Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2019

Phạm Xuân Đài: Đến với nước Nga (Kỳ 3)

Sáng nay chúng tôi sẽ trả phòng khách sạn để khuya nay đi St Petersburg. Công dụng của khách sạn bộ Quốc Phòng đã hết: giấy tờ chúng tôi đã được công an thị thực xong xuôi. Sau khi đổi tiền, chúng tôi về lại khách sạn với một chiếc taxi kêu được trên đường. Ở Mạc Tư Khoa bạn có thể có thể đứng bên lề và ngoắc bất cứ chiếc xe nào chạy trong lòng đường, hễ nó tấp vào thì đó là taxi. Bởi vì ngoài số taxi chính thức không nhiều lắm mang dấu hiệu riêng trên mui, có vô số người tậu được xe cũ chạy kiếm khách trên đường. Tôi không biết làm ăn như thế họ có vi phạm luật lệ gì không, nhưng tất cả có vẻ công khai bình thường, không lén lút gì cả. Khi thấy chúng tôi khệ nệ mang mấy cái va li to tướng từ khách sạn ra, người tài xế taxi có vẻ bối rối. Tôi bảo anh ta mở cóp xe để xếp hành lý, thì hỡi ôi, cóp xe đầy những thanh gỗ vụn, không còn chỗ đâu mà cho va li vào nữa. Tôi không tin là giữa Mạc Tư Khoa ngày nay người ta còn đun nấu bằng củi, những thanh gỗ này chắc người tài xế nhặt ở đâu đó để dành sửa chữa vật dụng trong nhà hay ngoài vườn, hoặc để đốt lò sưởi vào mùa đông. Có lẽ vì không phải là dân lái taxi chuyên nghiệp, anh ta xớ rớ không biết giải quyết vấn đề hành lý ra sao, khiến tôi phải ra tay, nhét tất cả vào băng sau để người và va li cùng chen chúc rất là thân mật trên một chỗ ngồi. Rồi xe cũng lăn bánh được, và chúng tôi trực chỉ Niệm Phật Đường trụ sở của Hội Phật giáo Thảo Đường.

Cũng giống như nhiều ngôi “chùa” ở Mỹ trong thời kỳ đầu người Việt mới tới định cư, ngôi Niệm Phật Đường này cũng chiếm một đơn vị nhà ở, là appartment trong một chung cư nhiều tầng. Một phòng thờ, nơi để Phật tử đến tụng niệm làm lễ với đầy đủ bàn thờ và kinh sách theo kiểu một ngôi chùa Việt Nam, một căn bếp, và hai phòng ngủ để phòng đón khách phương xa, thường là các thầy từ các nước Tây phương — nước Tây phương chứ không phải Tây Phương Cực Lạc. Ý nghĩ hơi đùa bỡn vừa rồi nhắc tôi nhớ Nga vẫn là một nước thuộc phương Đông, và hình ảnh Tây phương trong đạo Phật đối với người đang ở nước này cũng không khác với người đang ở tại Việt Nam.

Nói đến Hội Phật Giáo Thảo Đường thì không thể không nhắc đến một con người rất đặc biệt, bà Inna Anatolieva Malkhanova, vợ của ông Nguyễn Minh Cần, một người Việt Nam tị nạn chính trị tại Nga từ bốn chục năm nay, mà trong chỗ thân mật trong bài này tôi xin gọi là anh chị. Và mặc dù đã gặp gỡ, trò chuyện với anh chị nhiều trong chuyến đi Nga vừa rồi, trong việc giới thiệu chị Inna ở đây tôi không thể không mượn rất nhiều đoạn của một nữ sinh viên Việt Nam du học tại Nga viết về chị. Bài viết của tác giả Tâm Diệu Hương (đăng trên tờ Viên Giác xuất bản tại Hannover, Đức Quốc vào số 102 Tết Mậu Dần) đã phản ảnh một cách trung thực và sâu sắc nhất con người của chị Inna.

Nhưng hôm nay [...] tôi chỉ vẽ nên một cái nền cho một chủ đề hoàn toàn khác: khía cạnh con người trong việc thịnh suy, phát triển của một Hội đoàn, của một tập thể con người, và cụ thể hơn là vẽ nên bức chân dung của một người mà tôi vô cùng khâm phục, người đứng đầu Hội Phật Giáo của người Việt ở Nga. Đó là Inna Anatolieva Malkhanova. Vâng, bà là một người Nga, nhưng mang một tâm hồn rất Việt Nam, một lòng thương rộng vô bến bờ.

... Tôi biết bà Inna (mà từ đây tôi muốn được gọi bà một cách thân thiết hơn là cô Inna), đã gần mười năm. Cô dạy tiếng Việt ở khoa tiếng Trung Quốc-Miến Điện-Việt Nam trường quan hệ quốc tế Moscow, nơi tôi sang học đại học. Mặc dù cùng trong một trường đại học, tôi và cô cũng không có nhiều cơ hội tiếp xúc gần gũi. Nhưng từ hồi đó sinh viên chúng tôi đã hết sức yêu quý cô, và đặt cho cô cái tên “Bà Việt Nam,” “bà” ở đây không phải là một đại tự nhân xưng để gọi người lớn tuổi mà là một “NGƯỜI BÀ,” như bà nội, bà ngoại, hết sức gần gũi và thân quen. Hầu như người Nga nào nghiên cứu về Việt Nam (ở Nga gọi là nhà Việt Nam học), cũng mang một nét, một tính cách nào đó rất Việt Nam. [...] ở cô Inna các tính cách đó hết sức Việt Nam: giản dị, đôn hậu, hy sinh, và tảo tần hệt như các bà nội hay bà ngoại chăm lo cho gia đình, con cháu.

Vài nét về tiểu sử, sự nghiệp của chị Inna, vẫn mượn lời của Tâm Diệu Hương:

Cô sinh ngày 6 tháng 7 năm 1939. Năm 1957 cô thi vào khoa địa lý trường đại học tổng hợp Lomonosov. Cũng như tất cả mọi sinh viên khác, cô phải chọn một nước làm đề tài nghiên cứu viết luận án tốt nghiệp. Chỉ có điều thay vì chọn các nước châu Ầu có nhiều tài liệu nghiên cứu, vừa dễ vừa có cơ hội sang các nước đó thực tập, cô lại chọn một nước thật xa lạ là Việt Nam. Cũng chính nhờ cô là sinh viên duy nhất và đầu tiên nghiên cứu về địa lý Việt Nam nên năm 61-62 cô được sang Việt Nam lấy tài liệu. Đó là lần đầu tiên cô làm quen với tiếng Việt, với đất nước Việt Nam. Gần một năm đi lấy tài liệu tại các tỉnh khác nhau ở miền Bắc Việt Nam, cô đã hoàn thành hàng chục tấm bản đồ hết sức cặn kẽ về phân bố cây trồng nông nghiệp, gia súc, lúa, qua sản lượng trong nhiều năm ở Bắc. Những tấm bản đồ này đã là giáo khoa về địa lý Việt Nam cho các sinh viên nghiên cứu về kinh tế miền Bắc Việt Nam hồi đó.

Điều thú vị là ngay từ dạo đó, với một cái nhìn từ phía ngoài, cô đã viết luận án phó tiến sĩ về kinh tế địa lý Việt Nam với một góc độ hết sức khách quan, phê phán cách “cưỡng ép” nông dân vào các hợp tác xã nông nghiệp, phân tích những thiệt hại to lớn do cải cách ruộng đất gây ra đối với nông thôn. Những đánh giá của cô thật quá nên đã không được chính phủ Liên Xô hồi đó chấp nhận, năm 1970 cô đã phải bảo vệ luận án một cách bí mật, và bản lưu luận án cũng phải cất giữ tại kho lưu trữ sách bí mật thuộc thư viện quốc gia lớn nhất Liên Xô mang tên Lênin. Sau này có nhiều người khuyên cô nên sửa lại bản luận án cho phù hợp với “đường lối hữu nghị” hơn, như thế sách của cô sẽ được in và phát hành rộng rãi, cô chắc chắn sẽ thành một chuyên gia nổi tiếng về Việt Nam. Nhưng cô chỉ cười, cứ để những hạt bụi của thời gian phủ trên cuốn sách, sẽ đến một khi nào đó người ta sẽ lau chúng và trân trọng đặt lên bàn mà chiêm ngưỡng sự thật, còn cô không thể sửa cong ngòi bút của mình.

Nhưng xong luận án về địa lý, chị Inna lại chuyển sang một lãnh vực khác, vẫn Việt Nam: ngôn ngữ.

Trong suốt 16 năm từ 1971 đến 1986 giảng dạy tiếng Việt ở học viện các nước Á-Phi thuộc trường đại học tổng hợp Lomonosov, và sau này ở trường đại học quan hệ quốc tế của Bộ ngoại giao Nga, cô đã biên soạn hơn ba mươi đề tài khác nhau về kinh tế địa lý Việt Nam, hàng chục cuốn sách giáo khoa và từ điển quan trọng cho sinh viên. Những công trình lớn nhất của cô là những nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và sự phát triển nông nghiệp Việt Nam, bộ từ điển Nga-Việt đồ sộ hai tập với tổng số 1352 trang, từ điển kinh tế chính trị Nga-Vỉệt, từ điển thuật ngữ thể thao Nga-Việt, giáo trình dạy phát âm tiếng Việt v.v...

... Tôi biết cô hết sức gần gũi đã hơn ba năm rồi. Tôi biết cô là người vô cùng tốt bụng, tôi biết cô dành nhiều tâm sức để cứu chó mèo hoang, tôi biết cô dành toàn bộ sự lo lắng cho hội Phật Giáo Thảo Đường. Nhưng chưa bao giờ tôi biết cô là một nhà khoa học hết sức nghiêm túc và sâu sắc.

Nhà khoa học nghiêm túc và sâu sắc ấy có một tâm đạo bao la. Phải làm một người vô thần từ thời trẻ (hay đúng hơn là phải theo “đạo vô thần” của các giáo chủ Marx-Lenin), tâm hồn chị vẫn mang một nỗi trống trải, thiếu thốn về mặt tâm linh, thậm chí có nhiều thời kỳ chị bị khủng hoảng. Cuốn sách tôn giáo đầu tiên chị được đọc là một cuốn Kinh Thánh rất xưa của bà nội chị còn giữ được, chúng tôi đọc thấy nhiều điều rất hay, nhưng mà cũng có những chỗ thấy khó đồng ý. Chẳng hạn, “ai không theo ta thì người ấy chống ta”, nghe không khác mấy cách nghĩ và làm của những người cộng sản. Nên thấy ngần ngại thế nào ấy.

Tuổi thanh xuân đầy thắc mắc và cảm hứng siêu hình của chị Inna đã đụng phải sa mạc khô cằn về tinh thần và ê chề về xã hội trong chế độ xô viết bấy giờ. Chị cho biết thời ấy đã âm thầm thành hình một quan niệm sống trong giới phụ nữ có học thức ở Nga: không lập gia đình. Lý do trực tiếp: gia đình Nga là một cõi địa ngục cho người phụ nữ. Có lẽ bắt nguồn từ thời phong kiến, người đàn ông Nga, theo chị, vẫn trút mọi gánh nặng gia đình trên vai người đàn bà, người vợ phải lo toan mọi thứ trong nhà, và đổi lại, luôn luôn gặp phải thái độ rất trịch thượng của người chồng, như đó là cái quyền trời cho của phái mày râu vậy. Chế độ cộng sản tuy nói nhiều về quyền bình đẳng này nọ, nhưng trong thực tế tình hình gia đình không những không cải thiện mà còn xấu hơn, vì ý thức cá nhân của con người ngày càng sút giảm, và tệ nghiện rượu trong dân chúng đã lên đến mức kinh khủng. Người đàn ông Nga uống rượu như hũ chìm, và chuyện chửi mắng đánh đập vợ thì xảy ra như cơm bữa. (Xin mở một dấu ngoặc để đưa ra một minh họa cho hiện tượng này: những năm sau 1975, nhiều đội bóng đá Liên Xô đã đến thi đấu tại Sài Gòn. Trong những giờ giải lao, cầu thủ Liên Xô giải khát bằng cách cầm nguyên chai rượu Lúa Mới, một loại rượu đế nặng, uống ừng ực. Dân nhậu chuyên nghiệp Sài Gòn thấy thế cũng phải lắc đầu le lưỡi). Đời sống của người phụ nữ Nga là một đời sống cam chịu nỗi bất công dằng dặc trong gia đình không biết khi nào mới thoát ra được.

Tôi hỏi chị Inna ngoài sự chống đối tiêu cực của một thiểu số trí thức bằng cách không lập gia đình, phụ nữ Nga có tổ chức tranh đấu cho quyền bình đẳng như tại Âu Mỹ không, thì chị trả lời rằng không. Không hề có mầm mống một tổ chức nào như thế trong xã hội. Có lẽ một phần do tính cam chịu thụ động cố hữu của phái nữ, phần nữa quan trọng hơn là chế độ cộng sản cấm đoán mọi hoạt động kiểu như thế. Trong một cơ chế phủ nhận mọi quyền sinh hoạt công dân thì làm sao một phong trào như thế cố thể nhen nhóm được?

Kịp đến thời perestroika nỗi khát khao tâm linh đã đưa chị đi nghe các mục sư Tin Lành người Mỹ và Nam Hàn giảng đạo, rồi đi theo Krishna-it của người Ấn Độ, rồi học thiền định với một ông người Ấn, nhưng chỉ thật sự cảm thấy đến gần đạo Phật khi đi nghe nhà sư Nhật Bản Terasava giảng, mặc dù chỉ hiểu lõm bõm qua những lời phiên dịch không trôi chảy. Phải chờ đến tháng Tư năm 1993, trong cuộc hội thảo về “Vấn đề nhân quyền cho Việt Nam” tại Mạc Tư Khoa, chị với anh Nguyễn Minh Cần mới lần đầu tiên được gặp các vị sư Việt Nam, là các thầy Minh Tâm từ Pháp sang, thầy Minh Tuyên từ Hoa Kỳ, và thầy Nguyên Lạc từ Canada đến. Các thầy đã khuyến khích, giúp đỡ để một tổ chức học Phật được ra đời.

Chúng tôi mời quý Thầy đến nhà. Hôm đó, chỉ có hai thầy Minh Tâm và Minh Tuyên đến, còn thầy Nguyên Lạc thì phải bay về Canada. Chẳng hiểu duyên may thế nào, khi hai Thầy đến nhà, tôi mới mạnh dạn xin hai Thầy tụng cho một bài kinh... Hai Thầy không từ chối. Lần đầu tiên tôi nghe tiếng tụng kinh của quý Thầy Việt Nam ở trên đất nước Nga, ngay ở nhà mình, thật là xúc động thấm thía không thể tả dược... Đấy, tôi đã đến với đạo Phật như thế đó.

Sự “đến với đạo Phật” của anh chị Nguyễn Minh Cần-Inna không phải chỉ nhằm tìm lối giải thoát các bế tắc của riêng mình, mà còn nhằm đến người Việt tại Nga và cả người Nga nữa. Người Việt Nam tại Nga là một tập thể chịu nhiều khốn khổ, và mọi người ai nấy đều lao vào đường lo làm ăn, chẳng ai nghĩ đến những vấn đề tâm linh. Chúng tôi thấy cộng đồng Việt Nam ở đây rất đông, họ làm việc vất vả kinh khủng, bị bóc lột, bị áp bức nặng nề, tinh thần thì luôn luôn căng thẳng, họ sợ sệt đủ điều, sợ đủ hạng người, sợ bọn cướp “đầu đen,” sợ bọn trấn lột người Việt, sợ lưu manh Nga, sợ công an Nga, sợ sứ quán Việt Nam, sợ đủ thứ... thế mà về mặt tâm linh của họ thì hoàn toàn trống rỗng.

Chính vì thế anh chị đã cố hết sức đem đạo đến với họ, để lấp khoảng trống tâm linh đó, giúp họ an ổn tinh thần hơn, hướng về điều thiện hơn. Nếu nhu cầu ở miền Bắc Việt Nam là “Chùa là cái thiện của làng” thì ở Nga, nhất là người Việt ở Nga vốn phần lớn ra đi từ miền Bắc, thì vấn đề cũng y nguyên như thế, chỉ nặng nề thêm vì lâm vào một hoàn cảnh đặc biệt. Khoảng trống trong tâm khảm họ không phải chỉ có trong cuộc vật lộn mưu sinh kinh hoàng nơi xứ người, mà đã được thâm nhiễm từ lâu trên đất mẹ của họ, nơi mấy mươi năm qua luôn luôn được thôi thúc tiến nhanh tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội với vũ khí duy nhất là cái đạo vô thần. Mảnh đất của mấy ngàn năm Phật giáo mà thoắt chốc trong cái kỹ thuật nghiền nát đời sống tinh thần của con người, đã tạo nên những đứa con “về mặt tâm linh hoàn toàn trống rỗng.”

Anh chị Cần-Inna và những người đồng chí hướng đã làm được một việc lớn lao, là phục hồi đời sống tâm linh cho những con người đã mất nó. Sứ quán Việt Nam tại Nga chẳng ưa gì công cuộc này, họ vẫn muốn tâm linh người Việt Nam càng rỗng càng tốt. Lại những ngón đòn phá hoại cổ điển: đe dọa, ngăn chặn người Việt đến với hội Phật Giáo Thảo Đường. Hầu như người cộng sản không xây dựng được một cái gì tích cực cho loài người trên mặt đất này, ngoài việc dựng nên những công tác phá hoại. Đó là khả năng xuất sắc duy nhất nằm trong bản chất của họ. Một thứ bản năng mang trong nó tính hủy diệt. Và cũng chính vì thế mà hội Phật Giáo Thảo Đường vẫn tồn tại và phát triển với đông đảo người Việt và người Nga đến với mình.

Anh Lê Đình Điểu, cựu chủ nhiệm báo Thế Kỷ 21, bị phát giác bệnh ung thư từ khoảng đầu năm 1998, qua đời vào tháng Năm năm 1999, có lẽ đã dùng hơn một năm nằm bệnh ấy để soát xét lại nhiều loại hoạt động đang diễn ra của người Việt khắp nơi. Trong lần gặp nhau cuối cùng trước khi anh vĩnh viễn đi vào hôn mê, anh đã nắm tay tôi và nói rằng: “Công việc tôn giáo anh Nguyễn Minh cần đang làm bên Nga là công việc đáng làm nhất hiện nay. Nên hỗ trợ tích cực những việc làm như thế.” Tôi tin thần thức của Điểu trong thời gian sắp ra đi ấy đã đạt mức độ trong suốt, có thể nhìn thấu thực chất của nhiều sự việc mà một người bận rộn lăn lộn trong đời không nhìn ra được. Khi tôi đến với đất Nga, gặp gỡ, trò chuyện với anh chị Nguyễn Minh Cần-Inna cùng những người bạn Việt Nam ở đấy, rồi thăm Niệm Phật Đường của hội Phật Giáo Thảo Đường, thì tôi mới thâm cảm tất cả những lời có thể coi là trối trăng của Điểu nói với tôi. Bạn với nhau từ thời Trung học, ra đời cùng hoạt động qua bao thời kỳ, tôi vẫn phục Điểu là người có cái nhìn xa, nhiều sáng kiến và tài tổ chức, nhưng chưa bao giờ tôi thấy bạn nắm một vấn đề đúng một cách sâu xa như thế. Sâu thăm thẳm như chính tâm linh của mình hiển lộ ra lúc sắp lìa đời. Tâm linh của Điểu cũng chính là tâm linh của bao người Việt, đang trong cơn lận đận lao đao đâu đó trên quả đất này. Điểu đã dùng lần gặp nhau cuối cùng còn tỉnh táo ấy để mách bảo cho tôi điều Điểu đã thấy rất rõ, và biết có thể tôi chỉ mới thấy lờ mờ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét