơ thể cùng phát động. Một trong những cực hình của các trại tập trung, trại tù cải tạo, là nó khiến người ta nghe đọc tên của mình lên thì hoảng hốt sợ hãi. Nghe gọi: “Anh nào là anh Lào: Lên ban làm việc” là giật mình. Trong tình cảnh đó, Tự Do được hiểu là khi mình nghe gọi tên mình thì không hoảng sợ nữa!

Những đứa trẻ hay bị cha mẹ gọi tên để la mắng chắc cũng chia sẻ nỗi sợ hãi như người tù cải tạo, và có lẽ sẽ muốn đổi tên mình. Khi một chàng trai được một cô gái cho phép gọi bằng cái tên thân mật trong gia đình cô vẫn gọi, “Lou ơi,” chàng biết rằng chàng bước vào một mối quan hệ mới. Người yêu nhau hay đặt tên mới cho nhau, cái tên chỉ chúng mình biết với nhau thôi.

Ngôn ngữ có ảnh hưởng ma lực khi một đứa bé thấy mình la to lên một tiếng thì người lớn tíu tít chạy lại, người vội bế mình lên, người chạy đi lấy tã thay, người vén áo cho mình bú sữa. Đứa bé bắt đầu có cảm tưởng tiếng nói, tiếng la, tiếng khóc và các âm thanh mà nó trộn lại, phát ra, có tác dụng kỳ diệu, thay đổi thế giới, gây ảnh hưởng, có thể sai khiến được người khác. Những tiếng u ơ đầu tiên là để đòi cái vú mẹ. Kêu lên một tiếng là cái vú ngon lành xuất hiện. Đối với trẻ sơ sinh, vú mẹ là tiếp xúc đầu tiên với thế giới. Tiếng kêu, cái bao tử, vú mẹ, mẹ và vũ trụ chung quanh, tất cả là một. Đó là kinh nghiệm đầu tiên về tiếng nói, vừa thực dụng, vừa có ma lực. Những nhà phù thủy đi xa hơn một bước nữa, họ nghĩ rằng mấy tiếng họ nói có tác dụng ngay cả với các chất sinh hóa, các vật vô tri. Họ hô phong hoán vũ, chữa bệnh, đánh giặc… bằng các câu thần chú.

Khi đứa trẻ lớn lên, học dùng tiếng nói là một diễn trình giúp nó làm chủ tình hình trong cuộc sống chung quanh. Đứa trẻ bày đồ chơi, gọi tên từng món một, thỏa thuê về quyền sở hữu tư! Ở trong nhà, gọi đúng tên các đồ vật là một cách bắt đầu để tập dùng, hay để chiếm hữu đồ vật đó. Khi đi học, gọi tên các chữ, học đúng tên các con vật, các định lý toán học, là làm chủ hiểu biết. Một người vào dự một cuộc hội thảo khoa học mà không biết dùng đúng các thuật ngữ thì cũng lớ quớ như một đứa trẻ gọi con dao là cái muỗng. Người ăn nói lắp bắp vụng về thì cũng “có tật” như người có bàn tay vụng về. Ngược lại thì mồm miệng đỡ chân tay.

Trong lúc học nói, tiếng nói luôn luôn có đủ hai tính chất: thực dụng và ma lực.

Tiếng nói lại có vẻ ma lực do ngữ pháp, tức là cách xếp đặt tiếng nói, tạo ra. Động từ là một loại tiếng rất lạ. Khi nói: “tôi hái hoa,” tiếng “hái” là động từ chỉ việc mình làm; việc làm đó thay đổi tình trạng ngoại vật là bông hoa. Tôi tưới hoa, tôi cắm hoa, tôi xé hoa v.v… đều như vậy. Nhưng khi nói: “tôi ngắm hoa” thì động từ “ngắm” không thay đổi tình trạng của bông hoa mà nói về người ngắm. Tuy nhiên cấu trúc của hai câu giống nhau, động từ “ngắm” ở vào vị trí giống như động từ “hái.” Vì thế người nói và người nghe có cảm tưởng “ngắm hoa” cũng là một cách tác động vào thế giới bên ngoài, như “hái hoa.”

Cách chúng ta dùng tiếng nói, ngữ pháp, khiến chúng ta có cảm tưởng mình có khả năng thay đổi thế giới nhiều hơn là thật sự.

Nguyễn Chí Thiện tin tưởng rằng:

Nhà thơ có khả năng biến chiếc điếu cầy thành bất tử…
Các nhà thơ sẽ đọc cho nghe những lời thơ
mà chẳng phải là tráng sĩ Kinh Kha tóc kia cũng dựng.
(Trước mắt nhà thơ – 1972)

Tác dụng thần chú của thơ làm cho chúng ta “thấy” những điều mà trước đó ta không thấy. Có thể nhìn mà không thấy. Thơ là thần chú vì chuyển đổi trạng thái tâm thần ta, tưởng như thế giới chung quanh cũng thay đổi. Thi sĩ ngắm hoa thược dược:

Đứng im ngoài hàng dậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu

Thi sĩ đã trả bông hoa về cho bông hoa, không chiếm hữu bông hoa, không bắt bông hoa làm một vật tùy thuộc vào người nhìn. Những câu thơ đã làm bông hoa hiện lên, hiện lên như cách thi sĩ đã nhìn thấy. Tác dụng ma lực vẫn đó. Quách Thoại đã khiến một bông hoa thược dược trở thành bất tử, cũng như Van Gogh đã làm bất tử mấy bông hướng dương.

Trong cảnh tù ngục Nguyễn Chí Thiện nghe thấy tiếng của hy vọng như tiếng gió, tiếng sóng, và ông khấn gọi bình minh:

Tôi mong mãi một tiếng gì như biển ầm vang dội
Một tiếng gì sôi nổi con tim
Đã bao năm rồi teo chết nằm im
Trong những quan tài hình hài hèn đớn
………
Tôi mong mãi một tiếng gì
Như tiếng ầm của bể
……....
Tôi vẫn nguyện cầu
Vẫn sống và tin
Bình minh tới, bình minh sẽ tới
………
Ôi tôi sống và tôi chờ đợi
Ngày triệu trái tim bằng nổ tung trời!
(Đồng Lầy)

Trong cơn cảm hứng của thi sĩ, câu “Tôi mong mãi một tiếng gì…” lập lại hai, ba lần. “Bình minh tới, bình minh sẽ tới”. Những câu thơ giống các lời cầu nguyện, và đối với người sống trong cảnh tù ngục lớn, một dân tộc chịu cảnh tối tăm, thì các câu thơ cũng là những lời tiên tri, lời thần chú gọi bình minh. Cảnh biển đen, cảnh biển ầm nổ, và các trái tim bừng nổ, những hình ảnh tạo nên tác dụng thần chú của lời gọi bình minh.

Một thi sĩ khác, cũng ở trong cảnh tù ngục, lại khấn: “Bình minh bình minh anh kêu khẽ cảm động muốn khóc”. (Thanh Tâm Tuyền). Hai cách đọc thần chú, hai cảnh bình minh khác nhau hiện lên. 

Hoa bố thí hương


Nhìn thấy thơ là tiếng nói hồn nhiên, thơ vượt ra khỏi tâm phân biệt, cũng là thừa nhận tính ma lực của ngôn ngữ thi ca. Một câu thơ vén màn lên, thế giới mới hiện ra.

Tác dụng thần lực của thơ, như là mặt trời thay đổi mọi vật dưới ánh nắng:

Ne seraient que ce qu'elles sont


Mặt trời làm cho mọi vật hiện lên như muốn nó phải hiện lên, cũng như nghệ thuật làm hiện lên các kinh nghiệm sống. Thơ có tác dụng đánh thức các hình ảnh và xúc cảm như vậy. Nghe đoạn Cầu hồn (Requiem) trong Symphonie Fantasique của Berlioz tôi thấy hiện lên cảnh giao đường rực rỡ trang nghiêm, vì các khúc cầu hồn đó thủa còn trẻ tôi đã nghe nhiều lần, lúc nghe mắt ngước lên nhìn cái vòm cao ở nhà thờ Cầu Kho. Nhưng nghe tiếng tụng bài Chú Vãng Sinh thì tôi lại rưng rưng muốn khóc. Vì nhiều lần nghe bài đó tôi thấy hình ảnh chiếc áo quan hay một lễ cầu siêu của người thân mới chết.

Năm 1975, khi tôi phải xa mẹ tôi, tôi biết rằng lòng tôi rất tiếc nhớ, không biết bao giờ mới lại được gặp mẹ. Nhưng tôi đang sống trong một trạng thái bàng hoàng, xao xuyến vì cảnh lìa bỏ quê hương, đến nơi xa lạ, tìm kế sinh nhai, lo các con còn nhỏ; cho nên tôi “nghĩ” rằng mình “nhớ mẹ” nhiều hơn là lòng tôi thực sự xúc động vì “nhớ.” Cho đến một hôm, sống mùa thu đầu tiên ở Canada, nhìn lá cây phong đổi màu đỏ áy bên đường, trong các công viên, tôi chợt nhớ câu thơ Nguyễn Du:

“Rừng thu từng biếc chen hồng”

Câu thơ đẹp diễn tả đúng hình ảnh mình chứng kiến. Đẹp quá!

Nhưng đọc câu thơ đó thì phải nhớ đến câu sau: 

“Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn”

Nhớ tới đó thì tôi bật lên nức nở. Lúc đó tôi mới sống thật nỗi nhớ mẹ. Tôi quên cảnh mùa thu, mà chỉ sống “tấm lòng thần hôn.” “Thần hôn” nghĩa là sáng, chiều, những người con có hiếu thường thăm nom cha mẹ buổi sáng, buổi chiều. Cô Kiều nghe chim hót động lòng nhớ mẹ, cha. Nghĩ đến bốn chữ “tấm lòng thần hôn” như là đọc một thần chú, làm cho tấm lòng đang lạnh lẽo khô khan rung lên, thổn thức.

Không phải câu thơ trong Truyện Kiều làm cho tôi cảm động khóc. Câu thơ đó chỉ đánh thức tiếng khóc có sẵn đang bị chìm lấp trong lòng. Câu thơ định hình một mối xúc động còn mơ hồ, bàng bạc, chìm khuất. Nếu không có mối cảm xúc chất chứa lâu ngày đó, thì đọc hai câu thơ thấy mờ nhạt hơn.

Lại một buổi tối chúng tôi ngồi uống trà, coi hoa quỳnh nở, trong căn phòng nhỏ. Mọi người ngồi xếp bằng, yên lặng nhiều hơn là nói, ngọn đèn chiếu vào bông hoa, bên cạnh một tượng Phật. Đó là một buổi tối thanh tĩnh, êm đềm, có người đọc thơ, có người hát, mọi người đều thở chậm và đều. Rồi hơn một tháng sau, đọc bài thơ của một người đã tham dự bữa đó, tôi chợt thấy mình sống lại giờ phút thưởng ngoạn hoa quỳnh lần nữa:

Nở thản nhiên một cách dị thường
Trước lòng thành hoa bố thí hương
(Bắc Phong)

Và lần này, tôi thấy mình sống hơn cả những giây phút đã ngắm hoa. Tôi chia sẻ rõ rệt hơn cái kinh nghiệm, của bông hoa nở thản nhiên, thản nhiên khiến mình kinh ngạc. Câu thơ làm hiện lên một thế giới trong đó chỉ có bông hoa từ bi và những tấm lòng thành. Không có các nhiễu xạ của các khái niệm, tình tự, âm thanh và hình ảnh khác.

Trong đời sống xã hội, ngôn ngữ vừa có tính thực dụng, vừa có tính ma thuật. Xã hội là một tập thể trong đó chúng ta trao đổi nhau các lời nói. Đứa bé lớn lên trong xã hội, học sử dụng ngôn ngữ hai cách. Kỹ thuật, khoa học dùng ngôn ngữ cho mục tiêu thực dụng, như dùng cái búa, cái xe. Dùng ngôn ngữ theo lối ma thuật khi người ta làm quảng cáo thương mại, hô khẩu hiệu tuyên truyền, tụng các bài kinh cầu nguyện, đọc thần chú.

Hai thứ ngôn ngữ ma thuật và thực dụng trao đổi với nhau, trộn lẫn vào nhau, một tiếng ở lãnh vực này bay sang lãnh vực kia, rồi trở về. Một vị ngyên thủ quốc gia đứng dậy nói: “Tôi tuyên bố khai mạc thế vận hội lần thứ ba mươi!” Cả vận động trường vỗ tay, chim bồ câu bay lên hàng đàn, cờ phất, mũ tung lên trời… Người ta chứng kiến cách dùng ngôn ngữ ma thuật. Mạch máu, trái tim mọi người người cùng chạy rồn rập. Tình huynh đệ thế giới, tự ái dân tộc, tinh thần thượng võ, những tình tự truyền qua bao nhiêu thân thể cùng một lúc như một luồng điện. Một câu nói đó làm thế giới biến đổi. Sống qua giây phút đó cũng giống như sống kinh nghiệm của con người thời sơ khai, họ lập đi lập lại một câu: “Ma quỉ! Mày đi chỗ khác!” với niềm tin rằng nếu mình nói đi nói lại mãi, con ma sẽ đi, người bịnh sẽ lành. Ma thuật chứa đựng hy vọng, lạc quan. Dùng ngôn ngữ ma thuật là biểu hiện lòng tin ở sức con người, là một cố gắng vượt ra khỏi nỗi nghi ngờ, sợ hãi. 

(Xem tiếp ngày mai)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét