Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2019

Nguyễn Đức Tùng: Du Tử Lê, Ngôn Ngữ Tình Yêu (Tiếp theo và hết)

11. Giai đoạn 2007 - 2008: Một người con gái trẻ tuổi, xuất hiện bất ngờ. Người nhón gót: thả vầng trăng thứ nhất. 

chào thơ ấu! - Chông chênh sầu, nẫu, đỏ
bước lầm than trong ngày, tháng tôi, vơi
người nhón gót: thả vầng trăng thứ nhất
trên tay tôi / cổ tích: mắt, môi người 

Những năm sau này, sức khỏe của anh có phần xuống. Con đường sáng tạo với nhiều người như vậy đã hoàn mỹ. Nhưng Du Tử Lê không thể dừng lại, có một điều gì đó được ký thác để anh viết cho đến ngày cuối. Đêm đêm anh vẫn :

Trì tụng cho tình kinh vãng sanh
Một pho Phụ Rẫy. Một Pho Quên

12. Năm 1994 đánh dấu khúc quanh quan trọng bậc nhất, lúc Du Tử Lê gặp lại Phan Hạnh Tuyền, người con gái xứ Huế mà anh yêu thương một thời gian ngắn trước khi hai bên mất liên lạc vào tháng 4 năm 1975.

Cả hai tâm thất đầy hoa khế
Sông núi người thơm nỗi nhớ nhà
Đôi mắt quầng đắm đuối
Từ khi đeo tình người

Chị là người chung thủy tận tình nhất với anh. Từ những ngày xa xưa hoa khế rụng đầy sân cho đến sau này xa quê, anh đứng ngẩn ngơ bên đường mà viết:

Không ai hiểu tâm hồn tôi bìa sách
Bọc bao ngoài quá đỗi thực hư chung

Tình yêu của họ cũng có lúc gặp sóng gió, mất mát. Nhưng Hạnh Tuyền sẽ là người vợ bao dung của anh, là người mang lại hạnh phúc trong bình an, đem anh đến bên ngọn lửa ấm của gia đình. Ngôi nhà cuối đời của anh.

Du Tử Lê được quần chúng biết đến phần lớn vì các ca khúc phổ thơ.

Hạnh phúc tôi, hạnh phúc tôi
Từ ngày con nước về
Ngoài trời mưa mau 

Giọng hát Xuân Sơn, Thái Thanh, Tuấn Ngọc, Thanh Hà, Vũ Khanh. Các câu chuyện anh kể trong thơ được trình bày mà không có một lời giới thiệu nào, một lối nói trần trụi và trực tiếp làm cho anh gần với phong cách hậu hiện đại. Chủ nghĩa hậu hiện đại dựa trên niềm tin về sự thất bại của nghệ thuật như một tấm gương và như một phương pháp thay đổi. Vượt ra ngoài ý định của tác giả, thơ Du Tử Lê chỉ có thể được hiểu bởi những người sống đẫm mình trong ý thức tự do, và trong nhận xét của tôi, số người này đang ngày một đông đảo hơn. Nếu bạn không quen thuộc với các chọn lựa và mặt tối của chúng, không quen thuộc với tính vô mục đích của đời sống, và tính vô sở cầu của tình yêu, thì bạn khó yêu mến được ngôn ngữ Du Tử Lê. 

chúng tôi lớn: vào đời không lựa, chọn
hoa tình cờ nẻ đá mọc hoang mang
suối không mạch: thác không nguồn: chảy ngược
ngón vực ngờ khỏ vỡ trán cô đơn

Dấu phẩy của anh giữa hai chữ lựa, chọn không có nghĩa gì. Mọi thứ đều có thể sai lầm. Bất cứ một tài năng nào đều rơi vào hai hoàn cảnh đối nghịch: hoặc quá nhiều người biết, hoặc chẳng ai biết. Thơ vốn viết về sự sai lầm, cảm giác có lỗi, cảm giác thất bại. Cái chết là sự thua cuộc cuối cùng, tuyệt đối. Du Tử Lê chống lại các ảo tưởng trong thơ: ví dụ cái đẹp cứu rỗi thế giới. Sự thật và vẻ đẹp là hai chuyện khác nhau: anh chú ý đến cái đẹp. Ảo tưởng khác: thơ phải dẫn đến sự tốt đẹp. Thơ buồn, kết thúc đau đớn, không tìm thấy lối thoát:

Vì sao thân anh run
Vì sao chân không vững

Ảo tưởng nữa: thơ phải truyền thống. Ảo tưởng khác: thơ phải đương đại, phản kháng, thay đổi xã hội. Có một xung đột trong sáng tạo Du Tử Lê. Ý muốn cách tân, thể hiện sớm trong nhiều bài thơ tự do, nhưng cuối cùng lục bát, thơ bảy chữ, thơ năm chữ vẫn là gia tài đồ sộ nhất của anh. Anh có nhiều người bạn, nhận xét về họ tinh tế, như Nguyên Sa, Mai Thảo, Tô Thùy Yên, Trần Dạ Từ, nhưng tôi chưa thấy anh chịu ảnh hưởng của ai. Có lẽ cũng vì một lẽ đó mà anh ít dùng các chữ Hán Việt, và sử dụng một thứ ngôn ngữ bình dân của người Sài Gòn. Chính sự thiếu vắng ngôn ngữ cổ điển làm cho thơ anh giàu, khoáng đạt. Mặt khác, khi muốn viết các câu thơ như thể hiện một ý tưởng, anh ít thành công. Vỡ lòng cho một người con gái Mỹ, thơ tự do viết năm 1969, ở Indiana, là một bài thơ thành công hiếm, theo hướng này.

Không bao giờ đâu Donna Donna
Dù anh có yêu em
Hơn bất cứ thứ gì có trên đất Mỹ
Thì anh cũng vẫn trở về

Bài thơ có thể dừng lại ở đó, bốn câu hay nhất trong toàn bài. Những câu khác tiếp theo có thể đoán được. Ví dụ: 

Thì anh cũng trở về
Quê hương anh với trăm ngàn đời khốn khó

Không sánh được với một thứ linh cảm lạ, nhiều nhà nghiên cứu hàn lâm dễ bỏ qua: 

Người nay xa xôi người bên kia trời

Tuy vậy, do ý thức thường trực về số phận đất nước, thơ anh bao giờ cũng được đặt trên nền gian khổ chiến chinh. Mai Thảo, Nguyên Sa và nhiều người đọc Du Tử Lê, lấy làm ngạc nhiên là thơ anh “bỗng hay lên một cách đột ngột” từ những năm 1980. Tôi tin rằng tài năng ấy đã lấp lánh từ những năm sáu mươi. Thoạt đầu anh viết câu đơn giản, với nghĩa một chiều, mỗi câu là một ý. Trong đó có những câu tầm thường:

Thời gian đẹp là thời gian đánh mất
Mộng không thành là mộng quá cao xa

Cho đến những câu thơ thành công hơn :

Kỷ niệm tôi từ những ngày vỡ tiếng
nhẩn nha gom từng cọng thiết tha rơi
con dế nhỏ lớn lên đầm tiếng hát
khi đêm về ru giọng đớn đau hơn
cây niên thiếu cũng thui mầm trong sáng
lá oan khiên lả tả mái hiên người

Thời còn ở Việt Nam, chữ của anh chất phác. Tuy nhiên anh cũng có đột phá; đây là dấu hiệu báo trước tài năng hai mươi năm sau. 

Hạnh phúc tôi từ những ngày nước lớn
Trời mưa mau tay vuốt mặt khôn cùng
Bầy sẻ cũ hom hem chiều ngói xám 
Trời xanh xao chân nhỏ cũng không về
(1967)

Sau cuộc đổi đời, một điều gì đó đã xảy ra mãnh liệt, đánh động giác quan, mở bừng tâm thức. Điều đáng chú ý là ở một số nhà thơ khác, cũng có thể cùng trải qua cảnh ngộ như anh, không có sự phơi trần như Du Tử Lê, bay kịp đôi cánh của chữ. Anh mở ra chiều kích mới, làm giàu cho ngôn ngữ mẹ. Đôi khi anh viết giản dị:

Em xạ hương từ quá khứ tôi

mà vẫn làm rung động. Nhưng thường anh viết khó hơn :

Than, củi gọi ngày, đêm xương máu, rợn
Trí câng câng; tâm gõ nẩy bong bong
Thuở mông muội thiêng liêng rừng gỗ đá
mỗi tiếng kêu: nóng hổi một linh hồn 

Nghệ thuật Du Tử Lê trước hết bắt đầu ở cách chọn chữ. Trong giai đoạn đầu: 

Buổi sáng nào quên thức trên những hàng cây xanh
Nỗi xót xa nào đậu mãi trên những cặp môi khô nhăn

Thậm chí dễ dãi:

Mình về phố ấy ấm êm
Tôi lêu lỏng suốt nghìn đêm bạn bè

Anh bắt đầu dùng chữ khó hơn, có mức nghĩa dày đặc, gọi là hàm súc. Điều khó khăn là chữ như thế có thể làm cho một bài thơ trở nên mất tự nhiên. Hãy xem Du Tử Lê vượt qua cạm bẫy như thế nào. 

Giữa vùng tư tưởng đêm lu
Tay xưa mắt nọ kỳ khu hồn người

Chưa hay, nhưng lạ. Càng về sau, anh càng tránh được cả hai: sự dễ dãi và sự trúc trắc. Khi viết thơ tự do, Du Tử Lê mới đầu hình như chưa nhận ra rằng bằng cách làm thơ tự do, anh vô tình chuyển qua hệ thẩm mỹ khác, trong đó cấu trúc ngôn ngữ được quyết định nhiều hơn bởi ý tưởng: không có một ý tưởng cốt lõi, bài thơ sụp đổ. Cũng như vậy, tính mơ hồ của ngôn ngữ, vốn có vai trò quan trọng trong thơ có vần, trở nên phần nào ít quan trọng hơn trong thơ tự do. Nhưng Du Tử Lê lại chú ý đến các âm tiết (syllables) khác nhau trong thơ. Sau đây là ví dụ:

- Âm- an, -ang gây cảm giác rộng rãi mênh mông:

Chiều dâng lênh láng chiều, giăng hàng

- Âm –ui gây cảm giác khô, lững lờ, hẫng:

Cây vùi, chôn nhau khôn lui
Ngọn liên hoa tạnh, gốc hồi dương, khô

- Âm –ách, -ất, -ấc gây cảm giác ngắn gọn, sắc, vui vẻ:

Bông hoa mách một con đường ngắn nhất

Một trong những đặc điểm của anh là dùng chữ bình dân táo bạo. Một số nhà thơ Việt Nam rất ít sử dụng từ bình dân: Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền. Một số sử dụng nhiều các yếu tố dân gian, ca dao: Hoàng Cầm, Lê Đạt, Tô Thùy Yên. Ít người dùng chữ như:

Em xâm thực nửa đời tôi chín muỗm.
Mày đã mười năm không nhúc nhích.

Các chữ như chín muỗm, nhúc nhích là các chữ bình dân. Sự tương tác giữa chữ này và chữ khác trong một câu thơ, về nghĩa và âm, là một hiện tượng đặc biệt, cần phân tích sâu hơn. Ở đây, tôi chỉ xin lưu ý rằng Du Tử Lê là một trong số ít các nhà thơ hiện nay dành cho chúng sự cẩn trọng cần thiết. Đôi khi không sử dụng đến vần, anh vẫn có cách đặt chữ chen vào theo một vị trí làm chúng va vào nhau, vang lên:

Chân đi gió tạt sầu ba hướng
Tay vói một trời: trời mưa bay

Chữ vói hay hơn chữ với. Chữ vói níu lại, thấp hơn, gây cảm giác hụt hẫng. Thật ra Du Tử Lê ít dùng chữ lạ, mà dùng nhiều hơn các từ thuần Việt. Các chữ thuần Việt có nội dung rõ, nghĩa cụ thể, ít gây cảm giác mơ hồ, như trong chữ Hán Việt. Một câu thơ của anh nhiều khi có hơn một hình ảnh, các hình ảnh hay ý tưởng này quyện vào nhau, tạo nên âm hưởng.

Bóng lá chính là tên giữ cổng
mời em trở lại nắng trong veo
những con bướm nhạt in trên đất
đừng dẫm lên, nghe, chút bọt bèo

Đôi khi sự phát triển từng cặp không chỉ diễn ra trong một câu mà cả trong một đoạn.

Tìm tôi đèn thắp hai hàng
Lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây

Câu lục có hai động từ, nghĩa là hai mệnh đề, câu bát có hai động từ, là hai mệnh đề khác. Đây là một trong những chìa khóa của biến ảo ngôn ngữ Du Tử Lê. Anh còn dùng thành ngữ thành công, biến các chữ quen thuộc thành mới.

Ai không nín thở qua cầu chứ?
Người vác hoài cây thập giá đời
(Gởi Phạm Nhuận)

Nín thở qua cầu là thành ngữ. Nhưng anh hay dùng thành ngữ mới; các thành ngữ cũ ít gặp. Việc sử dụng chữ bình dân trong thơ có năm tính chất. Thứ nhất, trong các thành ngữ, như vừa nói. Thứ hai, chữ địa phương. 

Mai này thế kỷ sang trang khác
Chẳng có ai thừa hơi hát ngao

Thứ ba, các chữ nhiều người nói, nhưng người ta nói mà không viết: ngôn ngữ nói.

trưa cao liền tiếng chim
cây dướn mình uống gió

Dướn mình, nếu viết rướn thì đúng chính tả hơn, nhưng dướn là một cách phát âm. Thứ tư, không phải ở các chữ, mà ở cách nói phổ biến trong một số tầng lớp.

Con đường rộng hai hàng cây đứng lại
Tôi buổi trưa, tàn khốc chia ly

Mấy chữ tàn khốc rất kiếm hiệp, nhưng anh đem vào được. Tinh tế khó nhận ra là cách nói sau:

Sông tuyệt tự hô hào ta đứng dậy
Dang tay ra tựa Chúa kẹt chân tường

Khó nhận ra hơn nữa :

Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời

Kẹt. Đủ hết đời. Trong thơ Anh Mỹ, có một khái niệm gọi là thơ vernacular (tục, bình dân), nhưng các bài thơ vernacular không có nhiều tính chất văn học như thơ Du tử Lê, và thường được xếp vào một nhóm riêng. Anh góp phần vào việc thi hoá ngôn ngữ đường phố, làm cho chúng có vị trí đáng kể trong thơ, và bằng cách đó mà làm cho ngôn ngữ thơ sống động, có hồn, có máu thịt, có hơi hướm hoang đàng, nam tính, nhưng riêng tư, quyến rũ. Nhiều chữ mới của anh là mới thật :

Đêm đầu tư thêm cho ngày
Sáng huy hoắc lá, cây lòng dạ chim

Chữ huy hoắc mới, nhưng khi anh dùng rồi, khó thay. Như thế ngôn ngữ Du Tử Lê có tính hiện đại, với nghĩa là gần với đời sống đương thời, ngoài các suy tưởng và cảm xúc trẻ trung, là nhờ một ngôn ngữ trực tiếp, trần trụi, thậm chí bất cần. Tôi xin dẫn thêm thí dụ khác, chỉ trong hai câu ngắn : 

Xóc dằn nỗi nhớ. Lem năm tháng
Treo lửng a tỳ nửa trái tim

Các chữ xóc dằn, lem, treo lửng là những chữ bình dân. Tuy vậy, thơ anh khá xa ngôn ngữ ca dao, mà ta thường tìm thấy dấu vết trong một số nhà thơ, nhất là các nhà thơ từ miền Bắc. Có thể một phần do anh ít sử dụng các từ lấp láy, một đặc trưng của thơ Việt truyền thống.

Tịch mịch rơi ngang trời thọ thương.
Hôm nay trời đất lừng khừng.

Anh hay gọi đến các chữ trùng lặp, vần vào nhau.

Ngày nghiêng nhớ xuống vai tiền kiếp
Chuông mõ âm âm ngã mạn nào?

Ngày nghiêng /tiền kiếp /nghiêng tiền kiếp /âm âm /âm âm ngã mạn tạo nên hiệu ứng đặc biệt của tiếng chuông tiếng mõ. Du Tử Lê dùng nhiều hơn các vần cuối trong thơ bảy chữ và tám chữ, ít dùng vần lưng, vốn là vần gây cảm giác lưu luyến. Chỉ thỉnh thoảng những vần như thế được anh đặt khẽ bên nhau:

Soi gương thấy lệ ai còn, chảy
Chiếc lá người bay ngoài nhân duyên

Ai, chảy, bay, ngoài.

Các chữ trong thơ có hai nghĩa, một nghĩa từ điển, thông tin, cố định, và một nghĩa đặc biệt, mơ hồ, bí mật. Nghĩa thứ hai này tạo ra liên kết mạch ngầm. Một liên kết như thế làm cho ngôn ngữ trở nên lay động.

Lênh đênh hồn cắm sào ngang
Năm ô tuổi nhỏ buồn hoang ngọn cờ

Anh làm mới lục bát là bắt đầu từ những câu như câu trên đây. Chúng ta theo dõi tiếp.

dấu trong ký ức âm u
cành xương tháng chín. Mưa mù tháng giêng
hồn cây phong úa truy tầm
dấu chân. Nghìn dặm. Lá mừng. Thôi nôi
vàng sau lưng. Vàng ghế ngồi
mùa em. Thu tím. Rừng tôi phía nào ?

Tôi không chú ý lắm các dấu chấm trong bất kỳ thơ của ai. Trong thơ, khác với văn xuôi, các dấu chấm ít có gía trị, vì chúng dễ dãi, và đôi khi, hơi giả tạo.

Hình như lục bát chật chội đối với anh ? Có lẽ. Từ những năm 1980, lục bát của anh tìm cách nổi loạn: cuộc nổi loạn hiền lành nhất.

hồn cuối bãi, tim đầu ghềnh
những chai máu lạnh. Ân tình treo cao
vói bàn tay. Vói cõi nào ?
cõi quen hơi hướm. Cõi đào thải, đau.
xe ngang cửa. Sầu lên đèo
vực sâu tiếng thảm. Chim chiều cánh, mưa

Bạn có nhớ Huy Cận không ?

Ngập ngừng mép núi quanh co,
Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang

So với thời Huy Cận, thời đại bây giờ khác: càng về sau, người ta sống càng buồn, khinh bạc. Vì mất mát lớn hơn, người như thế, tình như thế, thơ phải thế, chớ sao? Về sau Du Tử Lê mở rộng bằng cách biến đổi các dấu chấm, dấu phẩy, dấu hỏi, dấu gạch chéo, cho tất cả các thể thơ khác. Hãy nghe anh giải thích:

Tôi sẽ để rất nhiều khoảng trống
Giữa hai gạch chéo/slash
Thí dụ: ……/…... /…... /……/
Trong bài thơ
Mời những người đọc tôi
Hôm nay, ngày mai tham, dự
Không phân, biệt cội nguồn, xuất xứ
Chúng ta: đồng tác giả
Bài thơ xuất hiện lần đầu
Hãy khảo sát một câu của anh :
Mặt trời rơi, hẫng, nhớ nhung / đen ?

Nhớ nhung đen trở thành nhớ nhung và đen, mặt trời đen, hay cái rơi là đen? Đôi khi anh thành công:

Gió /nhấm nhẳng/ cất chưng mùa hẹn, hết
Vỗ đôi bờ: xương, thịt ám ui, ui

Tôi nhớ mãi hai câu này của anh, với tất cả những dấu chéo, dấu phẩy, dấu hai chấm rắc rối của nó. Không phải ai cũng nhớ như vậy. Trong câu này:

Ta nghĩa trang nào ? chôn, cất nhau !?

Hai dấu chấm than và chấm hỏi đi liền nhau là một sự lạm dụng: anh đã đi hơi quá xa sức trương nở của ngôn ngữ. Nhưng dấu hỏi ( ? ) sau chữ "nào", dấu phẩy ( , ) giữa hai chữ "chôn cất" là tiêu biểu cho cách chấm câu của Du Tử Lê. Và thành công. Hay bạn lắc đầu? 

Du Tử Lê thường chẻ đôi các chữ kép, làm cho mỗi chữ, mỗi âm tiết, có một ý nghĩa riêng.

Giầy ai, xin cởi, bỏ hiên ngoài

Cởi, bỏ. Trong một bức thư riêng anh gởi cho tôi, phần cuối, anh viết :

Thân, mến.

Đọc kỹ, chúng cũng thú vị. Dấu trong tiếng Việt đương thời thuộc ba nhóm tạm gọi là các dấu ký thanh, dấu chữ, và dấu nối. Các dấu ký thanh gồm có: huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã, (và không dấu). Các dấu của chữ gồm có: ă, â, ơ, ư, ô. Ở đây chúng ta chú ý đến các dấu nối, gồm có năm loại riêng biệt :

1/ Dấu liên hợp: 

- Dấu hai chấm:

Được dùng rất nhiều trong thơ Du Tử Lê.

Truy tầm lý lịch: người không bóng

- Dấu chấm phẩy ;

gỗ lên nước gỗ; vân lên ngọc
tiếng hát lên mầm nắng, gió thiêng

- Dấu gạch ngang – (dash)

Ít dùng.

- Dấu gạch ngang nhỏ - (linking hyphen)

Được anh dùng nhiều .

trước sau nhớ lại: - không sau , trước 
một đời như thế hỏng hay được 

2/ Dấu bao gồm: 

- Dấu ngoặc đơn ( )

Hay gặp:

trong những bông huỳnh-anh chói vàng (ký ức)

- Dấu ngoặc kép “”

- Dấu ngoặc đơn in [ ]

Chưa được anh dùng nhiều.

3/ Dấu ngắt câu hay tách biệt:

- Dấu chấm .

- Dấu phẩy,

- Dấu hỏi ?

- Dấu chấm than !

Các dấu này thường xuất hiện trong thơ Du Tử Lê. Ngay cả dấu phẩy, vốn được nhiều người khác dùng, cũng xuất hiện nhiều hơn.

buồn cân, đo ta trong gương
chiếc khăn gỡ xuống. Tấm lòng máng, lên.

4/ Dấu bỏ lửng:

Chấm chấm chấm …

Ít gặp.

5/ Dấu đa nghĩa:

Dấu gạch chéo / (slash). Đây là dấu trong văn nói (spoken), chưa được chính thức công nhận. Như trong các ví dụ hay gặp hiện nay: được/bị, đã/đang, và/hoặc.

Chúng được dùng nhiều trong thơ Du Tử Lê:

dậy thì/ lá/ trên cành sương góa bụa
hoa ngoại tình : sinh, nở hạt cây thơm

Hay :

truy thân, thế ;tước tưa hình, bóng 
trí tuệ thơm/mềm/nốt trắng, đen

Hoặc :

đời sau nào ai hay đâu
bắc ngang sinh tử : cây cầu ta / em/
chiều. Sông. Saint. Laurent,

Các dấu chấm, dấu hai chấm, và dấu phẩy chẻ dọc câu thơ, trong khi các dấu slash lại lắp ghép chúng vào, như người ta lắp các mảnh gương vỡ, một thứ thơ concrete, cụ thể. Theo tôi dấu slash sau chữ ta là thú vị, nhưng dấu slash sau em là thừa. 

Ai đã từng băng qua sông Saint Laurent mênh mông ở Quebec một buổi chiều sương xuống ướt đầm, như tôi, có tâm trạng gãy nhịp của Du Tử Lê, chắc hiểu hơn sự trắc trở của bài này. Tuy nhiên một số cách ngắt câu khác không thành công và có lẽ sẽ không được lặp lại. Phản ứng trước thời cuộc và cách tân ngôn ngữ là những khuynh hướng xung đột. Chúng ta đang nói về lĩnh vực mới: thơ thể nghiệm (experimental), thơ cụ thể (concrete), nằm ở đường biên mà nhà phê bình duy nhất có thể chứng nghiệm là thời gian. Nhưng ngay cả đối với những thể nghiệm thơ mà ngày nay chưa có câu trả lời, tôi vẫn thấy ở đó dấu ấn kỳ lạ của tài năng. 

Gỗ lên nước gỗ vân lên ngọc
Tiếng hát lên mầm nắng gió riêng

Mối quan hệ trong tình yêu được làm mới lại mỗi ngày. Đó là một hành trình chung của hai người, không bao giờ yên tĩnh, mà biến động. Tình yêu có hai mặt, thơ mộng và thực tế, trong khi thơ tình chỉ nói về khía cạnh thứ nhất. Nghệ thuật chỉ chú ý đến phần đẹp nhất, cao thượng nhất, kịch tính nhất, và loại trừ các yếu tố vốn rất thật như dung tục, cái xấu, buồn chán hàng ngày, sự thất bại. Nghệ thuật không có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề đời sống, vì vậy nó không phải là tất cả. Nhưng chúng ta đừng quên rằng tình yêu được nuôi nấng không chỉ bằng những chương trình lớn, mà còn bởi những chi tiết lặt vặt, sự chú ý, cái cầm tay, sự ân cần. Thơ Du Tử Lê tinh tế điểm này: 

Vết son trên tách trà bông cúc
Vai ghế còn thơm sợi tóc người

Nhiều người không biết đời sống tình yêu gồm nhiều việc vặt: quét nhà, rửa bát, đi chợ, mua quà, con cái, sửa xe, giặt áo. Người nào không những thấy được chúng, mà còn thấy được một cách rõ ràng và hào hứng chia sẻ, xem như công việc của tình yêu chứ không phải công việc của bổn phận, người ấy sẽ thành công. Thơ không có nhiệm vụ khuyên bảo, không cố vấn về luân lý nhưng ở một nhà thơ có tài, có những bài học tình cờ bạn nhặt được trong tác phẩm của họ, riêng tư đến nỗi chính người viết không biết. Ngay cả trong những bài thơ viết cho bạn bè, về thiền, Du Tử Lê cũng sử dụng hình ảnh người nữ như một ẩn dụ. Như vậy không phải thơ tình nào của anh cũng chỉ nói về tình yêu, mà còn nói về nhiều thứ khác, đất nước, nhớ nhà, chiến tranh, sống chết. 

Cám ơn em rồi đầu thai: 
Với tâm Đức Phật/ trong hình hài tôi
(Và, NĐT)

Trong nhiều trường hợp, thơ anh không có lịch sử, không có hiện thực xã hội, không có sự mô tả một thế giới như chúng ta vẫn thấy. Anh loại trừ tất cả các yếu tố khách quan ra khỏi thơ mình. Khúc Thụy Du, tức là khúc thêm cho Huyền Châu được viết vào năm 1968, ngay sau vụ Tết Mậu Thân, như được anh kể lại, mô tả tâm trạng buồn thảm, bi tráng của một người đi qua cái chết của đồng bào, nhưng đọc bài thơ ta không thấy khung cảnh chi tiết và sự phản kháng tội ác, mà chỉ thấy tâm trạng. Đó là một loại thơ phi hiện thực, phi nhân chứng. Thật ra nhà thơ không để cho lịch sử kiểm soát mình, thế giới ngoại cảnh không chi phối văn chương của anh. Tác giả không xác nhận sự quan trọng của thời gian mang tính lịch sử. Tuy nhiên bản chất của tình yêu Du Tử Lê chính là cuộc đời anh, một cuộc đời chìm nổi theo số phận dân tộc, chạy loạn, tản cư, tị nạn, những lời máu huyết của anh tất phải là thời thế, chảy ngầm trong những câu thơ tình diễm lệ, đôi khi khốc liệt, như chưa có ai khốc liệt đến thế, đôi khi lại mềm mại một cách quá đáng. 

Hãy mang đi hồn tôi
Một hồn đầy côn trùng
Một hồn đầy tháp chuông
Ngân nga lời báo tử

Vì đời sống thật hơn khi ta nhìn nó qua người khác, và thật hơn khi ta nhìn nó qua thơ. Đó là điều kỳ lạ, vì ai cũng tưởng rằng tiểu thuyết và thơ chỉ là hư cấu, tưởng tượng. Sự thật thơ ca chỉ có thể là những sự thật toàn vẹn, từ mọi phía. Du Tử Lê gọi toàn vẹn đó là tính cứu rỗi. Riêng tôi, mỗi khi nhớ anh, tôi nhớ hai câu này, như nhớ một thế hệ:

Nhớ nghĩa trang: quê bạn bè
Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường

Tình yêu như một đứa trẻ, vận động liên tục, có mặt khắp nơi, trong không gian, thời gian, vui cũng nhiều mà sầu cũng lắm, xác thịt lặn lội mà cũng mờ ảo vô cùng. Tốt đó rồi xấu đó. Một chút gió lạnh, một vết son nơi tách trà một mùi hương nhài thoảng qua gây xúc động. Khác với thời kỳ thơ mới, các nhà thơ như những tâm hồn rung lên trước thời đại mới, tươi trẻ, sảng khoái, thơ tình Du Tử Lê buồn chết người, thê thảm như cuộc chiến hai mươi năm, nó không thơ mộng, nó chống lại ảo tưởng của thơ mới, chống lại niềm tin. Tôi đặc biệt chú ý đến những bài thơ trong đó suy nghĩ của Du Tử Lê về đất nước được bộc lộ. Anh hoàn toàn không dễ dãi như nhiều người tưởng. Ngược lại, cái nhìn đối với hiện thực của anh nghiêm khắc, có tính phê phán. Ngôn ngữ và âm nhạc được đánh thức cùng một lúc, vang lên, nén lại, trau chuốt, phối trí, cũng có lúc vụng về, ẻo lả, thất bại, nhưng nhiều lúc sắc bén dị thường, và cách viết ấy không có ai bắt chước được. 

Chẳng chiến chinh mà cũng lẻ đôi 

Căn nhà của Du Tử Lê, nơi anh an nghỉ mỗi ngày, đời đời, căn nhà ấy chính là thơ ca. Tình yêu mà anh đan dệt trong thơ, tuy là từ những cuộc tình có thực, tình yêu ấy là quà tặng của cảm hứng. Căn nhà thực sự của Du Tử Lê chính là ngôn ngữ thơ của anh. Người đọc đến với anh, lắng nghe anh không ngừng nói: hạnh phúc tôi, hạnh phúc tôi, chính là lắng nghe chính mình, trái tim mình, đang đập. Chúng ta đến căn nhà ấy, cửa thường xuyên mở, nhà vắng, bạn ngồi xuống, bạn được mời, và bạn ngồi đó lắng nghe thứ âm nhạc kỳ diệu của tình yêu sắp vang lên, đã vang lên rồi, và bạn bỗng nhìn thấy tác giả ngồi trước mặt mình, khi thì như một người lớn tuổi chừng mực, khi như một kẻ hoang đàng, yếu đuối, lầm lỗi, nhưng bạn không ngừng yêu mến anh, tha thứ cho anh, trở lại với anh, lắng nghe thơ anh một lần nữa, lần nữa, cũng có khi bởi các ca khúc phổ nhạc, và bạn tin rằng bạn đang ở trong căn nhà của giấc mơ, sự trở lại, đau khổ hay hạnh phúc một cách tự do. Chỉ khi nào con người rời bỏ vai trò trung tâm của mình, cái tôi của họ biết nhường lối cho kẻ khác, hòa vào dòng sông lớn như nhành suối nhỏ, như cây con trong đám rừng nhân loại, người ấy mới chấm dứt sự cô đơn. Du Tử Lê nói khác đi, nói hay hơn, nhưng từ một điểm nhìn không khác:

Chấm dứt luân hồi: em bước ra

Từ bỏ sự ám ảnh về mình, tự hòa tan mình vào một chiếc bình không đáy, anh lấy người phụ nữ mà anh yêu làm thứ dung dịch hòa tan vô tận.

Ở chỗ nhân gian không thể hiểu
em sống cùng ta mỗi sớm hôm
nhớ trên khung cửa môi thơm gọi
buổi sáng em về như Quan Âm

Tình yêu có thực của Du Tử Lê không chỉ là chất liệu sáng tạo mà đôi khi tôi nghĩ chúng như được sinh ra vì thơ ca, phục vụ cho nó. Không một tác giả nào hoàn toàn tách rời tác phẩm và viết như một kẻ sáng tạo thuần túy, người ấy cũng phải trả giá thực tế cho bài thơ của mình, thế thì chính cuộc đời của bạn được sinh ra để phục vụ cho bài thơ ấy. Người sáng tạo là kẻ làm việc không công cho nữ thần sáng tạo. Ngay cả cái chết, sự u tối, sự hủy diệt trong thơ Du Tử Lê không chỉ là bất hạnh của nhà thơ, như chính anh hay nhiều người có thể nghĩ, mà chính ra là mơ ước thầm kín của hiện hữu, nếu sáng tạo là mục đích của đời sống. Thời gian tồn tại không phải bằng cách kéo dài mà bằng cách tích lũy những phút giây đặc biệt khi cuộc sống có ý nghĩa nhất, tình yêu đẹp nhất, sự tồn tại của bạn có tính hướng thượng nhất. Mỗi khi nhớ một người bạn không còn ở với chúng ta, nghĩ thế, tôi lại thấy lòng nhẹ nhõm. Chúng ta nhìn thấy sự chuyển hóa của tình yêu trong thơ tình Du Tử Lê, sự chuyển hóa từ khổ đau thành an ủi, từ tối đến sáng, từ hao mòn thành vĩnh viễn, từ hận thù thành tha thứ, từ cái cuối cùng thành cái đầu tiên, tức là sự trở lại rực rỡ hơn, của đời sống.

Nguyễn Đức Tùng

(viết nhân thất tuần Du Tử Lê, 11. 2019)

(*) "Với Du Tử Lê, đời sống trở nên thơ mộng hơn", p. 55- 71, NXB Tự lực bookstore, 2007

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét