Thứ Tư, 29 tháng 4, 2020



Để kỷ niệm ngày 30 tháng Tư năm nay 2020, Diễn Đàn Thế Kỷ quyết định làm một số báo đặc biệt, với sự đồng lòng đóng góp bài vở của một số khá đông bạn bè cầm bút. Chủ đề của số báo này, một cách tổng quát, là nhìn lại và trình bày một cách khách quan, trung thực những gì tích cực, những gì tốt đẹp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng nhắc lại với một thái độ không phải chỉ để hoài niệm, mà mang ý hướng đóng góp trở lại cho nước Việt Nam hiện nay và mai sau. Một công trình dở dang của quá khứ, nửa thế kỷ sau áp dụng trở lại cho tương lai, tại sao không ?

Từ năm 1954, để kết thúc trận chiến tranh với Pháp, Việt Nam được một cuộc hội đàm quốc tế tại Genève chia ra làm hai phần, phía bắc vĩ tuyến 17 thuộc phe cộng sản, phía Nam phe tự do, thường gọi là phe quốc gia. Từ thời điểm ấy, hai chính quyền Bắc và Nam có chương trình riêng. Phía Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, độc tài, chuẩn bị sức mạnh để đánh chiếm miền Nam; phía Nam tiếp tục truyền thống của nước Việt Nam cũ, cộng với kiến thức và tinh thần mới từ thế giới tự do, ra sức xây dựng một đất nước thịnh vượng và tiến bộ. Với sự viện trợ tích cực của phe cộng sản trên thế giới, chính quyền miền Bắc tiến hành mở cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam. Và cuối cùng họ đã chiến thắng, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, mở rộng thêm biên giới cho phe xã hội chủ nghĩa xuống phía nam châu Á.

Một số nước Á châu, trong phong trào giải thực từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, cũng bắt đầu xây dựng gần như cùng một khởi điểm với Việt Nam Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam, như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Phi Luật Tân, Thái Lan… nay hầu hết đã thành những quốc gia dân chủ giàu mạnh, trừ Việt Nam. Có một điều chúng ta có thể khẳng định chắc chắn, là : nếu miền Nam Việt Nam không bị cuộc chiến tranh xâm chiếm của miền Bắc thì ngày nay đã trở thành một trong những nước thịnh vượng đó, nếu không hơn thì cũng ngang bằng với những Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore... Vì miền Nam hội đủ các yếu tố để tiến bộ, trên thực tế đã là một xã hội văn minh : một chế độ dân chủ tôn trọng con người, một nền giáo dục khai phóng, một kho tài nguyên nhân vật lực vô cùng phong phú.

Cuộc chiến tranh do miền Bắc chủ trương đánh chiếm miền Nam, hơn nửa thế kỷ sau, dần dần lộ ra diện mạo thật của nó : đó là cuộc chiến thắng của nền độc tài sắt máu trên một nền văn minh. Văn minh được xây dựng trên nhân bản, độc tài dựa trên lý thuyết không tưởng, bắt nhân dân đi theo như một đàn cừu. Trong lịch sử nhân loại, nhiều lần hung nô thắng một nền văn minh, nhưng sau cùng vẫn được văn minh cải hóa và đồng hóa.

Miền Nam đã thua trận vào năm 1975, nhưng nhiều cái ưu việt của miền Nam vẫn còn tồn tại đến ngày nay, mặc dù trong gần nửa thế kỷ qua phe thắng trận liên tục lăng mạ, giam hãm, xóa bỏ triệt để những thành tựu của xã hội văn minh ấy, để thay thế vào đấy là những xiềng xích, những độc tài thô bạo, những bắt bớ giam cầm. Như một quy luật, những gì chân thật thuộc về Con Người thì không thể xóa bỏ được.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã mở ra một phong trào bỏ nước ra đi lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ ngày lập quốc đến nay. Kết quả là nửa triệu người đã chìm sâu trong biển cả, số còn lại định cư trên nhiều quốc gia văn minh để xây dựng cuộc sống mới. Cuộc sống mới ấy khẳng định có một cộng đồng người Việt Nam mấy triệu người ở ngoài nước Việt Nam, tuyệt đại đa số mang căn cước công dân Việt Nam Cộng Hòa, không ngừng xây dựng đời sống tinh thần và vật chất trên những đất nước mà họ tá túc. Ngay trong những năm đầu của cuộc đời lưu vong, họ đã làm một công việc ý nghĩa nhất, là tái bản bằng cách chụp và in lại hầu như tất cả sách đủ loại của miền Nam trước 1975. Nhờ nỗ lực này, người di dân không bị cắt đứt với đời sống tinh thần vốn có của mình, và nguồn sách mới tái bản này đã giúp ích rất nhiều cho các nhà nghiên cứu Việt Nam trong nước và tại hải ngoại. Về sau khi kỹ thuật điện toán được phổ cập, tài liệu sách vở của miền Nam trước 1975 lại được một số nhóm điện toán hóa, giúp cho sự phổ cập được rộng khắp và nhanh chóng. Nhờ vậy, với bản chất nhân ái và lương thiện của người dân miền Nam, tập thể người di dân đã giữ gìn được bản sắc văn hóa của mình, và đóng góp nhiều thành tựu về trí tuệ lẫn kinh tế cho những nước đã đùm bọc họ. Và cũng nhờ sự bảo tồn này gia tài văn học của hai mươi năm của miền Nam được lưu giữ, dù đã qua những trận phần thư khủng khiếp của bên thắng trận trong nhiều năm sau 75.

Trong khi đó, cuộc sống trong nước Việt Nam cho thấy, dù bị cấm đoán và sỉ nhục bởi nhà cầm quyền, những nét văn hóa hay ho của “chế độ cũ” vẫn sống còn, không những chỉ với người miền Nam mà còn lan tỏa ra khắp nước. Rõ ràng nhất là âm nhạc, rồi tín ngưỡng, sách vở, nếp sống… từ từ đến với đồng bào phía Bắc như là những gì thân thuộc với con người mà đã từ lâu họ bị cấm đoán.

Trong số đặc biệt này chúng tôi tạm chia bài vở ra làm hai phần. Phần đầu, ngày 29/4, bàn về các vấn đề liên quan đến cuộc di dân lịch sử làm thành một khối người Việt đông đảo tại hải ngoại, cùng một số nhận xét khác liên quan đến đời sống văn hóa chính trị của miền Nam trước kia. Phần thứ hai, ngày 30/4, là các nhận định, đánh giá về nền văn học của hai mươi năm miền Nam. 

Hầu hết bài vở của số báo này là do các văn hữu gửi trực tiếp cho Diễn Đàn Thế Kỷ. Ngoài ra có một số nhận xét đặc sắc của các tác giả ở xa mà chúng tôi sưu tầm được, xin được đưa lên, với lời xin lỗi vì đã không thể liên lạc để xin phép trước. 

Cuối cùng chúng tôi xin gửi lời cám ơn tất cả các văn hữu có bài vở đóng góp và quý độc giả chia sẻ và thưởng thức nội dung của số báo đặc biệt này, với ước mong ngày 30 tháng Tư năm nay sẽ mang tới cho quý vị một ý nghĩa mới.

Diễn Đàn Thế Kỷ


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét