Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2020

Nguyễn Hiền: Du lịch Nepal, những ngộ nhận kỳ thú (Tiếp theo và hết)

Pokhara là thành phố lớn thứ nhì, sau Kathmandu. Nằm ở cuối xa lộ H4, 200km phía tây Kathmandu, khi xưa Pokhara là một trong những con đường vận chuyển hàng hóa giữa Tây Tạng và Ấn Độ. Nay Pokhara đã chuyển hướng hẳn sang ngành du lịch và phát triển mạnh từ khi du khách đổ tới Nepal, và trở thành “thủ đô du lịch”. Rất khác với Kathmandu, nơi đây nhà cửa đường xá ngăn nắp hơn, không có nhiều đền chùa đồ sộ, thắng tích cổ xưa. Thành phố mang nhiều vẻ Tây phương, dân chúng giàu có hơn, nhưng rõ ràng thiếu sự quyến rũ những người đi tìm nét đẹp châu Á. Khắp nơi là những hàng ăn, quán nước với bảng hiệu nhiều tiếng Anh hơn chữ rồng rắn Nepal, và nhạc xập xình, tập trung nhiều ở bờ đông và bờ nam hồ Phewa rộng mênh mông nằm phía tây thành phố. Dọc bờ hồ có thuyền cho mướn chèo đi vòng vòng, người ta thích mướn thuyền tới đền Tal Bahari nhỏ xíu nằm giữa hồ để chụp vài tấm hình không bị vướng du khách.

Pokhara nằm sát chân rặng Annapurna, tức nhánh phía tây nam của Hy Mã Lạp Sơn. Dịch vụ leo núi hoặc theo những track len lỏi trong vùng núi non này rất nhộn nhịp. Những cửa hàng bán dụng cụ leo núi, gậy mũ vớ, rồi áo lạnh áo gió, khăn choàng len cashmere (dê núi lông xoăn) hoặc pashmina (dê núi lông dài) và len trâu yak đếm không xuể. Tuy không có kinh nghiệm về len, nhưng nhìn giá bán những chiếc khăn choàng len dài rộng đủ màu mà rẻ như bèo (5 - 20 đô một chiếc) và số lượng hàng bầy bán nhiều hơn mức số dê ở Nepal có thể cung cấp bội phần, tự dưng tôi nhớ lại một phim tài liệu đã xem về trò ma đầu của Trung Quốc đã thao túng ngành len cashmere và số phận những dân Mông Cổ phải sống một kiếp ngựa trâu để phục vụ các nhà thầu Hán tộc ra sao. Đồ lạnh, túi xách nhái nhãn The North Face, Marmot… một cách vụng về bầy tràn lan khắp nơi vẫn thu hút khách hàng. Dù sao, mọi người cần phải có cái gì đó để làm kỷ niệm cho một chuyến du lịch không dễ gì có.

May mắn, khi chúng tôi tới Pokhara thì được liền mấy ngày trời quang mây tạnh. Rặng Annapurna trùng trùng điệp điệp trước mắt, đi theo mấy cái track lên tới độ cao trên dưới 1500m, ngủ một nơi không được tiện nghi cho lắm, để có thể trải nghiệm cảnh núi non hùng vĩ, làm vài cuộc đi bộ quanh chân mấy ngọn đồi và nhất là thấy rõ các ngọn núi đổi màu từ đỏ hồng khi mặt trời mọc, sang trắng như tuyết lúc nắng lên và chiều xuống thì xám dần. Dân Nepal chỉ gọi là núi khi nó có độ cao hơn 3500m, ngọn nào thấp hơn đều là đồi hết. Thời đại internet, người ta bày cho tôi tải cái app Peaklens vào điện thoại, chỉ cần hướng máy vào rặng núi là nó sẽ chỉ ngay ngọn núi nào tên gì và cao bao nhiêu, thật là những chuyện khi xưa nghe như chuyện thần tiên, riêng tôi thì phục người nào đã tạo ra được cái app này quá xá, cho dù đôi khi nó bị mắc lừa, thấy đám mây ngỡ là ngọn núi, thấy tòa cao ốc ở gần lại cho là ngọn đồi ở xa!

Trong dãy Annapurna có 4 ngọn chính mang tên này đánh số thứ tự I, II, III, IV từ ngọn cao nhất trở xuống. Những ngọn này thực ra không phải núi đơn mà là một quần thể nhiều đỉnh gần nhau, phải là dân leo núi mới rõ chi tiết. Những người thích cảm giác mạnh thì cố leo lên nửa ngọn Machapuchare dốc đứng (núi thiêng không được phép leo lên tới đỉnh), người ta cũng gọi là ngọn Đuôi Cá (Fishtail), do nó gồm hai đỉnh núi dẹp nằm cạnh nhau như đuôi cá voi chổng lên trời, rất tiếc ở Nepal không thấy được hình này vì không đúng hướng. Nhà hàng Moondance, một địa chỉ uy tín trong khu ăn uống ở dưới phố, đã nghĩ ra món tráng miệng mang tên Machapuchare Kiss, là một pha trộn giữa bánh, bavarois, kem đánh, kem lạnh trên có rưới sốt chocolat; nhiều người đã cố gắng bắt chước, nhưng dường như chưa có ai thành công.

Rặng Annapurna nhìn từ làng Astam với ngọn Annapurna South bên trái và Machapuchare bên phải

Rặng Annapurna lúc bình minh, với ghi chú của Peaklens.

Sẵn đây, tưởng cũng nên nói thêm về đồ ăn Nepal. Cà-ri là món không thể thiếu trong bữa ăn Nepal. Cà-ri chay phổ thông hơn cà-ri thịt. Ngoài ra, cải xắt nhỏ xào với dầu trộn với hột mù-tạt và nghệ bỏ thêm chút xíu cà-ri cũng là một món chính. Họ ăn nhiều đồ bột như cơm, bánh bột hấp hay chiên. Đồ ăn thường không nêm bột ngọt, lấy hành làm chất ngọt. Nepal trồng lúa basmati loại hột ngắn, dẻo thơm hơn basmati Ấn Độ, gạo này không được bán ra ngoài; và lúa đại mạch (barley/gerst). Chất thịt và mỡ trong bữa ăn của họ phần lớn là từ đậu lăng (lentil/linze). Du khách thích món Mo: mo dễ ăn, là món bánh bột hấp tròn nhỏ có nhân rau đậu, tương tự như Gyoza của Nhật hay vài thức Dim Sum của Trung Quốc. Nói chung, những dạng bánh kiểu này phổ thông ở gần khắp châu Á, chỉ khác ở chỗ nhân được nêm theo vị riêng của từng quốc gia và hình cũng thay đổi chút ít. Tiệm ăn Nepal nào cũng có hai món bình dân: Dal bhat và cơm phần Thali. Dal bhat ghép từ hai chữ Dal (hạt đậu lăng) và Bhat (gạo), hai món ăn căn bản chắc bụng cho dân Nepal. Nó cho thấy ngay hình ảnh, là một khay cơm thường có chia nhiều ngăn, có cơm, súp đậu lăng, rau cải xào, cà ri chay. Tóm lại đây là món chay. Còn Thali là món cơm phổ thông khác. Thali hơi khác Dal bhat ở chỗ giàu món ăn hơn, có thể có thịt (gà, heo hay dê), trứng, thường được dọn trong chén nhỏ. Kêu món Dal bhat hay Thali, khi thấy mâm đã vơi, người hầu bàn thường hỏi bạn có cần tiếp thêm cơm và đồ ăn không. Tức là bạn trả tiền và chắc chắn sẽ được no bụng. Ngoài ra có nhiều món bánh bột chiên, không nhân và có nhân đủ thứ. Trong những làng quê thường có các xe đi rong bán những món ăn chơi cho học sinh hay người qua lại, đồ ăn được bọc trong lá và múc ăn bằng cọng lá hay miếng carton. Trái cây bán tại các chợ thường có dạng xấu xí, do dân tự trồng, có sao bán vậy. Những trái cây đẹp thường là nhập từ Ấn (chẳng hiểu vì sao họ không nhập từ Trung Quốc?). Nhờ ăn mấy trái mọc thiên nhiên này tôi mới ngộ ra một điều đọc đâu đó trong sách luận về tiến hóa: sở dĩ người ta thích ngọt vì vị ngọt là thứ hiếm gặp, được người tiền sử coi là phần thưởng trời ban cho người may mắn. Thực thế, trái cây nơi đây thường chua, chát, vỏ dầy, nhiều hột v.v…

Người thích xem cảnh quan hơn leo trèo thì có thể chọn một trong vô số tour quảng cáo các track đi bộ treo dán khắp nơi. Ngắn thì đi một hai ngày, dài có thể tới 3 tuần, tour này khởi hành từ Kathmandu, đi dọc rặng núi lần về hướng tây mỗi ngày 4 – 5 giờ với điểm cuối là Pokhara (và sau đó bay trở về Kathmandu). Khi đi dọc theo rặng Hy Mã Lạp Sơn như vậy, người ta sẽ qua một số vườn quốc gia phía bắc Nepal. Tại đây, ngoài chim chóc hươu nai còn có vài con thú lạ như chim trĩ Hy Mã Lạp Sơn – con chim biểu tượng của Nepal, gấu trúc panda lông đỏ…Vì vùng phía này lạnh, nên nhiều du khách chọn thăm hai khu vườn quốc gia nằm ở bình nguyên phía nam, giáp Ấn Độ, là Bardiya và Chitwan. Hai vườn này có diện tích tương đương. Chitwan nhiều thú hơn, Bardiya hoang sơ hơn, thích hợp cho dân thích cảm giác mạnh. Từ Pokhara tới Chitwan, nhìn bản đồ thấy có 160km, nhưng ở Nepal, nếu không phải là xa lộ mà mỗi giờ bạn đi được 25km là khá lắm rồi. Chúng tôi ghé qua Bandipur nghỉ, đây là thành phố của dân Newar, xưa kia là trạm nghỉ quan trọng của nhánh phía nam con đường tơ lụa, nhưng từ khi đường lớn được mở băng qua núi, dân kéo xuống dưới làm ăn, thị trấn này thành nơi hoang phế, chỉ còn những nhà nghỉ cho người thích yên tịnh, và hàng quán lèo tèo. Vốn là con đường bộ vắt ngang thung lũng, nên sinh hoạt của Bandipur cũng chỉ tập trung vào con phố này, chạy dài hơn nửa cây số. Ghi chú: con đường tơ lụa mới của Tập Cận Bình trong kế hoạch “nhất lộ nhất đới” không đi qua Nepal.

Con đường tơ lụa ngày xưa, nhánh phía nam, nhìn từ Bandipur
Cá sấu mõm dài nuôi trong vườn gầy giống ở Chitwan
Vườn quốc gia Chitwan được công nhận là Di Sản Thế Giới, chính quyền cử người canh giữ vườn này rất nghiêm ngặt, để cố gây giống trở lại các loài tê giác Á châu, cọp Bengal và cá sấu mõm dài Ấn Độ (loại cá sấu này có mõm rất dài và yếu, chỉ ăn cá). Cọp thì rất khó thấy mặc dù chúng tôi đã ngồi xe 4 x 4 vào sâu tới hơn 20km, đi trên đường mòn hai bên dầy đặc cỏ voi cao hơn đầu người để vào tới vùng rừng thưa giữa vườn. Trong vườn, cách nhau khoảng 6km có đặt đồn canh, có trại nuôi voi cho lính kiểm lâm cưỡi khi tuần tra buổi tối (để cọp không ngửi thấy), máy camera gắn tứ tung trong tàng cây theo dõi lâm tặc. Khách đến thăm vườn cũng có thể đi bộ, vé thì có thứ nửa ngày, một ngày và nhiều ngày, được ngủ qua đêm tại các chòi quan sát đặt trong rừng. Nửa ngày đi bộ thì bảo đảm chẳng xem được gì ngoài mấy con chim, vì vẫn còn loanh quanh trong khu trái độn, chưa vào tới khu vườn thực sự. Một điều kiện ngặt nghèo nữa là họ bắt phải mướn thêm 2 người dẫn đường, cho dù bạn đi có 1 người, để phòng khi gặp tai nạn thì phải cần 2 người giúp đưa nạn nhân ra hay làm công tác sơ cứu. Thú bốn chân thấy nhiều nhất trong vườn là các loại nai, hoẵng, cheo, thỉnh thoảng thấy có heo rừng, thỏ băng qua đường, khỉ chuyền trên cây và đương nhiên nhiều loại chim chóc.Vào sâu trong vườn thì tới trạm gây giống cá sấu mõm dài, nuôi mấy trăm con lớn nhỏ đủ cỡ. Muốn xem những con sấu này trong thiên nhiên và xem thêm chim chóc thì phải ra bờ sông Rapti mướn xuồng độc mộc bằng thân cây gòn, cùng với hướng dẫn viên của vườn thả xuôi theo dòng tới bãi đậu xe trong rừng rồi theo xe ra ngoài. Tổng kết lại, trong 6 tiếng đồng hồ ngồi xe và bè, chúng tôi chỉ thấy được chừng 10% các loài thú mà tờ quảng cáo ghi. Trên đường, có chặng bị đối đầu với con tê giác, thấy quá mừng khi chụp được mấy tấm hình độc đáo, nhưng rồi tình cờ lại thấy tê giác đi ngờ ngờ giữa đường lộ trong làng, cái này thật tình không bao giờ dám nghĩ là trong đời mình có dịp rờ lớp da cứng như tấm gỗ bào sơ phơi ngoài nắng của chúng. Khi hỏi ra mới biết tê giác là loài ăn cỏ, nếu không chọc giận thì nó không bao giờ tấn công mình. À ra thế. Kể chuyện này với những tay buôn lậu ngà voi sừng tê ở Việt Nam, chắc chúng tiếc hùi hụi. Chitwan vẫn có dịch vụ cưỡi voi đi dạo, thật tội nghiệp khi thấy 4 người ngất nghểu trên lưng, hơn 300 kí chứ ít đâu. Voi cũng như ngựa hay chó, ngày nào cũng phải cho nó đi một vòng, vì thế voi trên đường cũng không có gì gọi là lạ.

Voi và tê giác đi trên đường làng

Ít hàng về đền chùa ở Nepal


Thời gian ngắn ngủi ít ngày ở Nepal cũng đủ cho tôi cảm nhận được sự sống chung hài hòa giữa Ấn giáo và Phật giáo tại Nepal, mà theo tôi, có hai lý do: cả hai tôn giáo đều thờ nhiều vị thần linh, cùng tin vào một đời sống khác sau khi chết, và sự chung đụng nhau hơn hai ngàn năm, biết nhau quá rõ. 

Ấn giáo tại Nepal thực ra chia làm nhiều nhánh. Tổng quát, tín đồ Hindu tin vào ba vị thần chính: thần sáng thế Brahma, thần bảo hộ Vishnu và thần hủy diệt/sáng tạo Shiva. Ba vị thần này kết hợp và trở thành vị thần Brahman – thần tối thượng hiện hữu trong vũ trụ. Tuy nhiên, mỗi phái trong Ấn giáo nghiêng nhiều về một trong ba vị thần này. Cũng có những sắc dân thờ thần khác, như dân Newar – một sắc dân thiểu số quan trọng ở Nepal – thờ nữ thần Taleju; hoặc những đền thờ các vị thần khác, thường thấy nhất là thần Ganesh (thần Đầu Voi) và thần Hanuman (thần Khỉ). Ở Nepal, ảnh hưởng của thần Shiva lớn nhất trong các ngôi đền.Người ta tin là vị thần này mang đến thành tựu trong thế giới này và thế giới khác cho người thành tâm, phải chăng đó là ước muốn đơn giản nhất của nhân loại. Người Nepal cũng tin rằng khi thần Shiva hóa thân đến Kathmandu, ngài đã thay dạng đổi tên thành Pashupati (chúa tể của muôn loài). Vì thế tại Nepal cũng có nhiều đền mang tên Pashupatinath (đền thờ thần Pashupati). Hơn thế nữa, tín đồ Hindu ở Nepal còn tin là thần Pashupati là một hiện thân khác của Phật Quan Âm. Do đó, người theo Ấn giáo cũng thường chạy sang chùa Phật giáo để cầu khấn Phật trợ giúp thêm, và là nơi họ tìm thấy một sự an ổn tâm thần khác nơi chân Phật. Đền Ấn giáo nằm sát cạnh chùa ở quảng trường Hoàng gia Kathmandu, chung một khoảng sân đủ nói lên điều đó. Trên những con đường dẫn tới đền, ngoài những sạp bán hoa trái đồ cúng hoặc kỷ vật, còn có những ông bà trải chiếu dưới đường coi bói, đây đó lại thấy những ông đạo sĩ tu theo phái khổ hạnh. Họ thường ngồi trong hốc những bờ thành hay nơi có bóng râm, những ông này giờ đây chắc nhắm vào việc kiếm tiền của khách thập phương muốn chụp hình là mục đích tu cho đắc đạo. Và nếu muốn, bạn có thể bỏ 100 roupie để họ ịn một chấm đỏ “tikka” lên trán, mang nghĩa chúc phúc.

Khi chết, người theo Ấn giáo không chôn mà thiêu, tốt nhất là thiêu xác nơi bờ sông thiêng. Người nào không có điều kiện thiêu xác thì chịu khó bỏ công làm điểu táng (mang lên núi cho chim ăn), nhưng hiện nay trường hợp này rất hiếm. Tại Kathmandu, khi đến thăm ngôi đền Pashupatinath, điểm du lịch “không thể bỏ qua”, nằm trong một khu đất rất rộng có một dãy miếu đá thờ linga, chúng tôi may mắn được chứng kiến cảnh một vụ thiêu xác, từ khi mang tới bờ sông Bagmati cho tới khi chất lên bệ thiêu và người con tự tay châm lửa. Gia đình chắc neo đơn, ít người tham dự, nhưng đã chọn một nơi thiêu không rẻ (ngay trước cửa đền, ít tiền thì phải ra những nơi xa hơn!), không thấy thân nhân khóc kể nhiều. Trẻ em đi ngang nơi quàn người chết không biểu lộ cảm giác tò mò hay kinh sợ, rõ ràng việc tiếp cận xác chết đã trở thành một phần trong đời sống dân chúng nơi đây. Dưới sông, có người lụi hụi mò tìm trong bùn những tờ bạc may mắn chưa bị nước cuốn trôi. “Cái chết của người này là bánh mì cho kẻ khác”, Hòa Lan có câu ngạn ngữ như vậy.

Tại một đền khác thờ thần Shiva, trên đường đi lên phía bắc, chúng tôi còn được xem tận nơi một buổi lễ dâng cúng phẩm vật, khi ngôi đền vừa mở cửa. Từ sớm, hàng chục người đã sắp hàng dài trước cổng đền, mang theo lễ vật. Trên con đường vào đền tại đây, ngoài những sạp hàng thông thường còn có những căn lều bán vật tế thần, thấy được qua chuồng gà và bảng treo trên nóc có hình ba con: gà, dê và trâu. Đó là tùy khả năng (và ước muốn), người ta có thể mua (gà) hay đặt mang tới đền (dê, trâu). Nếu không thích, một trái dừa khô hay mâm hoa trái cũng xong. Sinh vật đem tế thần mang nghĩa khác: chúng bay sống kiếp này khổ lắm rồi, tao hóa kiếp cho mày sang kiếp khác, hy vọng sướng hơn. Khi làm lễ xong, vị giáo sĩ sẽ cắt cổ con vật, máu chảy xuống đất, người nhà mang xác về chia cho người thân (đối diện đền có một quầy xẻ thịt trả tiền công). Dừa thì đập bể tại chỗ, nước bỏ, mang trái dừa về. Hoa để lại, thả xuống giếng. Bữa đó, trong số gần trăm người chen chúc, chỉ có một chàng mang gà tới, còn lại là dừa và bông. Nhìn ông giáo sĩ loay hoay tay phải cầm dừa đập vô tảng đá “thiêng”, tay trái thu tiền đút lẹ vào túi thấy cũng hay hay. Những đền Ấn giáo không cho phép người khác đạo vào nơi thờ tự, điều này làm tôi thấy có sự bất bình đẳng mà không rõ lý do từ đâu, khi tín đồ Ấn giáo được vô chùa tự do. Chỉ có điều, đền cũng như chùa, mở cửa có giờ khá hạn chế. Người lễ đền rung chuông hai ba lần và lạy trước cái cổng, hay đi một vòng đền. Bánh xe cầu nguyện nơi chùa thì nằm ngoài trời hay trong gian nhà cửa mở.

Người con tự tay châm lửa thiêu xác bà mẹ ở đền Pashupatinath
Tín đồ sắp hàng chờ tới phiên được mang lễ vật đến trước bàn thờ làm lễ tại đền Dakshin Kali ở Pharping

Phật giáo tại Nepal chịu nhiều ảnh hưởng của Lạt-ma giáo (Phật giáo Tây Tạng). Sự khác biệt có thể thấy ở màu áo: Phật giáo Nepal mặc y vàng, Phật giáo Tây Tạng mặc y đỏ sẫm. Màu nâu trên cờ Phật giáo cũng khác sắc độ giữa hai phái, nhưng khó nhận ra khi bị phai màu. Chùa ở Nepal mang vẻ huyền bí, ngoài cửa thường có dựng tượng những thần bảo vệ cầm giáo, cưỡi voi trấn trước cửa v.v…và linh vật ngồi chầu. Có đến Nepal mới cảm được sự khó khăn của những vị bồ tát đi truyền đạo trong một xứ mà Bà-la-môn giáo đã nhiễm sâu vào văn hóa. Nhất là nơi xứ Nepal, núi đồi trùng điệp, đường xá hiểm trở, đi lại khó khăn… Trong kinh sách Phật giáo, nếu bạn thấy ghi Ni-bà-la hay Ni-ba-li, thì đó là xứ Nepal này. Thí dụ như trong sách Đại Đường Tây Vực Ký, thầy Huyền Trang (Tam Tạng) có ghi chú như sau: “Nước Ni-bà-la nằm trong núi tuyết có chu vi hơn bốn ngàn dặm. Đô thành của đất nước có chu vi hơn hai mươi dặm. Sông núi nối tiếp nhau nên thuận tiện trong việc trồng tỉa hoa màu, khai thác đồng đỏ, chăn thả bò yak…” Về dân chúng thì ghi: “Không học nghề tinh chuyên nhưng có chút khéo léo. Tướng mạo khó coi, tin cả tà chánh. Già-lam hoặc miếu Trời đều có tường bao quanh...”. Ít hàng mà chính xác và đầy đủ hơn bài du ký bạn đang đọc!

Tôi có cảm tưởng chùa ở Nepal chú trọng đến bảo tháp hơn là đến ngôi chùa. Nhìn những bảo tháp, thấy ngay sự chăm sóc, làm sạch rác rưởi, chăm lo cảnh quan chung quanh… Phía trên những bảo tháp ở Nepal thường có chóp hình vuông, mỗi bề có vẽ đôi mắt nhìn xuống và một chiếc mũi hình dấu hỏi. Anh hướng dẫn nói là đôi mắt mang ý nghĩa Phật thấy được đủ bốn phương. Ừ. Vậy còn chiếc mũi? “Đó là dấu hỏi”, anh ta nói, “vì Phật đã giảng là phải luôn luôn tìm hiểu trước khi tin!”. Dấu hỏi này in ngay vào đầu tôi, vì thấy nó vô lý quá. Dấu hỏi là một ký tự của văn minh La Hy, làm sao lại nhảy sang bên này được? Mãi lâu về sau tôi mới tìm ra lời giải: đó không phải là dấu hỏi, mà là số 1 viết theo ngôn ngữ Nepal! Có thể hiểu là nhất quán, nhất nguyên hay nhất thể gì đó cũng được.

Vì hoàn cảnh địa lý, Phật giáo ở Nepal không cấm ăn thịt, nhưng theo tôi suy đoán đại đa số Phật tử ở Nepal ăn chay, vì với phương tiện vận chuyển nhanh chóng, không khó để mua rau củ. Ngoài chợ rất hiếm khi gặp sạp bán thịt cá, những món chay họ nấu không cầu kỳ mà rất ngon. Phần lớn những chùa ở Nepal được gọi là tự viện, tức là bên cạnh chùa có xây nhiều phòng, để tiếp khách trong những khóa tu học và khi không có sinh hoạt Phật sự thì thành nhà trọ. Chúng tôi đã ở hai ngày trong một tự viện như thế, gần thị trấn Pharping hẻo lánh (tự viện Neydo Tashi Chöling), cùng tham dự thời tụng mặc dù không hiểu tiếng nào, chỉ nghe ngoài tiếng kinh do tăng và tiểu đọc rào rào, tiếng tù và thổi buốt tới óc hòa với từng hồi chuông trống phèng la, trong chánh điện đèn để mờ mờ, có vẻ thần bí ma quái. Và được ăn những bữa chay do các người làm công quả đến nấu, họ tự tay giã gạo, làm bánh. Trong chùa có nhiều chú tiểu nhỏ chạy loăng quăng, nghe nói những gia đình nghèo có thể gởi con cho chùa nuôi và cho chúng tập tu, cha mẹ thỉnh thoảng được đến thăm, khi được (hình như) 12 tuổi thì sẽ phải quyết định đi tu luôn hay hoàn tục. Cách chùa một khoảng xa có sân đá banh của mấy chùa trong vùng. Tôi tự nghĩ thủ môn của những đội bóng này sướng nhất thế giới, vì Phật giáo chủ trương phải tự thắng mình, không được tranh giành. Không hiểu khi chơi bóng họ hành xử ra sao.

Chú tiểu trong chùa Tây Tạng (trái) và Chùa Hòa Bình Thế Giới ở Pokhara (phải)

Còn hiện tại cũng có một nhánh Phật giáo khác muốn phát triển sang đây. Đó là nhóm tăng già thuộc tông phái Nippozan-Myohoji (Nhật Liên), muốn tạo nên một phong trào cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Phong trào này được khởi xướng sau khi hai trái bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki, chấm dứt thế chiến thứ hai. Trên tường bao quanh tháp là bốn bức tượng mạ vàng tóm tắt câu chuyện thành đạo của đức Phật, ngoài ra không có nhiều tượng linh vật cầu kỳ. Nếu có thời giờ quan sát kỹ có lẽ ta có thể thấy sự khác biệt giữa Phật Nepal, Phật Tây Tạng và Phật Nhật Bản. Qua câu chuyện với thầy trụ trì người Nhật, thầy cho biết rất vui mừng vì phong trào vận động hòa bình do một thầy tổ khởi xướng đã được nhiều người ủng hộ. Thầy nói là cho tới nay phong trào đã vận động xây được hơn 80 ngôi “Chùa Hòa Bình Thế Giới” (World Peace Pagoda) tại nhiều quốc gia ngoài Nhật Bản (tuy nhiên thầy cũng nói thêm là chỉ có khoảng một nửa trong số này thuộc tông phái Nippozan). Tại Nepal có hai chùa của nhóm này, chùa kia lớn hơn, ở gần vườn Lâm Tỳ Ni. Thầy có phong cách nói chuyện cởi mở từ tốn, niềm nở tiếp chuyện đời chuyện đạo, tuy nhiên tôi nghĩ nhiều Phật tử khi thăm chùa sẽ bất bình khi thấy (tại chùa ở Pokhara) hình sư tổ được thờ ở bàn giữa, còn Phật Thích Ca được thờ ở bàn bên trái.

***

Chiều theo khách hàng


Nepal sống nhờ vào du lịch. Điều này du khách mới đến Nepal có thể cảm nhận ngay lập tức. Rất khó tiếp cận dân thường. Họ ở sâu trong làng, những sinh hoạt trông chờ vào sức người hơn sức máy. Cày bừa bằng trâu bò, gieo mạ cấy lúa gặt hái bằng sức người. Những nơi có thể luân canh thì một vụ bắp một vụ lúa xen kẽ nhau. Gùi mây là vật thông dụng để mang vác hàng nặng, ngay cả với những vật liệu xây cất như gạch đá. Nói chung họ có thiện cảm với du khách, nhất là khi bạn nói được vài câu chào hỏi tiếng bản xứ. Trong làng, khi gặp nhau mọi người đều chắp tay chào “namaste”, đây là từ ngữ bắt buộc phải biết và áp dụng mọi nơi. Đi ngang xóm, trẻ nhỏ thường chạy ra bắt chuyện tiếng Anh, hỏi bạn tên gì, ở đâu tới v.v…, một hình thức tập ngoại ngữ chăng? Hay là muốn sau đó khoe với chúng bạn là đã nói chuyện được với người ngoại quốc?

Sự tiếp cận thường xuyên với du khách khiến người dân phải tìm hiểu du khách thích gì để chiều theo. Điển hình là qua ăn uống. Nepal là xứ uống trà, sáng trưa chiều tối khi nào cũng trà. Trà có 3 loại phổ thông: trà xanh, trà đen và trà masala, tức là trà pha sữa và vài thứ hương liệu nhẹ mùi. Tại nhiều quán ăn, trà được rót miễn phí. Nhưng dần dà, hàng quán thấy là du khách cần một thứ khác hơn là trà. Đó là cà-phê. Và sau này du khách còn cầu kỳ hơn, do đó rất nhiều quán ăn hoặc tiệm nước phải sắm thêm máy espresso tự động, và nhập cà-phê để pha cho đúng hương vị, giờ đây đã trở nên phổ thông cho dù giá gấp hai ba lần ly cà-phê vợt. Nước Ý thành công tại đây trong dịch vụ cà-phê với thương hiệu Lavazza, có thể thấy qua những bảng quảng cáo và ly trong các quán nước. Rất nhiều quán dọc đường vẫn còn để nguyên bảng quảng cáo cũ của Ruslan, một thương hiệu rượu wodka gốc từ Nga, mặc dù Nepal năm 2017 đã ban hành luật cấm quảng cáo bia rượu dưới mọi hình thức.

Lợi nhuận nhiều khi làm mờ trí khôn. Tuy tôi chưa thấy tận mắt, nhưng người hướng dẫn địa phương quả quyết là tại một số chùa hiện nay có bán bia cho khách đến trọ! Tiền bán bia có lẽ là động lực thúc đẩy? Thứ bia rẻ tiền Gurkha trong quán bình dân không dưới 4 euro một chai, gần bằng một phần cơm (tuy nhiên bia ở Nepal thường là chai nửa lít). Bia ngon, hiệu Everest, sản xuất tại Kathmandu, có giá mắc hơn một chút. Nó đánh vào nhu cầu của du khách: tuyệt đối không được uống nước vòi vì ô nhiễm, lại có nơi nước chảy ra đục ngầu bùn đất. Vậy thì mấy bà cứ nốc CocaCola, còn mấy ông gọi thêm chai bia trong mỗi bữa ăn là tiện nhất. Các khách sạn có thông lệ, hàng ngày để sẵn trong phòng cho mỗi người một chai nước to, không ai cần thắc mắc số vỏ chai plastic đó sẽ đi về đâu. Nói chung, các nhà hàng và quán ăn tiếp đãi lịch sự – cũng có thể vì chúng tôi đến Nepal vào cuối mùa du lịch, buổi chiều khí núi xuống lạnh buốt, người ta lười đi ra ngoài.

Theo trào lưu hiện nay, ngành du lịch tại Nepal đã biết khai thác các nhãn “eco”, “bio”, “nature”… Muốn thực hiện điều này không khó lắm. Dân chúng vốn canh tác theo lối cổ truyền, đất có sẵn, lấy công làm lời, nuôi thêm đàn gà lấy thịt, vài con bò lấy sữa, gắn một hệ thống cung cấp điện bằng năng lượng mặt trời để đun nước nóng trong bồn chứa nước suối đã lọc qua bể cát, thế là xong. Chúng tôi đã ở hai nơi như thế. Một nơi – Eco-village, trên đỉnh đồi tại làng Astam hẻo lánh nằm gần chân rặng núi Annapurna, tự lực cánh sinh là chuyện gần như bắt buộc. Còn nơi kia, Famous Farm, là một chuỗi các trung tâm nghỉ dưỡng có cơ sở ở nhiều nơi xa phố thị, thích hợp cho những người muốn một không gian yên tĩnh. Họ hợp đồng với dân trong vùng, làm những vườn rau riêng của gia đình, tự sản xuất đủ cung cấp cho khách trọ. Tôi hỏi họ làm sao điều chỉnh mức gieo trồng cho ăn khớp với lượng khách, họ nói rất dễ, vì mùa du lịch cũng là mùa nắng, rau cỏ tốt tươi, không có mưa thì sẵn nước suối từ núi đổ xuống (tại nhiều làng, có những nơi cho dân tới hứng nước, vòi nước thiên nhiên chảy suốt ngày đêm), rác đem ủ làm phân. Tuy nghi ngờ về tính xác thực 100% của câu chuyện, nhưng dù sao đây cũng là một cố gắng đáng ghi nhận. Có những trung tâm giải trí, vườn quốc gia nêu khẩu hiệu “100% không plastic”. Nhựa dẻo đúng là một kẻ thù nguy hiểm của nhân loại ngày nay.

Để tăng sự hấp dẫn du khách, cũng như tại nhiều nước khác, một số nhà nghỉ trong vùng quê ở Nepal mời khách ghé thăm cùng chung tay nấu một vài món ăn dân dã của họ. Chúng tôi đã tham dự vài nơi như thế, thí dụ như dân du mục Tharu ở những bản làng phía nam, họ thường ra suối mò ốc gạo đem xào với dầu và cà-ri, vợt tép nhỏ ram mặn v.v., chúng tôi đã chung tay nấu bữa trưa ngoài trời trên ông lò ba cục gạch, ăn bốc và uống rượu đế kodo, sau đó cùng chung nhảy múa và ca hát. Vui cho cả đôi bên, mặc dù đó là dịch vụ phụ trong nhà trọ của họ. Hay những khi vào trong làng, được người dân chỉ cho xem – dĩ nhiên bằng ngôn ngữ tay chân, sinh hoạt, nhà cửa của họ. Đương nhiên họ không bao giờ từ chối số tiền nhỏ bạn đưa. Chỉ mong sao họ đừng biến thói quen hiếu khách này thành một dịch vụ kiếm tiền là chính.

Giáo sĩ Ấn giáo đang cử hành nghi thức hôn lễ trong nhà chú rể tại một làng của dân Tharu
Bà cụ 86 tuổi cặm cụi ngồi đập các gié lúa đại mạch tại một làng của dân Maga

Người Tây Tạng tại Nepal


Có tới Nepal mới thấy số phận hẩm hiu của người Tây Tạng. Người Việt mình có thể quan tâm vì họa Hán hóa đang đe dọa cả vùng Đông Nam Á, nhưng dường như thế giới đã ngoảnh mặt quay lưng. Người đời thường phù thịnh, Nepal cũng vậy. Họ chứa chấp người Tây Tạng là vì không còn cách nào khác. Trên các bản đồ treo trong hàng quán hay khách sạn, đều thấy ghi “China”, may lắm thì ghi “CHINA (Tibet)”. Người Tây Tạng tị nạn ở quốc gia láng giềng phương nam này nhắc đến biến cố tháng 3 năm 1959 như người Việt tị nạn nhắc tới tháng tư năm 1975. Khi đó Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng nhiều người Tây Tạng đã vượt dãy Hy Mã Lạp Sơn đến Ấn Độ xin tị nạn, một số dừng lại ở biên giới Nepal, hiện tại không rõ có bao nhiêu người Tây Tạng đang ở đây (phần lớn là lậu). Nepal nhiều năm vất vả đi dây trong thế giằng co giữa Trung Quốc và Ấn Độ, họ chẳng muốn làm mất lòng hai anh khổng lồ này. Họ nói đa số người Tây Tạng tự ý di dân. Người Tây Tạng ở Nepal vì thế bị cấm nhiều thứ, điển hình là họ chỉ được phép làm thuê, và không được treo cờ xứ Tây Tạng tại chùa chiền cũng như trước cửa nhà. Nhiều người sống tập trung tại các trại tị nạn được xây lên khi đó. Tại Pokhara,ngoài ba trại lớn, khi đi trên đường quốc lộ từ Pokhara lên biên giới phía bắc, ta có thể thấy nhiều khóm gia đình người Tây Tạng sinh sống, qua những chòi nóc tròn bằng rơm đặc biệt của họ. Tôi đã ghé thăm một trong những trại tị nạn này (Tashi Palkhiel), hiện giờ đã trở thành một khu phố nhỏ với nhiều dãy nhà gạch, và đương nhiên một ngôi chùa rất lớn nằm ngay lối vào “làng”. Trong làng, người ta không chào nhau “namaste” mà “shokpa delek”. Khung cảnh nói chung ảm đạm buồn tẻ như số phận của họ, hàng quán lèo tèo. Vài gia đình trong khu này mở những cơ sở làm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ bán tại chỗ cho du khách, như đan móc những món trang sức, dệt thảm…

Một góc trong trại tị nạn Tây Tạng, nằm sát bờ vực
Tranh Thangka vẽ các cảnh giới

Đặc biệt, khu phố quanh chùa Boudhanath ở Kathmandu đã trở thành một dạng gần như Little Saigon, rất nhiều gian hàng bán sản phẩm Tây Tạng, rồi tiệm ăn Tây Tạng, nhiều tăng áo nâu đỏ đi trên đường phố (tôi chưa từng gặp bà ni nào ở Nepal). Một số mở các tiệm bán tranh cuộn Thangka và tranh Mạn Đà La, mà họ gọi là “trường”, trong đó những “học viên” cặm cụi ngồi tô vẽ những đường nét sắc sảo tỉ mỉ bằng những thứ mực có màu sắc tươi sáng trên một loại giấy đặc biệt cho tranh này. Tranh Thangka vẽ những hình tượng các vị Phật, cảnh giới cực lạc và địa ngục nhằm cho người ta biết mà tự sửa mình. Một tấm 40 x 60cm họ bán từ 100 đô tới trên 300 đô, tùy theo trình độ người vẽ và chất mực sử dụng, vì theo họ, phải mất cả tháng mới vẽ xong một tấm.

***

Qua chuyến du lịch, tuy ngắn ngủi, nhưng tôi cũng có cảm nhận rất rõ: Nepal là một quốc gia nghèo, lại không có nhiều cơ hội phát triển. Tài nguyên sẵn có của Nepal là thiên nhiên và sinh hoạt tâm linh, hai trụ đỡ cho ngành du lịch đang trên đà nở rộ. Trong sự phát triển này ẩn chứa mối nguy: dân từ vùng quê đang đổ ra những thành phố lớn để kiếm sống, và ô nhiễm môi trường cùng vấn nạn rác thải là những vấn đề rất khó giải quyết. Nhiều con sông ngập rác rưởi, người chết thiêu xong, tro xương hất ngay xuống sông. Cộng thêm vào đó, sự chảy máu chất xám sẽ gây ra mất cân bằng xã hội. Hiện tại, nơi làng quê, người dân vẫn giặt đồ bằng tay, đun bếp củi, nhiều nhà còn phải hứng nước nơi vòi công cộng. Rồi lại thấy những nông cụ thô sơ của họ như cày, cuốc, bàn cào, liềm rựa v.v… phần lớn xệu xạo, không rõ vì họ tằn tiện hay vì nghèo.

Theo báo cáo World Happiness Report của Mạng lưới Giải pháp Phát triển Bền vững của LHQ năm 2019, thì Nepal đứng thứ 92, ngang ngửa với Việt Nam (86) trong tổng số 147 nước. Một báo cáo khác, về Chỉ số Hạnh phúc (Happiness Index) vào đầu năm 2019 cũng ra kết quả tương tự (Nepal: 100, Việt Nam: 94 trên tổng số 156 nước). Năm 2013, Nepal đứng hạng 135/156 trong World Happiness Report. Như vậy, có thể kết luận là hạnh phúc của dân Nepal không đi xuống bởi hậu quả của trận động đất năm 2015. Tuy nhiên, nhìn chung, tôi không thấy dân chúng mang vẻ u sầu. Nhưng lại thiếu sự sinh động, còn nghèo thì rõ ràng lắm. Một quốc gia sống nhờ nghề nông và chăn nuôi – vốn đã bấp bênh vì trông cậy vào thời tiết và dịch bệnh, mà mọi người phải lại còn phải lao động theo kiểu tay chân thì đúng là vất vả. Công nhân và học sinh chỉ được nghỉ thứ bảy, đây là điều làm tôi ngạc nhiên trước khi kịp hiểu ra “chủ nhật” nguyên thủy là “ngày của Chúa”, một ý niệm xa lạ nơi đây.

Suy cho cùng, hạnh phúc hay không một phần cũng là do nhu cầu và ước muốn của riêng từng cá nhân, khi họ so sánh cuộc sống của họ với những người chung quanh. Tôi mong là triết lý sống của Ấn giáo và Phật giáo sẽ giúp người dân Nepal có được một suy nghĩ hòa hợp với thiên nhiên và với đất nước của họ. Sự tiếp cận với thế giới “văn minh” hiểu theo nghĩa vật chất chưa biết sẽ đi về đâu. Khi tôi bày tỏ sự ngạc nhiên thấy không có người tàn tật ngoài đường, mới biết rằng tại Nepal, người tàn tật hay có tật bẩm sinh bị coi như một hình thức trừng phạt của thần thánh, do đó người ta dấu kỹ những người này trong nhà và coi đó như một điều cấm kỵ không được hé môi. Vấn đề nối dõi tông đường cũng là chuyện quan trọng: bổn phận người vợ là phải sinh con trai, nếu “vô phúc” không có người nối dõi thì người chồng có thể lấy vợ khác để bảo toàn danh giá. Phá bỏ những định kiến này là điều không đơn giản.

(Tháng 01/2020)

Nguyễn Hiền


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét