Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2020

Bùi Ngọc Tấn: Người ở cực bên kia

Tôi là Các-nô đây, thầy còn nhớ tôi không...
(Quốc văn giáo khoa thư)

Chiếc Toyota tay lái phải lượn sát hè, dừng lại rất êm. Máy vẫn nổ. Một người mở cửa bước ra. Mũ phớt, áo pôđơđanh lửng đến đùi, mặt tròn, da căng, miệng cười rất tươi. Người ấy giơ mũ chào hắn. Hắn biết ngay đấy là Đàm. Đúng, đấy chỉ có thể là vẻ mặt, là dáng người tự tin, thành đạt, là nụ cười rạng rỡ của các “sếp”.

Cửa hàng ghế sau bật mở. Hắn bước lên. Đàm ngồi ghế trên, cạnh lái xe, “ghế thủ trưởng”.

Ngồi cạnh hắn ở ghế sau, như Đàm giới thiệu là ông trưởng phòng tổ chức của Đàm.

Xe hiện đại, đệm nhung màu huyết dụ, lún người. Những đèn xanh, những kim đồng hồ đưa đi đưa lại trên bảng phía trước. Những bao thuốc lá “ba số” vứt cẩu thả trên xe. Tự nhiên hắn cảm thấy mình là người quyền quý. Ông trưởng phòng tổ chức mời hắn hút thuốc và một cách kính trọng đưa cho hắn cái bật lửa manhêtô xinh đẹp như một đồ trang sức. Đàm đã giới thiệu hắn là bạn. Là bạn của giám đốc, hắn xứng đáng được hưởng như vậy.

Hắn làm ra vẻ thân mật với Đàm. Thân mật và thông thạo:

- Cái xe này của các cậu, tàu Đ.N nó biếu phải không?

Đàm nháy mắt với hắn như muốn gạt ngay đi một đề tài kiêng kị.

Như vậy ông trưởng phòng tổ chức làm sao biết được đây là lần đầu tiên hắn với Đàm gặp nhau. Hắn bốc lên nói với Đàm và với ông trưởng phòng tổ chức một cách ngang hàng:

- Không mấy khi có bạn bè là các “sếp” thế này mà mình không có đứa con nào để nhờ vả. Ba đứa con lớn học ra trường đi làm rồi. Còn cháu út mới đang học lớp 12.

Đàm quay lại cười:

- Tưởng có đứa nào thì cứ quẳng hồ sơ cho anh Chí tôi đây.

Chí (tên ông trưởng phòng tổ chức) hoạ theo:

- Vâng. Cứ có chữ ký của thủ trưởng Đàm là “em” làm quyết định ngay.

Đó là một kiểu nói hắn đã nghe nhiều lần khi chầu chực các cửa xin việc cho ba đứa con lớn (tất nhiên cách nói không thân mật như thế này). Lúc đó hắn lặng người đi, rủa thầm: “Lại đồng đổ cho cốt, cốt đổ cho đồng”. Nhưng bây giờ hắn hóm hỉnh:

- Chưa chi các thủ trưởng đã đá quả ban sang chân nhau thế, còn hy vọng gì được.

Tất cả cười vang. Ông trưởng phòng tổ chức ngoái lại phía sau, lấy ra mấy lon Heineken.

- Anh uống đi.

Lái xe không uống. Hắn bật miếng kim loại trắng. Hắn đã nhìn người ta bật nhiều lần, nên cũng biết cách mở bia lon. Chờ hết tiếng xì hắn ngụm một ngụm loại bia thượng thặng, loại bia hắn vẫn thấy xếp chồng lên nhau ở các cửa hàng ăn, cửa hàng giải khát mà phía ngoài hè thường dựng các loại xe máy của Nhật sáng loáng, chí ít cũng là xe đạp mini hai dóng, loại xe thời thượng. ở trong quán toàn những đàn ông đàn bà đẹp đẽ, khoẻ mạnh, vui tươi, mọi thứ trên người đều hiện đại, đắt tiền, từ đôi giầy, đến cái kính. Hắn coi họ là những người ở hành tinh khác, không nói cùng một ngôn ngữ. Đi qua những chỗ ấy, hắn cảm thấy đúng là một thế giới khác, thế giới ấy không phải của hắn, không dành cho hắn, và hắn đi nhanh, chẳng gợi một ý niệm gì.

Giờ đây, uống ngụm bia Hà Lan, hút thuốc Ăng-lê, ngồi trên xe Nhật phóng nhanh và êm lạ lùng này, hắn cảm thấy lọt ngay vào tung thâm của cái thế giới ấy, dù chỉ trong chốc lát, và hắn bỗng thương vợ con hắn cả đời khổ sở.

Giám đốc Đàm cùng học một trường với hắn. Hôm nay hai người đi dự hội trường. Kỷ niệm bốn mươi năm thành lập trường H.T.

Đàm học sau hắn ba năm, cùng lớp với vợ hắn. Hắn không biết Đàm vì Đàm học lớp dưới, lại chỉ ghé qua học ở trường H.T một hai năm rồi đi đâu đó. Còn hắn. Hắn gắn bó với trường học từ lớp đệ nhất (theo hệ cũ - tương đương lớp 5) tới lớp 9, nghĩa là bằng lớp 12 bây giờ. Những năm tươi đẹp nhất của hắn, tuổi trẻ của hắn là ở trường H.T.

Đàm biết hắn. Vì hắn học lớp trên, học giỏi nhất trường lại có nhiều tài văn nghệ, làm bích báo hay, thuộc nhiều bài thơ, ứng khẩu những câu hò. Buổi sinh hoạt tập thể nào của lớp hắn cũng vui hơn hẳn các lớp khác. Thầy quý, bạn yêu, học sinh lớn, hoạt động hiệu đoàn... đó là những điều làm cho Đàm biết về hắn.

Hắn biết Đàm qua ban liên lạc trường H.T. Các bạn hắn ở Hà Nội bảo: “Mày không biết thằng Đàm à ? Nó học với cái Thịnh đấy”. “Cái Thịnh” là vợ hắn đã ngoài năm mươi tuổi. Vợ hắn biết Đàm. Vợ hắn bảo: “Ông ấy là quan to rồi”. Đàm làm giám đốc một công ty lớn thuộc thành phố hắn ở. Các bạn hắn còn bảo: “Thằng Đàm nó vẫn nhớ mày đấy. Nó bảo Tuấn làm báo T.P chứ gì”.

Thế rồi một hôm hắn nhận được điện thoại của Đàm. Đàm hỏi số nhà, hẹn giờ, đem xe đến đón hắn đi Hà Nội dự hội trường, gặp lại thầy cũ, bạn cũ. Phía sau xe có mấy “các tông” bia Heineken. Đàm giải thích: “Dự đám cưới con ông vụ trưởng”. Vốn rất giàu tự trọng và nhạy cảm, hắn hiểu. Xe chỉ đưa hắn đi thôi. Còn khi về hắn phải đi xe hàng.

Đàm trò chuyện với hắn rất thoải mái. Chỉ tiếc rằng hai người không có những bạn học chung. Đàm nói: “Tôi học với bà ấy hai năm thôi rồi đi”.Thật tình hắn cảm thấy hội trường đối với Đàm cũng bình thường thôi. Hình như Đàm đến dự vì có thể kết hợp được với đám cưới con ông vụ trưởng và qua sự gặp gỡ lại bạn bè có mặt ở nhiều ngành, Đàm đầu tư một cái vốn có thể dùng đến trong tương lai.

Họ đến Hà Nội sớm. Xe chạy nhanh, những chỗ quang tới 80 km giờ. Tới phố Trần Hưng Đạo, Đàm bảo cho xe rẽ phải, “ông yên tâm, số x... Trần Hưng Đạo là thuộc Bộ tôi mà”.

Xe dừng lại trước một khách sạn ba tầng. Một tờ giấy dán trên cửa: Hội trường trường H.T trên gác hai.

Sau khi dặn dò lái xe quay lại đón, Đàm cùng hắn bước vào khách sạn. Hắn ngạc nhiên: Rất nhiều ông già, bà già đứng ở tầng trệt, và đang đi lên gác. Áo vét-tông cũ, áo pa-đơ-xuy sờn, đàn ông tóc xoã, hoa râm hoặc bạc trắng, đàn bà thì áo lông Đức, áo vét là phẳng, khăn len. Trông phía sau cũng biết là những ông bà già, hơn nữa những người trí thức “đói cho sạch, rách cho thơm”.

Đàm bắt tay một người quen, cũng có dáng một “sếp”. Đàm kéo hắn đi theo, nhưng hắn muốn đứng một mình nhìn ngó.

Lưng chừng thang gác, một phụ nữ đứng nói chuyện với một người đàn ông tươi cười. Hắn giật mình. Ngọc! Người bạn gái xinh đẹp nhất trường, cùng học một lớp với hắn. Hắn cũng nhận ra ngay Lê Bàn, người đang đối thoại với Ngọc. Đó là người bạn từ thuở đi học cho tới tận bây giờ, khi hắn thất cơ lỡ vận.

Hắn chững lại, không dám bước lên nữa. Thì ra đám ông bà già kia là bạn hắn! Thì ra bọn hắn đã già đến thế. Lúc nào hắn cũng có cảm giác mình chưa sống được bao nhiêu, còn nhiều duyên nợ lắm với cuộc đời này, bao giờ cũng là con nít so với những vị tiền bối cách mạng. Thế mà hoá ra bọn hắn sắp tới cõi rồi. Thật là buồn thảm. Chẳng lẽ hắn cứ thế này rồi chết sao?

Hắn dừng lại, vì không muốn gặp Ngọc trong lúc này. Hắn không muốn người đầu tiên hắn gặp là Ngọc. Phải qua mấy người bạn khác để tự đánh giá, xếp loại mình và để tạo được một không khí hoà nhập đã.

Rất nhiều người đi qua đi lại, nhưng không ai nhận ra hắn. Hắn đã khác thế rồi sao? Mà khác là phải thôi! Bao nhiêu khốn nạn đã ập lên đời hắn. Hắn chợt nghĩ: Hắn phải già hơn bạn bè một thế hệ. Đúng, hắn thuộc thế hệ khác.

Ngọc cũng già đi nhiều. Nhưng vẫn giữ được những nét ngày xưa. Đó là khuôn mặt bầu bĩnh. Đôi mắt dù đã mệt mỏi, nhưng vẫn là đôi mắt ngày xưa. Vết lúm đồng tiền nữa. Cũng vẫn là vết lúm đồng tiền ấy! Nhưng trong cái áo vét cổ bẻ, cái quần tít-xuy len gọn gàng, Ngọc trông gầy và già quá.

Thì ra tuổi trẻ của hắn là như vậy.

Lẽ ra cô hoa khôi ấy đã là cuộc đời hắn. Nhưng chỉ vì cùng quá kiêu hãnh, nên hai người xa nhau. Kìa! Ngọc đã lên gác. Lê Bàn đi xuống, Bàn nhận ra hắn ngay:

- Thằng Tuấn! Thằng Tuấn!

Bàn reo lên, nói oang oang:

- Tao vừa nói chuyện với cái Ngọc. Bọn thằng Tam Lang, thằng Tuyên, thằng Tốn chúng nó hỏi tao mày có lên không? Tao bảo chưa thấy mày đâu. Sao? Mới lên sáng nay à! Đi lên đi. Cụ Thuyên, bà Hường, ông Phong Châu... đủ cả.

Hắn thấy ấm lòng vì cử chỉ ấy của Bàn. Bàn với hắn bao giờ cũng là như vậy. Cái nghiệp văn chương khiến hai người gần gũi nhau. Bàn làm ở một nhà xuất bản, sống độc thân trong một căn buồng hẹp. Bếp núc đặt ngay dưới gầm bàn viết. Có việc lên Hà Nội, hắn chỉ đến nhà Bàn. Hai người cởi trần, quần đùi, rang lạc, uống rượu, tuy cả hai cùng không uống được rượu. Bàn vẫn thông báo với hắn mọi diễn biến của đám bạn học.

Bàn nắm tay hắn, đi lên gác:

- Thịnh không lên à?

Bàn lại bảo: “Cái Tư. Cái Tư nó hỏi mãi đấy. Nó cứ mong cái Thịnh. Nó làm viện thiết kế. Bỏ chồng rồi. Thằng chồng nó cũng phó tiến sĩ gì cơ đấy. Nhưng là một thằng khốn nạn ấy mà. Nó mong cái Thịnh lắm”.

Hắn cảm thấy yên tâm. Bè bạn không quên hắn. Hắn bước những bước tự tin.

*

Họ gặp nhau trong căn phòng lớn. Những bàn phía dưới còn trống. Những bàn phía trên đã kín người. Các thầy cô giáo ngồi ở dẫy bàn ngang, phía trên cùng, gần bục diễn giả có đặt micrô.

Hắn bước vào phòng lớn. Đứng lặng người, quan sát tất cả khuôn mặt bạn bè. Đó là một đám đông gầy xanh và mệt mỏi, nhưng lúc này đây người nào cũng cười tươi và mắt cháy lên những kỷ niệm. Cũng có vài người bóng loáng lên. Từ nước da, tới quần áo. Tới vẻ mặt, tới nụ cười.

Không ai để ý đến hắn. Hắn là một trong hai người bất hạnh nhất trong số bạn bè. Bạn học với hắn có hai người là Thứ trưởng, vài người là Viện trưởng. Hai người đi tù, thì một là hắn. Sự vật phát triển theo hai cực. Hắn ở cực bên kia.

Hắn đi tù, không án, không buộc tội. Trong tù hắn làm đơn. Ra tù hắn làm đơn. Những địa chỉ ghi trên phong bì động viên hắn, tiếp thêm sức mạnh cho hắn. Hắn nhịn ăn, hắn vay giật, hắn tìm mọi cách kiếm tiền để thuê đánh máy, đi kêu oan.

Đó là những chuyện mười lăm năm trước. Giờ đây hắn không kêu nữa. Có lẽ đơn của hắn đọng lại ở đám thư ký, đám cán bộ trung gian. Hắn hiểu rằng đơn của hắn lẫn vào hàng ngàn lá đơn khác và sẽ được người ta chuyển về thành phố nơi hắn ở “để giải quyết”. Đó là cách làm gọn ghẽ nhất, đúng nguyên tắc nhất, yên ổn nhất về mặt lương tâm cũng như trách nhiệm. Khi đơn của hắn lại chuyển về nơi hắn ở, hắn biết ngay. Người ta lại kiểm tra hộ khẩu hắn. Rồi những buổi viếng thăm của các ông công an, những buổi gọi bố con hắn ra đồn khai lại lý lịch...

Việc kiểm tra hộ khẩu làm hắn khổ nhất. Một dãy nhà liền nhau, chỉ kiểm tra mỗi nhà hắn. Lại còn thời điểm kiểm tra nữa! Trước bầu cử Quốc Hội, trước đại hội Đảng thành phố. Trước mồng 1 tháng 5. Trước ngày mồng 2 tháng 9. Trước tết tây, tết ta. Hắn biết hắn là đối tượng, xóm láng đều hiểu gia đình hắn là gia đình đối tượng.

Đang ngủ thì có người gõ cửa. Chưa mở mắt cũng biết là có người kiểm tra hộ khẩu. Trước đây gõ cửa như vậy là bè bạn. Là các nhà văn, nhà báo, là biên tập viên các nhà xuất bản. Giờ đây chỉ có thể là kiểm tra hộ khẩu. Điều khổ tâm nhất là lúc đó nhà hắn lôi thôi quá, lúc cả nhà đã đi ngủ rồi ấy. Cái nghèo túng phơi bày ra cả ra. Cái bàn viết của hắn giờ không có giấy, có sách nữa mà ngổn ngang các thứ. Điều cày, cốc chén mẻ chỏng chiêng. Đèn hoa kỳ thông phong vỡ đen ngòm. Một rá gạo đã nhặt sạn, hạt vàng nhiều hơn hạt trắng, để sáng sớm hôm sau dậy nấu ăn (khi xóm giềng xem ti - vi thì nhà hắn túm tụm lại nhặt sạn- hắn gọi việc đó là xem ti-vi. Hắn gọi các con lúc đó đã học bài xong: “Nào bố con mình xem ti-vi đi”). Quần áo lành rách quẳng mỗi nơi một chiếc. Vợ hắn vơ vội vất vào một góc giường rồi cùng hắn nhàu nát, chằm đụp mở cửa đón khách. Chẳng biết mời khách ngồi đâu. Thiếu giường, con cái hắn ngủ đất. Màn bục từng mảng, phải khâu và dán bằng giấy báo. Hai đứa con gái nằm sát lối đi, ngồi nhỏm dậy trong màn. Hai đứa con trai nằm trong màn phía góc nhà ngỏng đầu lên như tằm ăn rỗi. Chúng ngóc thế để anh hộ tịch đếm, xem có thừa ai, thiếu ai.

Ông Thụ, thợ cắt tóc, đại biểu tiểu khu cùng đi kiểm tra (nguyên tắc nó phải như vậy) ra đến cửa còn bảo vợ hắn:

- Sao không cố mua cho cháu cái màn.

Những giọt nước mắt nóng bỏng lăn vào tim hắn. Sau khi mọi người ra về, cả nhà hắn không ngủ. Không ngủ nhưng im lặng. Không ai nói một câu. Không ai thở dài. Người này sợ người khác buồn.

Hắn thương lũ con hắn. Xinh xẻo, thông minh, biết thân, biết phận. Học giỏi, thương bố, thương mẹ. Tương lai chúng ra sao?

Hắn thương vợ hắn. Cô nữ sinh kháng chiến năm nào, yêu hắn, tin tưởng ở hắn. Tin tưởng ở tương lai. Chỉ vì lấy hắn mà khổ một đời. Được cơ quan cử đi học đại học. Đang học thì bị đuổi, chỉ vì hắn đi tù.

Hắn nghĩ: Tất cả là tại hắn đi viết văn, viết báo mới đến nỗi này.

Hắn học giỏi nhất lớp, văn nhất đã đành, toán cũng nhất, địa lý cũng nhất nữa.

Thời của hắn không phải thi vào đại học. Phó tiến sĩ được đào tạo theo hợp đồng. Nếu học khoa học tự nhiên, cái học vị giáo sư, phó tiến sĩ là cái chắc. Hắn nghĩ vậy. Đấy, giáo sư nổi tiếng Lê Văn Phúc, khi còn đi học với hắn, chuyên nhờ hắn giảng cho những bài toán khó. Phó tiến sĩ Châu, Thứ trưởng bây giờ, chỉ mong đuổi kịp hắn một môn toán mà không được chứ nói gì đến môn văn.

Hắn đi làm báo, hắn đi viết văn, bởi vì hắn muốn sáng tạo. Học năm năm thành kỹ sư, sáu năm thành bác sĩ, nhưng trở thành một nhà văn phải có một cái gì đó. Hắn nghĩ rằng hắn có “cái gì đó”.

Hắn đứng tìm từng nét mặt quen và khi phát hiện ra một bộ mặt già nua, mệt mỏi bây giờ chính là khuôn mặt căng mọng, yêu đời, tràn đầy sức sống của một thiếu niên bốn mươi năm trước, hắn vừa buồn rầu vừa thú vị. Thú vị vì thấy lại tuổi trẻ của chính mình. Buồn rầu vì hắn và cả bọn hắn đang ở chân dốc bên kia.

Nhiều người bước lên sau hắn. Có một vị “bien tenu”(1) đứng bên cạnh hắn. Hắn thì nhìn từng người, còn vị này nhìn bao quát chung. Hắn nhìn nhanh người đó và lục lọi trí nhớ, chỉ thấy mỗi vẻ mặt uy nghiêm và đôi mắt sáng. Không. Không nhận ra. Một người khác lại bắt tay và nói với người đó:

- Anh Thuận, anh vào trong này.

Thì ra là Thuận.

- Không. Mình đến qua một tý thôi. Hôm nay có đoàn khách nước ngoài.

Tiếng nói xen với tiếng hít mạnh, đúng là Thuận. Thuận đã khác hoàn toàn. Nhưng giọng nói và cách nói bị cắt giữa những tiếng hít mạnh thì vẫn như xưa.

- Anh không bảo viện phó nó tiếp được à.

- Mình còn phải chuẩn bị chiều lên báo cáo với Ban bí thư về hội nghị quốc tế mà mình đăng cai.

Hắn nghe tiếng giầy của Thuận dằn xuống từng bậc thang thong thả.

Hắn đi nhanh khỏi chỗ ấy. Bàn đón hắn:

- Tuấn! Vào đây. Đứng với thằng Thuận làm gì.

Bàn vẫn có tính ấy. Thẳng thắn, bộc trực, không chịu được kiểu cách của Thuận.

Hắn bảo Bàn:

- Ừ. Nó là siêu nhân rồi, nó đã trót học với chúng mình và bây giờ đang sửa lại sai lầm ấy. Nhưng ít ra nó cũng đến chào các thầy cô chứ.

- Thầy cô là cái gì đối với nó. Thầy nó là ông Viện trưởng T., ông ấy nâng đỡ nó. Cho nó sang Liên Xô làm luận án phó tiến sĩ. Đề nghị phong giáo sư cho nó, đưa nó lên làm viện phó. Rồi nó đá ông ấy luôn, lên làm viện trưởng.

Bỗng Bàn cười cúc cúc:

- Nó lên ti vi giảng giải luôn đấy. Mày có biết tao làm thế nào không. Không tắt ti vi. Cứ để hình, nhưng tắt tiếng. Buồn cười lắm mày ạ. Nó cứ chồm bên này, chồm bên kia như con choi choi. Chết cười.

Hai người vừa chuyện, vừa đi về khu vực lớp 9B, lớp của họ.

Những nụ cười tươi chào đón hắn.

*

Hắn lại là hắn bốn mươi năm trước giữa đám bạn bè, và bè bạn hắn cũng sống lại những ngày bốn mươi năm trước dù là người được số phận nuông chiều, leo lên tới đỉnh vinh quang hay công danh lận đận.

Tuyên, một người bạn cùng pô-pốt với hắn nay dạy đại học tổng hợp, chỉ vào Châu:

- Mày có biết nó làm gì không? Thứ trưởng đấy.

Hắn nhìn Châu, đôi mắt muốn nói: "Tao mừng cho mày". Và miệng hắn nói thành lời:

- Châu ơi. Bụng to thế kia, cậu ra sân bay đón khách quốc tế làm sao “ôm hôn thắm thiết” được.

Vừa lúc đó, một phụ nữ cao lớn đi đến. Hắn không ngờ Phạm Thị Mai lại có thể to lớn đến thế. To lớn, phúc hậu. Mai, bác sĩ, phó giám đốc bệnh viện trước đây vẫn đến rừng Phú Mỹ quét lá về đun. Hắn vào rừng kiếm củi. Hắn bỗng như nhìn thấy khu rừng im gió. Cây cao vút uy nghiêm, chỉ có tiếng lá rơi và tiếng sóc chuyền cành. Nàng tiên trong rừng, áo phin nâu, tóc cặp đuôi gà, ấn lá rừng vào quang.

Hắn bảo các bạn: Đừng nói nhá. Xem Mai có nhận ra không. Mai bắt tay hắn: “Bạn Tuấn, chẳng khác tí nào”. Hắn nói: “Đố ai quét sạch lá rừng”. Mai cười, xúc động: “Bao nhiêu lần hội trường nay mới gặp lại bạn”.

Bỗng nhiên Thứ trưởng Châu đứng lên: “Mày bảo tao không ôm hôn thắm thiết được à. Trông đây!” Rất nhanh, Châu bế bổng vị nữ bác sĩ lên. Mai giẫy giụa, la hét, hai chân quơ quơ trong không khí.

Hắn hoàn toàn tự tin và thoải mái giữa những khuôn mặt bạn bè in dấu tàn phá của thời gian. Hình như đấy là món quà cuối cùng cuộc đời dành cho hắn. Ngọc bảo hắn: “Sao bạn lặn ghê thế. Mất tăm tích, không thấy mặt mũi đâu”. Hắn bảo: “Mình tưởng mình lặn mãi đấy. Lặn luôn. Không trông thấy các bạn nữa”.

Hoá ra Ngọc đã là bà ngoại, hay xuống H. Ngọc bảo: "Bọn này biết hết chuyện của bạn. Thế không có cách nào giải quyết ư ?" Hắn nhìn Ngọc biết ơn và lắc đầu.

Lại một vị đại tá cao lớn, áo măng tô, da rất trắng đến. Khi được giới thiệu đó là Lê Ngọc Anh cậu học sinh bé nhất lớp, ngồi bàn trên với các nữ sinh, một chuỗi tên bỗng vụt ra khỏi tiềm thức hắn. Hắn đọc:

Trần Nguyệt Áng (vắng)
Lê Ngọc Anh (có)
Phạm Văn Bá (vắng)
Lê Bàn (có)
Nguyễn Thanh Châu (có)
Phạm Viết Chi (có)
Nhầm Thì Nhoài (vắng)

Cười. Cười nghiêng ngả. Cười giàn giụa nước mắt. Đoài đâu nhỉ. Đang ghi tiền. Ban tổ chức mà. Hắn gọi đúng thứ tự trong sổ điểm danh. Đến Đàm Thị Đoài hắn nói theo kiểu phát âm thầy giáo thể dục người Nhật Bản: Nhầm Thì Nhoài. Bàn hỏi: “Có đứa nào biết tin gì về Hoàng Văn Táy không ?” Thế là tất cả nhớ lại Táy, người bạn học dân tộc Thổ, lớn nhất lớp, “già hơn thầy giáo”, ngày ấy đã có con biết đi xe đạp!

Kỷ niệm sống lại. Mái đình trên dốc Xuân La. Đồi Sở nở hoa trắng. Cầu Lang Tạ bắc qua con sông máng. Những chiếc đèn con lập loè mà bầu dầu làm bằng hộp “gip”(1) đựng bông. Cây lim to trước cửa đình, lá nhỏ reo lên trước mỗi cơn gió nhẹ. Tiếng kẻng báo động. Những chiếc máy bay Hen-cát cổ rụt mầu xám sà thấp uốn lượn theo đường cong của núi rừng. Châu nhìn hắn thở dài: “Chúng mình già mất rồi”. Hắn vẫy Đàm vào ngồi. Đàm đang đi một mình vì không có bạn. Hắn muốn là người đỡ đầu Đàm. Bỗng Bàn kêu lên: “Thằng Hùng!” Hùng là người hắn rất muốn gặp. Hùng là tấm gương soi của hắn, hay đúng hơn là một thứ kiểm chứng. Hắn bật dậy, chạy ra. Hùng đang đứng cạnh cửa sổ, nhìn xuống đường. Complet, cravate, gầy, má hóp. Người bạn vui tếu nhất trường đây. Rõ ràng Hùng cũng rất tự trọng như những người sa cơ thất thế khác.

Hùng là người thứ hai ở chung cái cực với hắn, khổ sở nhất trong số bạn bè. Đi nước ngoài học, thông minh, có năng lực, Hùng đã được đề bạt quản đốc khi còn rất trẻ. Nhưng tai vạ đã xảy ra. Kho phim trong phân xưởng Hùng cháy. Hùng bị đi tù. Bàn bảo: “Nó như thằng tâm thần ấy. Thời gian B52 rải thảm, nó ra Gia Lâm đào và ôm bom nổ chậm. Mình bảo: “Về đi. Ai khiến mày ở đây. Một thằng xăng sổ mùn, xăng sổ gạo như mày”.

Hai người bạn khốn khổ bắt tay nhau. Hùng bảo: “Mày lại được đi làm rồi phải không? Tao ở nhà nuôi mười hai con lợn. Nấu rượu. Lãnh đạo đội kèn đám ma. Sống tốt”.

“Thảo nào, nó toàn hơi rượu”. Hắn nghĩ.

Một người gọi hắn. Mãi hắn mới nhận ra đấy là Sản. Sản trông tiều tuỵ cả về dáng người, vẻ mặt lẫn cách ăn mặc. Sản đứng nhìn đám đông như một người ngoài cuộc quan sát sự đời. Hắn cảm thấy Sản còn chán nản hơn hắn: “Đời tao thế là hết rồi Tuấn ạ”.

Vì sao Sản lại như thế nhỉ? Sản không bị đi tù cơ mà. Sao Sản lại chán đời hơn cả hắn? Hắn chưa kịp hỏi chuyện Sản thì mấy giáo viên cấp hai huyện đã kéo tới. Những người này đều đã đọc sáng tác của hắn và nói sao lâu lắm hắn không viết gì nữa. Hình như họ không biết hắn bị tù. Nhưng hắn không muốn nói chuyện mình trong lúc này. Hắn rủ các bạn đến gặp các thầy cô giáo. Cô giáo Hương vẫn chẳng già đi bao nhiêu (có lẽ còn trẻ hơn cả hắn). Cô Hương bảo hắn: "Chị nhớ ra rồi. Cán bộ lớp của chị đây. Học bổng toàn phần đây. Học giỏi có matière đây. Chị vẫn nói thế mà!" Phải nói xưa kia em là như thế. Chỉ những học sinh giỏi mới được học bổng toàn phần. Chị đã bảo vệ em trong các cuộc họp hội đồng xét học bổng. Nhưng giờ đây em mới biết nhà trường và cuộc sống khác nhau nhiều quá.

Hắn muốn nói với thầy Thuyên, người giáo viên mà hắn quý nhất, ảnh hưởng đến hắn nhiều nhất. Nhưng thầy đã hoàn toàn lẫn lộn. Thầy không nhận ra hắn, tuy thầy vẫn cười: “Tuấn, tôi nhớ ra rồi!”

Bao nhiêu lần hắn đã nghĩ đến thầy Thuyên, thầy dạy văn già dạy hắn hay biết bao, chân thành và thuyết phục biết bao. Những điều thầy dạy ngấm vào hắn. Hắn chỉ muốn nói với thầy những điều hắn đã nghiền ngẫm ở xà lim: “Thầy ơi! Thầy dạy chúng em sai hết cả rồi. Đời em thế này cũng là một phần do thầy”. Nhưng hắn không dám nói. “Thầy già quá rồi, chẳng nên nói những điều phũ phàng ấy với thầy. Có thể chính thầy cũng đã hiểu”.

*

Khi Thứ trưởng Lâm, trưởng ban tổ chức lên khai mạc hội trường thì hắn trở về chỗ. Hắn thấy trên bàn đã bày cà phê, bánh ngọt. Bàn bảo:

- Chúng mày ở đây có thằng nào có khả năng cứu thằng Tuấn được không?

Không một ai trả lời. Lẽ ra Bàn không nên hỏi. Hắn nhìn Bàn nửa như van vỉ, nửa như trách móc. Giờ đây hắn không muốn nói đến điều ấy, tuy rằng đã có lần hắn hỏi Bàn xem bè bạn có ai giúp được hắn không. Lúc này hắn đang sống lại. Cuộc sống hiện tại của hắn không còn nên hắn càng tha thiết với quá khứ, ở đó hắn đúng là hắn. Từ dưới đáy xã hội, hắn đã trở về với bậc thang của hắn.

Hắn bảo Châu: “Mày không phát biểu à?”

Châu ngỡ hắn châm chọc: “Phát biểu cái gì?”

- Tôi là Các-nô đây. Thầy còn nhớ tôi không? Rồi ông quay lại với học trò rằng: “Các em...”

Đó là một đoạn trong Quốc văn giáo khoa thư, kể chuyện một ông Các-nô thành đạt, trở về thăm trường cũ. Hắn và học sinh lớp tuổi hắn đều biết.

Phía trên bục diễn giả, Hùng đang đứng trước micrô:

- Thưa các thầy, các cô. Em về xã vẫn tham gia văn nghệ. Hôm nay em xin hiến một tiết mục.

Tiếng vỗ tay. Hắn cũng vỗ tay. Hắn nhìn lên thấy Hùng rút trong túi áo vét tông cái kèn đám ma ngắn. Hùng thổi:

- Tò tí te ... ối hỡi hồn. Hồn ơi hồn ở nơi nao... Te tí tò.

Tiếng kèn trầm bổng, luyến đi ai oán.

Tất cả cười. Đến vỡ nhà mất. Có tiếng kêu to: “Hồn vẫn còn ở đây đấy”. Thứ trưởng Châu đứng bật dậy:

- Liềm cong đi!

Thế là mọi người cùng hát: “Khắp nơi đồng lúa bát ngát vang tiếng chim mừng reo. Liềm cong. Liềm cong gặt bông lúa vàng...”.

Chỉ một loáng đã thành một dòng người. Đó là điệu múa tập thể cách đây bốn mươi năm, là niềm vui sống trong thung lũng giữa rừng, những buổi chiều tà trước khi vào lớp học đêm thời 9 năm chống Pháp. Châu, Tuyên - những người bóng loáng - hắn, Bàn, Mai, Ngọc bám vai nhau dẫn đầu đám rồng rắn ấy.

Đoạn kết

Cuộc họp mặt đến 11 giờ thì bế mạc. Thầy Thuyên khóc vì tuổi già. Cô Hương khóc vì cảm động.

Hắn cùng mọi người xuống thang. Mặt trời chiếu ấm đường phố làm hắn ngỡ ngàng.

Những chiếc xe ô tô nổ máy lao đi. Xe ô tô của Châu, của Lâm. Chiếc ô tô tay lái phải chờ Đàm từ bao giờ, có cả ông trưởng phòng tổ chức, mấy thùng bia Heineken. Rồi đến xe gắn máy. Nhưng đông hơn cả là những người đi xe đạp. Như một phép màu, những người bạn của hắn đã mất hút, đã hoà tan trong phố phường Hà Nội. Hắn đứng nán lại chuyện trò với đám bạn trí thức nông thôn, phần lớn làm nghề dạy học. Những người này cũng chưa muốn về ngay, chưa muốn về với cuộc sống hiện tại, chắc là khó khăn vất vả và mệt mỏi. Họ còn lưu luyến mãi với kỷ niệm, với tình cảm trong trẻo tốt đẹp vẫn tràn ngập trong lòng.

Rồi họ chia tay nhau. Bỗng nhiên hắn hiểu ra rằng: Người nào sẽ lại về với vị trí người ấy, trong cái xã hội khổng lồ và chặt chẽ này. Những điều tốt đẹp bốn mươi năm trước vừa sống lại đã bị cuộc sống hôm hay nuốt chửng mất rồi.

Có tiếng gọi hắn. Hắn quay lại: Hùng. Hùng hỏi hắn: “Bao giờ thì về?” Hắn rủ Hùng: “Đi đến nhà thằng Bàn đi”.

Hắn rất muốn tâm sự với Hùng. Nhưng Hùng bảo: "Mình phải về. Hôm nay vướng một cái đám ma".

Hắn nhìn cái kèn trong túi áo Hùng. Hắn biết Hùng “lãnh đạo” cả một đám thợ kèn nổi tiếng trong huyện:

- Cho bọn đàn em nó đi.

Hùng lắc đầu:

- Không được. Hôm nay là đám ma mẹ ông bí thư. Mình phải đi. Hai giờ liệm rồi, phải về ngay không muộn.

Hùng vẫn phả ra hơi rượu. Có lẽ Hùng suốt ngày say. Ở nhà thì nấu rượu. Ra ngoài thì đám ma. Làm gì không say.

Hắn nhìn mãi theo Hùng đạp xe, phóng về phía bờ sông Hồng, vội vã.

Ngày 25/04/1990



(1) Ăn mặc chỉnh tề 

(2) Hộp gíp: Hộp thuốc chải răng (Gibbs) bằng nhôm, đựng bông để rót dầu vào, dầu ngấm vào bông, không bị đổ xa

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét