Thứ Năm, 21 tháng 11, 2019

Lâm Vĩnh Thế: “Chiến Tranh Việt Nam Là Một Cuộc Chiến Không Thể Thắng Được” - Nhận Định Nầy Đúng Hay Sai ? (Tiếp theo và hết)

Luận Cứ Về Chiến Lược Quân Sự Của Hoa Kỳ Tại Việt Nam 


Luận cứ này gồm hai điểm chính sau đây: 

· Hoa Kỳ đã sử dụng hết sức mạnh quân sự của mình rồi mà vẫn không làm cho Bắc Việt từ bỏ ý định thôn tính Miền Nam 

· Nếu leo thang nữa thì sẽ không tránh được một cuộc đụng độ hạt nhân 

Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng điểm của luận cứ này 

Hoa Kỳ Đã Sử Dụng Hết Sức Mạnh Quân Sự Của Mình 


Luận điểm này vừa nói lên phương tiện vừa cho thấy mục tiêu của việc Mỹ tham chiến tại Việt Nam: phương tiện là dùng hết sức mạnh quân sự của Mỹ, mục tiêu là làm cho Bắc Việt thấy rõ lợi hại mà từ bỏ ý định thôn tính Miền Nam. 

Trước hết hảy xét về mục tiêu. Luận điểm này cho thấy rõ cái giới hạn của việc Mỹ tham chiến: chỉ muốn Bắc Việt ngừng lại việc tấn công Miền Nam, nghĩa là trở lại tình trạng hai nước Việt Nam chia cắt tại vĩ tuyến 17 (giống như ở Đức và Triều Tiên). Chính vì thế rất nhiều người đã chỉ trích rất đúng là Mỹ đánh giặc mà chỉ muốn hòa, chớ không muốn thắng, trong khi địch thì nhất định phải thắng bằng mọi giá, thế nên Mỹ thua là chuyện đương nhiên. Cũng chính vì mục tiêu giới hạn này mà chính phủ Mỹ, tức là phe dân sự, đã đặt ra không biết bao nhiêu hạn chế, gọi là “rules of engagement,” đối với giới quân sự. Trong việc oanh tạc Miền Bắc, tức là Chiến Dịch Sấm Rền (Rolling Thuncder), các mục tiêu rất hạn chế và hoàn toàn do phe dân sự chọn lựa và chỉ định, với kết quả vô cùng tai hại, như nhận định sau đây của Tướng Bruce Palmer, Jr., Tư Lệnh Quân Đoàn II của Hoa Kỳ tại Việt Nam (II Field Force, Vietnam) trong thời gian 1967-1968: 

“In the end, these limited strikes had little effect on the enemy buildup culminating in the massive Easter Offensive across the DMZ in late March 1972. This buildup, incidentally, should have warned the allies of the strong probability of an attack launched directly from the DMZ.” [32] (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Sau cùng, những cuộc oanh kích giới hạn đó đã không ngăn chận được việc tăng cường lực lương của địch mà đỉnh cao là cuộc tổng tấn công Mùa Phục Sinh tiến hành vượt ngang qua Khu Phi Quân Sự vào cuối Tháng 3 năm 1972. Tiện đây phải nói là việc tăng cường lực lượng đó đã có thể báo động cho quân đồng minh về khả năng lớn của một cuộc tấn công của địch từ Khu Phi Quân Sư.”) 

Cũng chính vì mục tiêu giới hạn như thế mà Mỹ đã áp dụng chiến lược leo thang từng bước (gradual escalation). Phương thức leo thang từng bước có thể đem lại hiệu quả tốt trong đấu tranh chính trị hay ngoại giao, nhưng, trong chiến tranh, nó là một sự sai lầm, có thể đem lại tai họa không nhỏ bởi vì cách đánh như vậy giúp cho kẻ đich có thời gian bổ sung, tăng cường và trở lại tấn công. Nói cho đúng, thật ra, chiến lược của Mỹ còn tệ hơn nhiều, cứ đánh rồi ngừng, ngừng rồi đánh, rõ ràng là không tìm cách đánh cho dứt điểm. Nhìn lại các diễn tiến của cuộc chiến, chúng ta có thể thấy rất rõ ràng là phe Cộng sản đã có được những khoảng thời gian 3 hay 4 năm để bổ sung lực lương cho một đợt tổng tấn công mới: 1968 (Tết Mậu Thân = Tet Offensive), 1972 (Mùa Hè Đỏ Lửa = Easter Offensive), và 1975 (Chiến Dịch Hồ Chí Minh). Trong tác phẩm The real lessons of the Vietnam War, hai soan giả John Norton Moore và Robert F. Turner đã phê bình rất nặng về chiến lược này của Mỹ như sau: 

“In fact, our policy was not even gradual escalation; that is, progressive and increasing application of force to strangle the enemy. Instead, our policy was escalation and de-escalation, an “on again, off again” knee-jerk reaction that varied with the intuitive whims of President Johnson and his advisors.” [33] (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thật ra, chính sách của chúng ta cũng không phải là leo thang từng bước; nghĩa là, từ từ tăng cường lực lượng để bóp nghẹt kẻ thù. Thay vì vậy, chính sách của chúng ta là leo thang và xuống thang, phản ứng “khi đánh, khi không” một cách máy móc tùy theo các nổi hứng theo trực giác của Tổng Thống Johnson và các cố vấn của ông ấy.”) 

Nói tóm lại, về mục tiêu, rõ ràng là Mỹ không có chủ trương tiêu diệt kẻ địch là Bắc Việt, nghĩa là không muốn có một chiến thắng hoàn toàn và tuyệt đối trong CTVN. Đó là một sách lược chiến tranh hoàn toàn đi ngược tư tưởng quân sự của các tướng lãnh từ xưa tới nay, phản ảnh qua câu nói để đời của Thống Tướng (tướng 5 sao) Hoa Kỳ Douglas MacArthur: “In war there is no substitute for victory” (Tạm dịch: Trong chiến tranh không có gì thay thế được cho chiến thắng). 

Trở lại luận điểm này, phần hai nói rằng Hoa Kỳ đã sử dụng hết sức mạnh quân sự của mình rồi. Sự thật có đúng như vậy hay không? 

Nói chung chiến lược quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam gồm 2 bộ phận: 1) Gửi bộ binh tác chiến (ground combat troops) vào Miền Nam để tiêu diệt các đơn vị của quân đội Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (tức là Việt Cộng) và các đơn vị của quân đội nhân dân của Miền Bắc sử dụng đường mòn Hồ Chí Minh xâm nhập vào; và 2) Dùng Không Quân để ngăn chận việc quân Bắc Việt sử dụng Đường mòn Hố Chí Minh và oanh kích Miền Bắc để làm cho Bắc Việt phải từ bỏ ý định thôn tính Miền Nam. 

Về sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ ở Miền Nam, phải công nhận rằng tại thời điểm đầu năm 1968, Hoa Kỳ đã có tại Miền Nam một lực lượng quân sự rất đáng kể, gần nửa triệu quân (497.498 người) gồm đủ tất cả các quân binh chủng và các đơn vị thiện chiến, trong đó đáng kể nhứt là các đơn vị sau đây: 

· Lục Quân (U.S. Army): 

o Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Không Vận (1St Cavalry Division - Airmoblie), tức là Sư Đoàn 1 Anh Cả Đỏ, theo cách gọi của quân Bắc Việt 

o Các Sư Đoàn Bộ Binh 1, 9, và 25 (1st, 9th , 25th Infantry Division) 

o Sư Đoàn 23 Bộ Binh (23rd Infantry Division, cũng có tên là Americal Division) 

o Sư Đoàn Dù 101 (101st Airborne Division) 

o Lữ Đoàn 3 Sư Đoàn Dù 82 (3rd Brigade, 82nd Airborne Division) 

· Thủy Quân Lục Chiến (U.S. Marine Corps): 

o Sư Đoàn 1 (1st Marine Division) đóng tại Chu Lai, Quảng Ngãi 

o Sư Đoàn 3 (3rd Marine Division) đóng tại Đà Nẵng, Quảng Nam 

o Sư Đoàn 5 (5th Marine Division) đóng tại Khe Sanh, Quảng Trị 

· Hải Quân (U.S. Navy): 

o Đã có tất cả 20 Hàng Không Mẫu Hạm (Aircraft Carriers) đã từng được điều động tham chiến tại Việt Nam, thí dụ như Constellation, Coral Sea, Enterprise, Hancock, Hornet, Midway, vv. Mỗi hàng không mẫu hạm này đều chở được hàng trăm phi cơ khu trục phản lực như A-4 Skyhawk, A-6 Intruder, A-7 Corsair II, vv 

· Không Quân (U.S. Air Force): 

o Sư Đoàn 7 Không Quân (Seventh Air Force) với Bộ Tư Lệnh đóng tại Tân Sơn Nhứt và các phi đoàn đóng rải rác tại 10 căn cứ không quân trên khắp lãnh thổ của VNCH; phi cơ phần lớn là khu trục phản lực mà nổi tiếng nhứt là F-4 Phantom (Bắc Việt gọi là Con Ma), F-105 Thunderchief (Bắc Việt gọi là Thần Sấm), vv. 

Vấn đề cần phải được thảo luận ở đây là Hoa Kỳ đã sử dụng lực lương quân sự hùng hậu này như thế nào, với chiến lược gì và với hiệu quả ra sao. Bộ Tư Lệnh của lực lượng này thường được gọi tắt là MACV (Military Assistance Command, Vietnam) và người chỉ huy là Đại Tướng (General, tướng 4 sao) William C. Westmoreland (1914-2005), thường được giới báo chí Hoa Kỳ gọi tắt là Westy. Tướng Westmoreland tốt nghiệp Trường Võ Bị West Point vào năm 1936 và khởi nghiệp là một sĩ quan pháo binh, tham dự Đệ Nhị Thế Chiến tại các mặt trận ở Bắc Phi, Ý, Pháp và Đức, lập được nhiều chiến công, thăng cấp rất nhanh và trở thành Đại Tá, Tham Mưu Trưởng của Sư Đoàn 9 Bộ Binh Hoa Kỳ. Sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm đứt, ông theo học khóa nhảy dù của Bộ Binh, được bổ nhiệm làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 504 của Sư Đoàn Dù 82, và sau đó là Tham Mưu Trưởng của Sư Đoàn Dù này. Năm 1952, vào lúc 38 tuổi, ông thăng cấp Chuẩn Tướng (Brigadier-General, tướng 1 sao) và trở thành vị Chuẩn Tướng trẻ tuổi nhứt của Lục Quân Hoa Kỳ. Trong Chiến Tranh Triều Tiên, ông là Tư Lệnh Trung Đoàn Dù 187. Sau Chiến Tranh Triều Tiên, ông lần lượt đảm nhận các chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù 101 (1958-1960), Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị West Point (1960-1963), thăng lên cấp Trung Tướng (Lieutenant-General, tướng 3 sao, tháng 7-1963), và Tư Lệnh Quân Đoàn Dù 18 (XVIII Airborne Corps). Tháng 1-1964, ông được cử sang Việt Nam làm Tư Lệnh Phó của MACV và đến tháng 6-1964 ông được thăng cấp lên Đại Tướng và được Tổng Thống Johnson bổ nhiệm làm Tư Lệnh MACV. 

Tướng Westmoreland áp dụng một chiến lược gọi là “Lùng và Diệt” (Search and Destroy), thực hiện một hình thức chiến tranh tiêu hao (war of attrition) với mục đích làm tiêu hao tối đa lực lượng của địch để đạt đến một “điểm vượt” (crossover point) được định nghĩa là điểm mà số quân bổ sung của địch không thể bù đắp được cho số thương vong của địch. Vì vậy, Westmoreland đã ra lệnh tổ chức các cuộc hành quân đại quy mô, rất tốn kém, sử dụng một lực lượng rất lớn ở cấp lữ đoàn hoặc sư đoàn và đánh vào các căn cứ và mật khu quan trọng của địch, thí dụ như Hành Quân Attleboro tại Dầu Tiếng, Tỉnh Bình Dương, từ ngày 14-9 đến ngày 25-11-1966, Hành Quân Cedar Falls tại khu Tam Giác Sắt, từ ngày 8 đến 26-1-1967, và Junction City tại Chiến Khu C, từ ngày 22-2 đến ngày 14-5-1967. Trong khoảng thời gian 3 năm, với quân số gia tăng từ 184.300 (1965) lên đến 485.600 (1967), Westmoreland vẫn không thể nào đạt được “điểm vượt” như mong muốn, ngay cả với cách tính trận liệt (order-of-battle hay thường được viết tắt là OB) có lợi cho báo cáo của ông bằng cách giảm thiểu con số du kích và dân quân của phe Cộng sản, đưa đến mâu thuẩn rất trầm trọng giữa MACV và CIA (Central Intelligene Agency = Cơ Quan Trung Ương Tình Báo của Hoa Kỳ), phản ảnh qua vụ bản báo cáo về tình báo SNIE14.3-67.[34] Trong năm 1967, một số người trong và ngoài chính quyền của Mỹ bắt đầu hoài nghi, công kích và sau cùng đề nghị Tổng Thống Johnson từ bỏ chiến lược “Lùng và Diệt” của Tướng Westmoreland. Nhưng Tổng Thống Johnson vẫn không nghe, vẫn tin tưởng Tướng Westmoreland. Cuối năm 1967, ngày 21-11, tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia ở Washington, D.C., Tướng Westmorfeland vẫn còn lạc quan tuyên bố như sau: 

““We have reached an important point where the end begins to come into view.” [35] (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Chúng ta đã đạt đến một điểm quan trọng cho thấy kết thúc bắt đầu hiện ra.”) 

Chỉ hơn 2 tháng sau, ngày 31-1-1968, Trận Tổng Công Kích Mậu Thân diễn ra một cách ác liệt tại thủ đô Sài Gòn, các thành phố lớn và gần như tất cả các tỉnh lỵ của VNCH. Chiến lược “Lùng và Diệt” của Tướng Westmoreland hoàn toàn bị phá sản. Yêu cầu tăng thêm 200.000 quân của ông bị Tổng Thống Johnson thẳng tay bác bỏ. Ông được triệu hồi về Mỹ giữ chức Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoia Kỳ (U.S. Army Chief of Staff) và Phó Tướng của ông là Đại Tướng Creighton Abrams (1914-1974) được cử lên thay ông làm Tư Lệnh MACV. 

Một điều hết sức quan trọng cần phải được lưu ý ngay. Trận Mậu Thân là một thất bại quân sự hết sức lớn, chưa từng có đối với Việt Cộng. Sau đây là nhũng con số thống kê về thương vong chính thức do chính ĐCSVN xác nhận: 

“111.306 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và chính trị ở miền nam đã hy sinh và bị thương; trong đó, 44.824 cán bộ và chiến sĩ lực lượng vũ trang đã hy sinh.” [36] 

Nhưng thật trớ trêu, chính người Mỹ lại xem đây là một thất bại lớn của phe Tự Do, và từ đó họ quyết định tìm mọi cách xuống thang chiến tranh, thương thuyết với phe Cộng sản để rút quân về nước. Tổng Thống Johnson ra lệnh ngưng oanh tạc Miền Bắc và tuyên bố không ra tái cử nữa. Sau khi đắc cử, Tổng Thống Nixon thực hiện việc rút quân trong chương trình Việt-Nam-Hóa (Vietnamization). 

Phần lớn các tác giả thuộc phái chính thống đều sử dụng mốc thời gian 1968 của Trận Mậu Thân, xem đó là thời điểm Chính phủ Mỹ đã dứt khoát nhận ra là không thể nào thắng được tại Việt Nam. Ba tác phẩm quan trọng của nhóm tác giả chính thống nầy là: Vietnam: a history của Stanley Karnow, America’s longest war của George Herring, và A Bright shining lie của Neil Sheehan đều dành một đa số trang rất lớn để nói về CTVN cho tới năm 1968, phần thời gian còn lại của CTVN (nhiều hơn gắp đôi, từ 1968 đến 1975) chỉ được đề cập đến rất sơ sài như sau: 

· Vietnam: a history 

o Từ trang đầu đến trang 567: cho đến 1968 

o Từ trang 568 đến trang 670 (102 trang): thời gian còn lại của CTVN, 1968-1975 

· America’s longest war: 

o Từ trang đầu đến trang 221: cho đến 1968 

o Từ trang 222 đến trang 282 (60 trang): thời gian còn lại của CTVN, 1968-1975 

· A Bright shining lie: 

o Từ trang đầu đến trang 725: cho đến 1968 

o Từ trang 726 đến trang 791 (65 trang): thời gian còn lại của CTVN, 1968-1975 

Trong khi đó, rõ ràng là từ sau Trận Mậu Thân, VNCH và các nước Đồng Minh đã đạt được nhiều thắng lợi rất lớn, có lúc đã làm lệch cán cân CTVN, gây rất nhiều khó khăn cho phe Cộng Sản. 

Không kể hai chiến thắng lớn của QLVNCH vào các năm 1968 (Tết Mậu Thân) và 1972 (Mùa Hè Đỏ Lửa, Tử thủ An Lộc, Tái chiếm Quảng Trị, và giữ vững Kontum), quân đội Mỹ, dưới quyền Tư Lệnh của Tướng Abrams, đã áp dụng một chiến lược mới gọi là “Clear and Hold = Quét và Giữ.” Chiến lược này đặt trọng tâm vào vấn đề bình định. Một nhân viên CIA cao cấp, ông William Colby (trước đã từng là Trường Trạm CIA tại Việt Nam), được bổ nhiệm phụ trách cơ quan CORDS (Civil Operations and Revolutionary Development Support) để thực hiện một kế hoạch mới về bình định gọi tắt là APC (Accelerated Pacification Campaign = Chiến dịch Bình Định Nhanh), mà cốt lõi là Chiến Dịch Phượng Hoàng (Phoenix Program), nhằm tiêu diệt hạ tầng cơ sở của Việt Cộng (tức Mặt Trận Giải Phóng) để tái lập an ninh cho các thôn ấp dưới sự kiểm soát của chính quyền VNCH. Kế hoạch APC đưa ra chỉ tiêu đầu tiên là trong vòng 3 tháng (90 ngày) sẽ vô hiệu hóa hạ tầng cơ sở của Việt Cộng (Viet Cong Infrastructure, gọi tắt là VCI) và lập lại an ninh hoàn toàn cho 1.000 ấp xôi đậu. Kế hoạch này được thực hiện thành công tốt đẹp, vượt hơn chỉ tiêu 1.000 ấp đã đề ra. Trên thực tế, vào đầu tháng 1-1969, VNCH đã kiểm soát hoàn toàn được 1.320 ấp.[37] Chiến Dịch Phượng Hoàng đã gây tổn thất rất nặng nề cho VCI như sau: 

“Between 1968 and 1972, Phoenix "neutralized" 81,740 people suspected of VC membership, of whom 26,369 were killed. A significant number of VC were killed, and between 1969 and 1971 the program was quite successful in destroying VC infrastructure in many important areas.” [38] (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Giữa 1968 và 1972, Chiến Dịch Phượng Hoàng “đã vô hiệu hóa” 81.740 người tình nghi là Việt Cộng, trong đó có 26.369 người đã bị giết. Một số lớn Việt Cộng đã bị giết, và giữa 1969 và 1971, chương trình đã thành công trong việc tiêu diệt hạ tầng cơ sở của Việt Cộng tai nhiều khu vực quan trọng.”

Hơn nữa, một số những hạn chế quan trọng của thời Tổng Thống Johnson đã bị hủy bỏ. Sau khi Tướng Lon Nol đảo chánh, lật đổ chính quyền thân Cộng sản của Sihanouk đầu năm 1970, Tổng Thống Nixon, vào cuối tháng 4-1970, đã ra lệnh cho quân đội Mỹ, cùng với QLVNCH, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ Miên, tấn công phá hủy những mật khu an toàn của phe Cộng sản đã được Sihanouk cho phép đóng dọc theo biên giới từ bao nhiêu năm trước đó. Chiến dịch này đã đạt những thành quả quan trọng như sau: 

“Major General Nguyen Duy Hinh, author of a postwar monograph, summed up results of the incursion overall, tabulating 9,300 tons of weapons, ammunition, and supplies seized, plus 7,000 tons of rice, altogether constituting enemy requirements for at least six months of operations in the COSVN area.” [39] (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, tác giả của một tập sách chuyên đề xuất bản sau chiến tranh, đã tóm lược một cách tổng quát những thành quả của chiến dịch như sau: tịch thu được 9.300 tấn vũ khí, đạn dược và tiếp liệu cùng với 7.000 tấn gạo, đủ dùng ít nhứt cho các cuộc hành quân trong sáu tháng trong khu vực của Trung Ương Cục Miền Nam.”) [COSVN là chữ viết tắt của Central Office for South Vietnam] 

Cũng trong tinh thần hủy bỏ những điều cấm kỵ dưới thời Tổng Thống Johnson, ngày 9-5-1972, Tổng Thống Nixon ra lệnh cho Hàng không mẫu hạm USS Coral Sea phong tỏa cảng Hải Phòng (nơi tiếp nhận khoảng 85% hàng nhập cảng của Bắc Việt) bằng cách gài mìn trong Vịnh Bắc Việt. Và khi Bắc Việt ngang nhiên rời bỏ Hòa Đàm Paris vào cuối năm 1972, Tổng Thống Nixon đã ra lệnh cho máy bay oanh tạc chiến lược B-52 trải thảm Hà Nội trong 13 ngày đêm vào dịp Giáng Sinh 1972 (Christmas Bombing) khiến cho Bắc Việt phải trở lại bàn hội nghị. 

Những điều vừa kể trên cho thấy rõ ràng chiến lược mà Hoa Kỳ đã áp dụng trong khoảng thời gian 1965 (sau khi Mỹ đổ quân bộ chiến vào Việt Nam) cho đến 1968 (Trận Mậu Thân) là hoàn toàn sai lầm và vì vậy đã không đạt được chiến thắng. Chúng ta cũng thấy rõ là với một chiến lược mới, chú trọng nhiều hơn vào vấn đề bình định, đồng thời phá bỏ tất cả những rào cản, hạn chế vô lý, trói tay quân đội của phe dân sự Mỹ, quân đội Mỹ và QLVNCH đã có những chiến thắng quân sự rõ rệt (trong các năm 1968, 1970 và 1972), tạo ra được những thay đổi, xoay chuyển hoàn toàn có lợi cho phe Đồng Minh. Tất cả giúp khẳng định điều sau đây: Chiến Tranh Việt Nam Dứt Khoát Không Phải Là Một Cuộc Chiến Tranh Không Thể Thắng Được và Nếu Hoa Kỳ Đã Áp Dụng Một Chiến Lược Đúng Ngay Từ Đầu Thì Hoa Kỳ và VNCH Đã Có Thể Thắng CTVN. 

Nếu Leo Thang Nữa Sẽ Không Tránh Được Một Cuộc Đụng Độ Hạt Nhân 


Xin nhắc lại, như trên đã nói, khả năng về việc có thể sử dụng vũ khí hạt nhân đã được đề cập đến trong văn thư đề ngày 20-5-1967 của JCS (Bộ Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ) và gây kinh hoàng cho Tổng Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara. Chúng ta hãy xem xét giá trị của luận cứ này trong bối cảnh của Chiến Tranh Lạnh và trong khung thời gian 1965-1975. 

Trước hết, như phần trên của bài viết đã trình bày rất chi tiết, khả năng Hoa Kỳ và VNCH, với một chiến lược khác và không bị giới hạn bởi ràng buộc, cản trở, trói tay, có thể thắng CTVN, mà không cần sử dụng đến vũ khí hạt nhân, là rất cao. 

Giả sử, ngay cả với chiến lược mới và với sự hủy bỏ tất cả các giới hạn đó mà Hoa Kỳ vẫn chưa thể thắng được và đành phải sử dụng đến vũ khí hạt nhân thì có khả năng xảy ra một cuộc đụng độ hạt nhân hay không? 

Câu trả lời là: rất có thể KHÔNG. Tại sao không? 

Nếu Hoa Kỳ sử dụng vũ khí hạt nhân tại Hoa Nam thì Trung Quốc không thể trả đũa được nên không thể gọi là “một cuộc đụng độ hạt nhân” được vì chỉ có một bên là Trung Quốc lãnh bom nguyên tử thôi. Trung Quốc không thể trả đũa Hoa Kỳ được vì mặc dù Trung Quốc đã có thử bom nguyên tử từ tháng 10-1964 nhưng Trung Quốc vẫn chưa có phương tiện (delivery system) là hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử để phóng đi. Hơn nữa, trong thập niên 1960, Trung Quốc còn đang khốn đốn, chia rẽ nội bộ trầm trọng trong Cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Chỉ có Liên Xô là có phương tiện để trả đũa Hoa Kỳ. Nhưng khả năng Liên Xô dám đứng ra lãnh một cuộc đụng độ hạt nhân với Hoa Kỳ thì gần như chắc chắn là không có. Có hai sự kiện lịch sử quan trọng mà chúng ta có thể dựa vào để kết luận như thế. 

Thứ nhứt, trong cuộc khủng hoảng Cuba (1962), trước quyết tâm của Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận một cuộc chiến tranh hạt nhân, Liên Xô đã chùng bước, rút lui, chịu tháo gỡ tất cả các giàn hỏa tiễn tại Cuba. Liên Xô đã không chịu hy sinh vì Cuba thì lý do gì mà Liên Xô có thể chịu hy sinh vì Trung Quốc? 

Thứ hai, Liên Xô và Trung Quốc, trong thập niên 1960, đã trở thành thù địch, kình chống nhau kịch liệt, và, vì vấn đề biên giới, đã từng đánh nhau nhiều lần trong suốt mấy tháng trời trong một cuộc chiến tranh biên giới vào năm 1969 (từ ngày 2-3 cho đến ngày 11-9-1969) tại đảo Trân Bảo (Zhenbao Island) trên sông Ussuri, gần biên giới Mãn Châu. Chính trong thời gian cuộc xung đột biên giới này, Liên Xô cũng đã có ý muốn sử dụng vũ khí hạt nhân để đánh phủ đầu Trung Quốc, đặc biệt nhắm vào các cơ sở nghiên cứu và phát triển nguyên tử của Trung Quốc. Liên Xô đã tiếp cận và thăm dò ý kiến của các đảng Cộng sản tại các nước Úc, Phần Lan và Ý. Liên Xô cũng đã thăm dò ý kiến luôn cả với Hoa Kỳ về chuyện này.[40] 

Thay Lời Kết 


Bài viết này đã cho thấy rất rõ ràng là nhận định “Chiến Tranh Việt Nam là một cuộc chiến không thể thắng được” là hoàn toàn sai lầm. Nếu đã áp dụng ngay từ đầu một chiến lược khác, hoàn toàn không có những hạn chế, trói buộc vô lý, Hoa Kỳ đã có thể thắng trong TCVN, và với một giá thấp hơn nhiều. Trên thực tế, Hoa Kỳ đã không làm như vậy, và với sự phản bội, vô liêm sỉ của Quốc Hội Hoa Kỳ của hai Khóa 93 (1973-1975) và Khóa 94 (1975-1977) do Đảng Dân Chủ kiểm soát, bỏ rơi đồng minh, cắt giảm và sau cùng cắt bỏ hết quân viện cho VNCH, đã đưa đến kết quả bi thảm là VNCH đã thất trận và bị xóa tên trên bản đồ thế giới.[41] Một tác giả Hoa Kỳ thuộc phe xét lại (revisionist) đã nhận định một cách hết sức đúng đắn về việc thất trận của VNCH như sau: 

“The South Vietnamese regime did not fall in 1975 because it was uniquely corrupt and illegitimate. It fell to Soviet-equipped North Vietnamese tanks only because the United States, which had left troops in South Korea to defend a comparably corrupt and authoritarian dictatorship, had abandoned its allies in South Vietnam.” [42] (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Chế độ Nam Việt Nam đã không sụp đổ vào năm 1975 vì nó là một chính quyền duy nhứt tham nhũng và không chính thống. Nó chỉ sụp đổ trước các chiến xa của Bắc Việt do Liên Xô trang bị vì Hoa Kỳ, trước đó đã duy trì quân đội tại Nam Triều Tiên để bảo vệ một chế độ độc tài và tham nhũng tương tự, đã bỏ rơi đồng minh của mình tại Nam Việt Nam.”) 

Ghi Chú: 

1. Memorandum for the President from George Ball, "A Compromise Solution in South Vietnam," 1 July 1965, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon4/doc260.htm

2. Barrett, David M. “The mythology surrounding Lyndon Johnson, his advisers, and the 1965 decision to escalate the Vietnam War,” Political science quarterly, vol. 103, issue 4 (winter 1988/1989), tr. 641. 

3. Lâm Vĩnh Thế, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng ngày 8 tháng 3 năm 1965, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/lam-vinh-the/thuy-quan-luc-chien-hoa-ky-do-bo-vao-dha-nang-ngay-8-thang-3-nam-1965 Trong bài viết này, tác giả trích dẫn một báo cáo của Tướng William C. Westmoreland, Tư Lệnh MACV (Military Assistance Command, Vietnam = Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam) vào đầu tháng 3-1965, có ghi như sau: “nếu tình hình nầy tiếp tục, trong vòng 6 tháng, các lực lượng Nam Việt Nam sẽ chỉ còn kiểm soát được các khu vực chung quanh các tỉnh lỵ và quận lỵ .. chúng ta sẽ chứng kiến việc Việt Cộng tiếp thu toàn bộ xứ sở nầy, có lẽ trong vòng một năm.” Đoạn văn này của báo cáo được trích ra từ cuốn hồi ký của Tướng Westmoreland do nhà xuất bản Doubleday xuất bản tại New York vào năm 1976, A soldier reports, tr.147. 

4. In country: remembering the Vietnam War / edited by John Prados. Lanham, Md.: Ivan R. Dee Publisher, 2011. Tại tr. 8, soạn giả ghi như sau: “… President Johnson considered General Westmoreland’s large-scale reinforcement and approved it. The deployment of the First Cavalry Division (Airmobile), along with the Third Marine Division, followed by the First Infantry Division and the First Brigade/101st Airborne Division, was the first wave of the new MACV force. … the fact is that in the twelve months ending in December 1965 the American force level in country increased from twenty-three thousand to 183,000 personnel.” (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: Tổng Thống Johnson xem xét đề nghị tăng quân trên quy mô lớn của Tướng Westmoreland và chấp thuận nó. Việc điều quân được thực hiện với Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Không Vận, cùng với Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến, tiếp theo là Sư Đoàn 1 Bộ Binh cùng với Lữ Đoàn 1 của Sư Đoàn 101 Dù, đó là đợt đầu cho lực lượng mới của Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tai Việt Nam … sự kiện có thật là trong 12 tháng kết thúc vào Tháng 12-1965, lực lượng Hoa Kỳ đã tăng từ 23.000 lên đến 183.000). 

5. McNamara, Robert S. và Brian VanDeMark. In retrospect: the tragedy and lessons of Vietnam. New York: Random House, 1995. Tr. 243-244. 

6. McNamara, sđd, tr. 244. 

7. Joint Chiefs of Staff, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Joint_Chiefs_of_Staff. JCS là Bộ Tham mưu Liên Quân của Quân Đội Hoa Kỳ, gồm các vị đại tướng (tướng 4 sao) tư lệnh của 4 quân chủng Lục Quân, Hải Quân, Không Quân, và Thủy Quân Lục Chiến, đứng đầu (Chairman of the JCS) là một vị đại tướng do Tổng Thống chỉ định, lần lượt chọn ra từ 4 quân chủng kể trên. Tại thời điểm này, năm 1967, Đại Tướng Lục Quân Earl (Bus) Wheeler là Chairman của JCS. 

8. McNamara, sđd, tr. 266. 

9. McNamara, sđd, tr. 275. 

10. McNamara, sđd, tr. 275. 

11. McNamara, sđd, tr. 276. 

12. McNamara, sđd, tr. 280. 

13. McNamara, sđd, tr. 315. 

14. Council on Foreign Relations, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Council_on_Foreign_Relation

15. Argument without end: in search of answers to the Vietnam tragedy / Robert S. McNamara và những người khác. New York: Public Affairs, 1999. 

16. Argument without end, sđd, tr. 368. 

17. Argument without end, sđd, tr. 319. 

18. Lâm Vĩnh Thế. Nhận định và đánh giá bộ phim “The Vietnam War” của hai đao diễn Ken Burns và Lynn Novick, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/lam-vinh-the/nhan-dinh-va-danh-gia-bo-phim-the-vietnam-war-cua-hai-dao-dien-ken-burns-va-lynn-novick

19. Trần Ngươn Phiêu. Gió mùa Đông Bắc (Chương 6), tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://www.diendantheky.net/2011/04/gio-mua-ong-bac-chuong-6.html

20. Nguyễn Kỳ Nam. Hồi-ký “1925-1964.” Tập II: 1945-1954. Sài Gòn: Nhựt-báo Dân Chủ Mới xuất bản, 1964, tr. 231. 

21. Trần Ngươn Phiêu, sđd, Chương 7. 

22. Hoàng Hưng. Cái chết của Khái Hưng, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://baotiengdan.com/2019/07/29/cai-chet-cua-khai-hung/

23. Lâm Lễ Trinh. Mạn đàm với BS Nguyễn Lưu Viên: từ Hà Nội La Celle Saint-Cloud đến những ngày VNCH hấp hối, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://aihuuluatkhoa.com/yahoo_site_admin/assets/docs/MAN_DAM_VOI_BSI_NLV.5092817.pdf

24. Nguyễn Minh Cần. Xin đừng quên! Nửa thế kỷ trước… Mở hồ sơ tội ác Hồ Chí Minh: vấy máu Cải Cách Ruộng Đất, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.geocities.ws/xoathantuong/nmc_xdq.htm

25. H.V.N. “Cộng sản Việt Nam mới thật là Ngụy,” Tạp chí Dân Quyền (Montreal, Canada), số 51 (Tháng 5/1982), tr. 20-21. 

26. Ðoàn Thêm. Hai mươi năm qua: việc từng ngày (1945-1964); tựa của Lãng Nhân. Los Alamitos, Calif.: Xuân Thu tái bản, [1979?]. Tr. 37. 

27. Bảo Ðại. Con rồng Việt Nam: hồi ký chính trị (1913-1987). [Không ghi nơi xuất bản]: Nguyễn Phước Tộc xuất bàn, 1990. Tr. 284. 

28. Đoàn Thêm, sđd, tr. 56. 

29. Hiệp định Genève, 1954, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_Gen%C3%A8ve,_1954

30. Fourth Interim Report of the International Commission for Supervision and Control in Vietnam. London, U.K.: HMSO, 1955, tr. 30. 

31. 30/4 – Xâm lược hay giải phóng: từ góc nhìn công pháp quốc tế, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://www.luatkhoa.org/2017/04/30-4-xam-luoc-hay-giai-phong-tu-goc-nhin-cong-phap-quoc-te/

32. Palmer, Bruce. The 25-year war: America’s military role in Vietnam. Lexington: University Press of Kentucky, 1984. Tr. 125. 

33. The Real lessons of the Vietnam War: reflections twenty-five years after the fall of Saigon / edited by John Norton Moore & Robert F. Turner. Durham, N.C.: Carolina Academic Press, 2002. Tr. 391. 

34. Lâm Vĩnh Thế. Tài liệu SNIE 14.3-67: một bài học đắt giá của việc chính-trị-hóa tình báo, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/lam-vinh-the/tai-lieu-snie-14-3-67-mot-bai-hoc-dat-gia-cua-viec-chinh-tri-hoa-tinh-bao

35. Lindsay, James. M. TWE remembers: General Westmoreland says the “End begins to come into view” in Vietnam, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://www.cfr.org/blog/twe-remembers-general-westmoreland-says-end-begins-come-view-vietnam 

36. Tết Mậu Thân 1968 qua những số liệu, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/7976502-.html Đây là Trang Web của nhựt báo Nhân Dân điện tử, cơ quan trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, Nhà Nước và Nhân dân Việt Nam; bài báo này đã được đăng tải trực tuyến vào ngày Thứ Sáu 17/09/2010, lúc 13 giờ 25. 

37. Sorley, Lewis. A Better war: the unexamined victories and final tragedy of America’s last years in Vietnam. New York: Harcourt Brace, 1999. Tr. 66. 

38. Phoenix Program, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Phoenix_Program

39. Sorley, sđd, tr. 204-205. Thông tin mà tác giả Sorley trích dẫn là ở tr. 7 của quyển Lam Sơn 719 của Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh do Trung Tâm Quân Sử của Lục Quân Hoa Kỳ (U.S. Army Center for Military History) xuất bản tại Washinton, D.C. vào năm 1979. 

40. Gerson, Michael S. và những người khác. The Sino-Soviet border conflict: deterrence, escalation, and the threat of nuclear war in 1969, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://www.cna.org/CNA_files/PDF/D0022974.A2.pdf

41. Lâm Vĩnh Thế. Hoa Kỳ bỏ rơi Đồng Minh Việt Nam Cộng Hòa: trách nhiệm thuộc về ai?, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/lam-vinh-the/hoa-ky-bo-roi-dong-minh-viet-nam-cong-hoa-trach-nhiem-thuoc-ve-ai

42. Lind, Michael. Vietnam: the necessary war: a reinterpretation of America’s most disastrous military conflict. New York: Simon & Schuster, 1999. Tr. xvii. 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét