Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2019

Đàm Trung Pháp: “Vũ Vô Quan Tỏa Năng Lưu Khách” - Câu chuyện một danh thần triều Lê kén rể qua văn phong

Tiết Nghĩa Từ (Đền thờ cụ Tiết Nghĩa Đàm Thận Huy ở Bắc Ninh)

Để đánh dấu thời điểm vừa đến tuổi “cổ lai hy” và chuẩn bị hưu trí (2011), tôi ngồi đọc lại cuốn Gia Phả Họ Đàm, Hương Mặc, Bắc Ninh với lòng kính cẩn. Cuốn sách hoàn tất năm 1953 này là kết quả một nỗ lực làm việc nghiêm túc xuyên qua nhiều thế hệ, cho tôi thấy người xưa thiết tha gắn bó với dòng họ và quê quán của mình biết bao nhiêu!

Khởi thủy là cuốn Đàm Thị Gia Kê do cụ Quốc sư Đàm Công Hiệu soạn năm 1718 bằng chữ nho, khi cụ làm thượng thư bộ Lễ thời Vĩnh Thịnh triều Lê. Gần hai thế kỷ sau, cụ nghè Đàm Liêm mới bổ khuyết và cập nhật cuốn gia phả ấy vào năm 1909, khi cụ làm đốc học tỉnh Thanh Hóa. Năm 1939, để giúp những người không đọc được chữ nho, thứ nam cụ nghè Liêm là ông tuần phủ Đàm Duy Huyên đã dịch cuốn sách sang chữ quốc ngữ. Năm 1953, ông thân sinh của tôi là Đàm Duy Tạo (em thúc bá của ông tuần Huyên) bổ khuyết và san nhuận bản văn. Sau cùng, vào năm 1955, người anh thúc bá Đàm Trung Mộc của tôi đã cho đánh máy cuốn gia phả này để phân phối cho các gia đình trong họ đã di cư vào Nam sau hiệp định Genève 1954.

Tôi hân hạnh được đóng góp đôi chút vào nội dung Đặc San Xuân Nhâm Thìn 2012 của Hội Đồng Hương Bắc Ninh Nam California bằng cách thuật lại cuộc đời của một vị thủy tổ của tôi, trong đó có câu chuyện cụ kén rể trong đám môn sinh của cụ tại đất Bắc Ninh, dựa vào cuốn gia phả họ Đàm nêu trên.

Cụ Đàm Thận Huy 譚慎徽 (1463-1526) là người thông minh, khí khái, làm thơ phú rất tài, ý cao lời đẹp. Vua Lê Thánh Tông đã phải khen cụ, một vì sao sáng trong Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, là “thiên hạ đệ nhất danh thi nhân 天下第一名詩人”. Cụ đỗ hương cống năm 1486 và tiến sĩ năm 1490. Sau khi làm thượng thư nhiều bộ, năm 1518 cụ được thăng thiếu bảo và mời giảng sách dạy vua học.

Năm 1522, Mạc Đăng Dung tiếm bức, Vua Chiêu Tông trốn ra Mộng Sơn thuộc tỉnh Sơn Tây để cầu quân cần vương. Cụ Đàm Thận Huy, bấy giờ đã trí sĩ, nhận được huyết chiêu của vua bèn cùng một số người thân tín mộ được hơn sáu ngàn quân dựng cờ khởi nghĩa đánh Mạc. Lúc mới, cụ thắng mấy trận nhỏ. Ít lâu sau, Đăng Dung tiến đại binh, chia làm 6 toán, thay phiên đánh dồn dập luôn mấy ngày. Quân cụ tan vỡ cả, phải lui lên thủ hiểm ở Thọ Thành thuộc tỉnh Bắc Giang. Cuối cùng, cụ từ tạ các bạn nghĩa, giải tán quân sĩ, và viết thư tuyệt mệnh gửi cho con, cháu. Ngày mồng ba tháng tám năm bính tuất (1526), cụ ngoảnh mặt về hướng Lam Sơn khóc lễ rồi uống thuốc độc tự tử, thọ 64 tuổi. Năm sau, Đăng Dung mới cướp hẳn ngôi vua Lê. Vì cảm phục cụ là người trung nghĩa, Đăng Dung cho rước hài cốt về chôn ở quê cụ là làng Hương Mặc, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, và ban sắc phong tước hầu cho cụ. Nhưng sắc phong ấy khi rước về gần đến làng Hương Mặc thì bỗng bùng lửa cháy mất; mọi người kinh hãi, cho là hồn cụ thiêng không thèm nhận sắc phong của nhà Mạc. Năm 1666, Vua Lê Huyền Tông phong cụ là Tiết Nghĩa Đại Vương và lập đền thờ tại làng. Từ đó cụ được gọi là “Cụ Tiết.”

Cụ bà họ Nghiêm, người làng Quan Độ, cách làng Hương Mặc khoảng một cây số. Cụ là em gái của tiến sĩ Nghiêm Ích Khiêm, đồng khoa với cụ Đàm Thận Huy. Khi vinh quy, cụ Khiêm bảo cụ Huy rằng “Ông chưa có vợ, mà cô em tôi hiền lành lắm; ông bằng lòng lấy thì tôi xin gả.” Cụ Huy cười nói “Xin vâng,” thế là cưới ngay. Khi cụ ông khởi nghĩa đánh Mạc, cụ bà cũng đi theo.

Hai cụ được bốn ông con trai và bốn bà con gái. Bà con gái lớn tên là Thúy, lấy ông bảng nhãn Nguyễn Chiêu Huấn, học trò cụ Tiết. Ông Huấn người huyện Yên Phong, làm quan đến chức trung thư. Lúc trước cụ Tiết bà muốn gả bà Thúy cho ông Nguyễn Giản Thanh diện mạo khôi ngô và cũng là cư dân Hương Mặc, nhưng chuyện đó không thành, như câu chuyện dưới đây giải thích:

Một hôm, buổi giảng sách đã xong, trời mưa học trò không về được. Cụ Tiết bèn ra câu sau này cho các học trò đối:

Vũ vô quan tỏa năng lưu khách 雨 無 關 鎖 能 留 客 
(Mưa không có cửa khóa mà giữ được khách ở lại)

Ông Thanh ứng khẩu đối rằng:

Sắc bất ba đào dị nịch nhân 色 不 菠 濤 易 溺 人
(Sắc đẹp chẳng có sóng cồn nhưng dễ đắm đuối người)

Ông Huấn thì đối rằng:

Nguyệt tự loan cung bất xạ nhân 月 似 彎 弓 不 射 人
(Mặt trăng giống như cung dương lên mà chẳng bắn ai)

Cụ Tiết cho câu của ông Thanh là hay hơn, nhưng ghét có ý lẳng lơ lãng mạn. Vì cụ thích câu của ông Huấn có ý trung hậu, cụ mới gả bà Thúy cho ông học trò hiền lành này. Đến khoa thi, ông Thanh đỗ trạng nguyên, ăn khao hơn một tháng trời. Thấy cụ Tiết bà hối tiếc mãi, cụ ông bảo rằng “Anh này đỗ trạng nguyên thì anh kia rồi cũng phải đỗ bảng nhãn. Tuy kém hơn, nhưng bụng nó trung hậu, con cháu chắc sẽ khá hơn nhiều.” Sau khoa thi kế tiếp, lúc cụ Tiết đang tắm ngoài ao thì nghe tin con rể Huấn vừa đỗ tiến sĩ. Cụ không kịp mặc quần áo, cứ thế chạy về nhà hô to với cụ bà rằng “Huấn cũng đỗ ông nghè rồi đấy!” Đến khi xướng danh, quả nhiên ông Huấn đỗ bảng nhãn, đúng như lời cụ đoán. Và cũng như lời cụ đoán, về sau con cháu ông bảng nhãn Nguyễn Chiêu Huấn hưng thịnh hơn con cháu ông trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh nhiều.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét