Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2019

Thụy Khuê: Nói Chuyện với Tạ Trọng Hiệp - Phan Khôi, người xa lạ (Tiếp theo và hết)

TK: Trong khi chờ đợi những nguồn tư liệu như thế, anh là người có thể cho độc giả biết những điều sơ khởi về Phan Khôi?

TTH: Bài tiểu sử của ông Hoàng Văn Chí cũng nói một vài điểm rất rõ là khoảng Đông Kinh Nghĩa Thục đang hoạt động, thì cụ Phan Khôi có liên lạc với cụ Phan Chu Trinh và có nhận công tác gì đó, ra Bắc. Lúc đó Phan Khôi còn trẻ lắm, vì các bạn nhớ là ông Phan Khôi sinh năm 1887. 1907 là ông mới 20 tuổi. Lúc đó hình như ông mới đậu tú tài rồi bị bắt giam cho đến năm 1911. Sau đó được thả ra. Kiếm ăn bằng nghề làm báo. Bắt đầu với Nam Phong.
Nhưng mà một người có cá tính gai góc như Phan Khôi thì khó mà hợp với cái ông ôn hòa chủ nghĩa là ông Phạm Quỳnh. Đó là không nói đến vấn đề quan điểm chính trị, Phan Khôi có những người bạn tiền bối hoặc cùng tuổi với mình, toàn là những nhà hoạt động duy tân, cách mạng cả.

Những bài bôi nhọ Phan Khôi những năm 56-57, nói cụ là người phản động từ đầu, là nói bậy. Qua những bài báo cũ còn giữ được, thì ta thấy rằng Phan Khôi suốt đời là một người tranh đấu cho duy tân, cho nhân quyền, cho phụ nữ bình đẳng, cho nhiều thứ lắm. Cụ không phải là một người an phận để chạy chọt một chỗ có công ăn việc làm cho ngon, cho béo bổ, vinh thân phì gia đâu. Cụ long đong suốt đời cũng vì con đường lập thân của cụ những năm đó. Bây giờ, ít nhất chúng ta cũng nên biết rằng trong suốt thời gian từ 1918-20 đến 40-45, cái nôi hoạt động, cái địa bàn hoạt động, cái espace sociale Phan Khôi đó là báo. Báo miền Bắc, báo miền Trung, báo miền Nam. Trong đó có tờ Phụ Nữ Tân Văn. Phan Khôi viết nhiều trong đó. Bây giờ làm sao có cách nào mà in lại một tuyển tập hàng trăm hàng nghìn bài mà Phan Khôi đã viết trong 50 năm như thế, thì ta mới có cơ sở để khám phá ra một vài nét cơ bản trong văn tài Phan Khôi.

TK: Anh có thể lược kể nội dung những văn bản mà anh hiện có về Phan Khôi?

TTH: Hiện bây giờ, tôi chỉ có trong tay một tài liệu, mà với thời gian trôi qua từ 20 năm nay, tôi thấy càng ngày nó càng quý, chứ hồi đó... Vì cái tính ưa sưu tầm của tôi, tôi đã xin tác giả là ông Thanh Lãng, hồi Thanh Lãng còn là giáo sư đại học Văn Khoa Sài Gòn. Ông ấy đứng trước vấn đề như mình đang nói chuyện đây, là muốn cho sinh viên hiểu về những tác giả mà mình nói, không thể chỉ ngồi mà bình luận với họ về cái nhân vật ấy một cách trừu tượng, ông này hay, ông kia dở, ông này yêu nước, ông kia phản bội, câu văn ông này du dương, ông kia chán ngắt. Phải đưa cho họ cái đương sự bị phê bình. Thế thì Thanh Lãng đã thử giải quyết vấn đề đó bằng cách bỏ tiền ra, thuê người ta đánh máy lại rất nhiều số báo, trong đó rất may cho chúng mình là có tờ Phụ Nữ Tân Văn mà ở đấy có gần 5, 6 trăm trang dành cho các bài của Phan Khôi. Bên cạnh cái mớ đó còn một vài xấp khác nữa. Thỉnh thoảng cũng có lạc bài của Phan Khôi vào. Hôm nay, chưa phải là lúc để tìm hiểu xem Phan Khôi, với tư cách nhà báo, đã có tài năng và tung tích gì không? Hôm nay việc đầu tiên là Thụy Khuê phải ngồi mà đọc Phan Khôi nhà báo để xem ông ấy đã có những đặc tính gì? Hôm nọ tôi đã thử đọc lướt qua rồi, đọc hết 5, 6 trăm trang của Phan Khôi. Vừa thú vị. Vừa hơi mệt. Bởi vì ông này, ông cãi nhiều khi cũng gàn, cũng bướng lắm. Giống cụ Phan Chu Trinh hay cãi. Đấy là một việc.

Rồi có những tác phẩm đã được in thành sách. Có lẽ nên kết hợp với gợi ý của tôi, đó là có cách nào để xuất bản trong một tuyển tập, một số bài báo xuất sắc nhất của Phan Khôi, đồng thời tái bản một hai cuốn sách của cụ. Cuốn đầu tiên là cuốn Chương Dân Thi Thoại. Mà tôi tin rằng nhà lý luận và phê bình Thụy Khuê thế nào cũng sẽ có những phản ứng để bình luận. Đây là một cuốn rất có duyên. Cụ viết theo cái truyền thống thi thoại của Trung Quốc, từ đời Tống là Âu Dương Tu, cha đẻ ra dòng văn học thi thoại, cho đến cụ Phan Khôi, là nó có một mạch như thế, trải 10 thế kỷ. Cái lối bình luận về thơ văn của nhà nho. Nó không kênh kiệu, không lý luận như cái gọi là phê bình mới đâu. Nhưng nó có cái duyên của nó. Thì cái duyên đó là gì? Tôi hy vọng là Thụy Khuê đủ tài tế nhị để cho độc giả Hợp Lưu thấy.

Cuốn thứ hai là cuốn Việt Ngữ Nghiên Cứu, tập hợp một số bài cụ Phan Khôi đã thai nghén từ trong những năm kháng chiến, từ năm 46-47 ở Việt Bắc, cho đến khi trở về Hà Nội năm 56. Thì được hội Văn Nghệ họ in cho thành một tập sách, tương đối mỏng thôi, nhưng rất quý. Ngày hôm nay, giới nghiên cứu ngôn ngữ và văn tự cổ của Việt Nam rất cần có. Cuốn sách nhỏ độ 178 trang, trong đó có những bài xuất sắc như là Nghiên cứu hư từ trong truyện Kiều (2 bài), hoặc là Tiếng ta trong chữ Nôm, không kể bài đầu, cụ Phan Khôi theo gương nhà ngữ pháp học bên Trung Quốc là Lê Cẩm Hy, đưa ra một phương pháp họa đồ, để mổ xẻ hệ thống ngữ pháp của một ngôn ngữ, thì cụ Phan Khôi áp dụng đúng như thế: Tân Quốc Văn Ngữ Pháp của Lê Cẩm Hy.

Rồi có những cái khác nữa, có lẽ cũng nên tái bản. Tôi tiếc rằng hồi sáng lập ra ban Việt Học cho đại học Paris VII, năm 69-70, trường hồi đó không có tiền để xây dựng thư viện, cho nên tôi đem một mảng lớn thư viện cá nhân của tôi để trong trường cho người ta có cái đọc, trong đó, tôi để 2, 3 cuốn sách của Phan Khôi. Thứ nhất là cụ dịch tuyển tập truyện ngắn của Lỗ Tấn. Thứ hai là cụ dịch tuyển tập tạp văn của Lỗ Tấn, thì mười mấy năm sau, khi tỉnh ngộ ra, tôi chạy đến cứu những cuốn đó, thì những cuốn đó đều đã mất gần hết cả. Chỉ còn cứu được cuốn Tạp Văn của Lỗ Tấn. Còn cuốn Truyện Lỗ Tấn thì rất tiếc là nó đã nằm ở trong tủ sách nhà ai trong đám sinh viên hay là bạn đồng nghiệp của tôi ở Paris VII rồi, không có hy vọng tìm ra nó nữa. Đấy là những cái nên tái bản.

TK: Anh thích cả Phan Khôi lẫn Lỗ Tấn. Xin anh so sánh Phan Khôi với Lỗ Tấn.

TTH: Đấy là cái điều tôi rất muốn nói. Tôi sẽ đáp trúng câu hỏi này. Nhưng trước đó, tôi xin nói thêm về một vài vấn đề, một vài ý kiến. Mấy hôm nay tôi đang suy nghĩ về Phan Khôi.

Cụ Phan Khôi tập trung dịch nhiều sau khi đi kháng chiến. Trong kháng chiến, cụ có dịch một vài tác phẩm rất ngắn, của văn học Trung Quốc mới, của Mao Trạch Đông. Ví dụ như cuốn Thù Làng của Mã Phong. Loại bỏ túi để phục vụ cho cái gọi là tinh thần cán bộ trong cải cách ruộng đất. Đây là công tác kháng chiến của cụ đấy. Thì cái này có thể bỏ qua, không có gì đáng đọc: Văn chương công nông binh!

Sau khi trở về Hà Nội, cụ có tập trung dịch nhiều về Lỗ Tấn. Nhưng trước đó, Phan Khôi đã xuất hiện trong văn đàn, trong giới làm báo, giới xuất bản của nước ta từ 1920 trở đi. Nhất là qua bài giới thiệu của Vũ Ngọc Phan -Vũ Ngọc Phan ngày xưa, tôi không nói đến cái ông Vũ Ngọc Phan viết hồi ký đâu-. Tôi muốn nói đến cái ông tác giả bất hủ của Nhà Văn Hiện Đại đó. Thì đấy là tài liệu đầu tiên người ta đọc để biết Phan Khôi là ai -không biết có sai không- là nhờ Vũ Ngọc Phan. Vũ Ngọc Phan đã gợi thêm cho người ta biết: Qua cuốn Chương Dân Thi Thoại, Phan Khôi đã tỏ ra mình là một nhà bình thơ như thế nào.

Cuốn Chương Dân Thi Thoại tập hợp một số bài đã đăng ở trong báo, kể cả trong Nam Phong, có thể tóm lược trong hai ba chữ:

- Văn viết có duyên, không nặng nề, không có phương pháp luận, không có lý luận học.
- Nửa tính cách sưu tầm, những điều dật sự chung quanh một bài thơ, thêm một số thông tin thú vị về một bài thơ. Thỉnh thoảng cũng có một vài nét chấm phá về tinh thần bài thơ. Khi viết câu này, câu kia, đáng khen hay vì nó hơi kín đáo. Thế thì người viết bình luận mới giới thiệu cho ta là đấy, cái câu thầm nó nằm ở chỗ đó, vì sao, vì sao, v.v...

Ta tiếc rằng sau đó hoàn cảnh không đưa Phan Khôi đến sự nghiệp một học giả chân chính, viết sách sâu rộng 5, 6 trăm trang khảo cứu về lịch sử thơ ca Trung Quốc, lịch sử thơ ca Việt Nam. Thành một học giả kiểu Hoàng Xuân Hãn.
Cuộc đời làm báo, nửa chết đói, nửa thất nghiệp của nhà văn ngày xưa không cho phép Phan Khôi ngồi rảnh để làm những công trình đó. Cũng là một điều đáng tiếc.

TK: Anh cho rằng Phan Khôi, vì phải làm báo nên đã không có thì giờ ngồi viết biên khảo. Và cái không gian báo chí thời Phan Khôi cũng đáng nói lắm?

TTH: Lịch sử báo chí Việt Nam thì đã bắt đầu có người viết ít nhiều bài báo, có người làm luận án rồi. Nhưng theo tôi, không gian văn hóa vẫn còn đáng giới thiệu lắm. Trong không gian văn hóa có nhiều chiếu. Mấy chiếu mà Phan Khôi đã ngồi, mấy tờ báo mà Phan Khôi đã viết, đã đóng góp rất lớn trong sự xây dựng những câu văn xuôi hay những quan niệm đổi mới thơ ca. Ai cũng biết bài Tình Già của Phan Khôi đã có công dụng như thế nào năm 32. Hoặc là bài Cảnh Cáo Các Nhà Học Phiệt, Phan Khôi viết 13 năm sau khi cụ Ngô Đức Kế đã phê phán rất ác liệt Phạm Quỳnh trong vấn đề bình luận truyện Kiều. Thì trong 13 năm Phạm Quỳnh giữ im lặng, không đáp. Rồi vì bài của Phan Khôi, chính Vũ Ngọc Phan cũng có nhận xét là Phạm Quỳnh nhịn không nổi đành phải cầm bút viết để thanh minh với Phan Khôi. Thế là phải biết Phan Khôi có tài châm chọc khiến cho người ta không thể ngồi yên được. Anh không thể tiếp tục giữ ngôi học phiệt như thế. Bây giờ tôi đặt anh trước vấn đề: Anh không đáp là anh khinh người. Lúc đó ông Phạm Quỳnh mới phải đáp.

Qua những cái đó, mình mới nhận thấy vocation lớn của Phan Khôi phải chăng chính là làm báo đây. Làm báo chính là cái đất múa gậy, múa võ. Tuy có đụng chạm nhiều lắm, vì cũng có kiểm duyệt đấy, nhưng khi ông viết, trong Phụ Nữ Tân Văn chẳng hạn, thì không bao giờ thấy nói trực tiếp về thời sự chính trị, đuổi giặc Pháp, giành độc lập. Nhưng ông gieo những cái mầm mới, những quan niệm mới về luân lý, bình đẳng và dân chủ, về tình trạng ác liệt mà phụ nữ Trung Quốc và Việt Nam đã sống mấy chục thế kỷ vừa qua, và vẫn còn đang sống khi những loại bài ấy được in ra. Qua cái đó ta thấy ông là một nhà báo rất năng động và có công với sự thay đổi, cái tôi tạm gọi là Tân trình tập thể của người Việt những năm 20-40. Người ta chỉ để ý đến Phong Hóa, Ngày Nay. Chúng ta nên nhớ là có nhiều tờ báo khác nữa.
Cái nét thứ ba là ngay trong Phụ Nữ Tân Văn, nói như ông Nguyễn Vỹ trong bài thơ gửi Trương Tửu, là làm báo của phụ nữ, nói về phụ nữ, thì ông Nguyễn Vỹ gọi là anh đi buôn thúng theo đàn bà kiếm ăn. Ông Phan Khôi được chỗ ngồi rất yên ổn trong tờ Phụ Nữ Tân Văn. Đồng thời ông lại đưa vào đó, một điều tâm đắc của ông: Trong những năm bị bỏ tù trong nhà lao Quảng Nam, ngay quê hương mình, ông học tiếng Pháp. Ông này có những điểm rất giống các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh: Cái vốn tiếng Pháp của họ không phải là học với nhà trường của Pháp đâu, vì gia đình chống, không cho họ đi học chữ quốc ngữ và tiếng Pháp. Những người này có tinh thần cởi mở cho nên họ học tiếng Pháp.

Phan Khôi học rất nhanh. Học đến nỗi say mê. Và ông đi tìm khám phá những học thuật, những phương pháp mới của Tây phương có cái gì hay. Ông nhận thấy là người mình chưa có ai chịu học cho sâu, tức là logique. Ông Phan Khôi, trong mấy chục năm, cứ bị người ta đem ra chế giễu Phan Khôi là người điên vì logique. Đi đâu cũng nói chuyện logique. Cãi nhau với Trần Trọng Kim về Nho giáo, cũng có bài nhan đề là Xin mời Trần Trọng Kim tiên sinh trở về nhà cô Logique với tôi. Ông ấy có vẻ hơi điên điên đấy, nhưng mà tôi nghĩ không phải điên đâu. Đây cũng là một cá tính của người vùng ông Phan Khôi, cái vùng Quảng Nam, Đà Nẵng.

Tôi rất ao ước là làm sao sức khoẻ của anh Nguyễn Văn Xuân cho phép anh ấy viết vài chục trang thật là đích đáng, thấm thía về cái quan hệ giữa môi trường địa phương Quảng Nam - Đà Nẵng, nó đã hun đức những người như Phan Chu Trinh, Phan Khôi... Phan Khôi thì không ai xếp bên cạnh Phan Chu Trinh. Bởi vì Phan Chu Trinh nổi tiếng là một người hoạt động chính trị hơn là một người làm báo hay sống cho văn học. Nhưng mà họ có những cái nét giống nhau. Phan Chu Trinh thì đã được Trần Huy Liệu tặng cho một chữ, tôi cho là đúng lắm: Sửng cồ. Tức là ăn nói lơ tơ mơ với cụ là bị cụ choảng ngay lập tức. Hay cãi, và cãi rất hăng. Rất giận dữ. Thì đấy là Phan Chu Trinh. Phan Khôi cũng có những nét đó. Nhưng đồng thời có những nét khiến cho mình yêu Phan Khôi hơn, là ông già này có humour. Trong những bài báo, trong các sách của ông, ông đang viết nửa câu nghiêm trang, ông phang thêm vào những câu rất bình dân, rất hài hước, rất dí dỏm. Và nó tăng cường cái thành công của những câu văn ấy. Một trong những lý do tôi thích Phan Khôi vì hình như, trong người tôi cũng có một cái đứa thích dí dỏm, hài hước. Thì đây là nói về nhà báo Phan Khôi.

TK: Anh sa đà vào nhà báo Phan Khôi cũng nhiều rồi, có lẽ anh nên trở về Lỗ Tấn - Phan Khôi đi.

TTH: Bây giờ tôi xin trả nợ Thụy Khuê. Tôi nhích gần đến đề tài Lỗ Tấn-Phan Khôi. Tôi vẫn chưa chịu vào đề ngay. Tôi xin thêm một câu cuối cùng nữa về những tư tưởng mà Phan Khôi đã chuyên chở và đã bảo vệ một cách khá tài hoa. Ngày hôm nay, đọc lại những bài báo cũ đó, mình vẫn thấy chưa cũ. Vừa rồi Thụy Khuê có ngó qua một vài bài đó thì đã có một phản ứng rất tự nhiên là: Sao ta chưa tái bản những bài báo này?

Tôi hoàn toàn tán thành. Tôi muốn nói một câu cuối cùng về cái thời gian làm báo của ông Phan Khôi. Về nội dung, thấy rất rõ là ông theo chủ trương đổi mới của những người tân tiến nhất của Trung Quốc và Việt Nam những năm đó: Chống Tống nho, yêu cầu giải phóng phụ nữ. Tố cáo tục bó chân đàn bà, tố cáo một trăm cái chuyện trói đàn bà bằng dư luận, bằng bố mẹ chồng, bằng em chồng, bằng ông già mụ O. Tiếng của ông Phan Khôi là mụ O, là kinh lắm. Trong làng ai cũng sợ mụ O. Thì cái người nạn nhân nặng nhất của mụ O là các nàng dâu.

Đấy, thì cái cuộc tranh đấu này, nói chung, nó rất giống các cuộc tranh đấu của các nhóm tân học Trung Quốc, từ Lương Khải Siêu cho đến Hồ Thích, và các người cầm bút ở bên Trung Quốc những năm 20-30.

Nhưng cái điểm mà tôi vừa nói lúc nãy, nó xuất hiện khiến cho Phan Khôi gần Lâm Ngữ Đường hơn là gần Hồ Thích. Hồ Thích là giáo sư đại học, có lương bổng tháng, tương đối an nhàn, có thể tới các viện khảo cổ viết những bài sưu tầm ghê gớm. Còn Lâm Ngữ Đường thì tuy có một thời gian ngắn làm giáo sư đại học, nhưng về sau viết báo thành công, vì kiếm được hai cái trái ngược, rất khó sống với nhau, đó là khi cần thì đưa học vấn ra biện luận nghiêm chỉnh, và đồng thời biện luận với humour, với con mắt hóm hỉnh, nhẹ nhàng. Vừa giáo huấn người ta mà vừa khiến cho người ta cười vui vẻ, nhẹ nhàng. Thì đấy, ông Phan Khôi ông ấy kiêm được cả hai cái đó.

Bây giờ tôi mới đi đến câu hỏi của Thụy Khuê. Trong lịch sử văn học thế giới, nó có cái hiện tượng gọi là văn dịch thuật. Chuyện này ai cũng biết rồi. Nhưng không phải hễ có nhà văn dịch là thành công. Hễ có sự cần dịch, là người dịch dịch thành công. Phần lớn là dịch không thành công.

Tôi là người rất say mê đọc các bản dịch nhiều chiều, dịch từ Pháp sang Việt, từ Việt sang Pháp, Hán sang Việt, Việt sang Hán, v.v... Tôi bỏ rất nhiều thời gian trong cuộc đời nghiên cứu của tôi, để dò xét tài nghệ của người dịch, tâm địa của người dịch đối với tác giả bị dịch như thế nào. Đây, cái điều tôi muốn tặng độc giả Hợp Lưu và các bạn sẽ chú ý đến Phan Khôi đó là: May thay cho văn hóa ta, cho ngôn ngữ ta, người dịch Lỗ Tấn mà tôi cho là thành công nhất, không phải là Đặng Thai Mai -là người có công giới thiệu tên tuổi của Lỗ Tấn ở Việt Nam những năm 30-40-. Không phải là những người về sau như ông Giản Chi ở trong Nam, hoặc ông Trương Chính ở ngoài Bắc. Mà riêng cá nhân tôi, Tạ Trọng Hiệp, thì tôi đánh giá rằng, trên đời này, Lỗ Tấn nếu cần được dịch sang tiếng Việt thì Lỗ Tấn rất cần Phan Khôi gặp mình và dịch mình. Cái phép lạ, ơn chúa, ơn trời đã khiến cho Phan Khôi gặp Lỗ Tấn.

Tại sao tôi nói thế? Bây giờ tôi xin minh họa. Tôi xin bảo vệ ý kiến của tôi. Chứ đây mới chỉ là một khẳng định giáo điều thôi, là người nào có học chữ Hán, đọc được văn học Trung Quốc thời Lỗ Tấn, có đủ sức đọc Lỗ Tấn, thì chắc còn nhớ rằng Lỗ Tấn, trong văn đàn thời ấy và cho đến ngày hôm nay vẫn thế, ông ấy là một hiện tượng quái kiệt, chứ không phải là một nhà văn thông thường, viết văn xuôi xẻ đâu. Tư tưởng của ông rất cứng, rất có góc cạnh. Ông ấy rất bướng. Khi chống phái bảo thủ, khi chống Tống nho, khi chống truyền thống tâm tình dân tộc Trung Quốc là nô lệ, văn hóa Trung Quốc là văn hóa ăn thịt người. Ông ấy là cha đẻ của cái câu ấy đấy.

Khi ông ấy viết ở A.Q. Chính Truyện, 100 bài tạp văn ác liệt để phê phán nhóm quân phiệt lúc đó đang xâu xé Trung Quốc, hoặc những đám bồi bút lúc đó đang đem tài nghệ ra theo đóm ăn tàn, thì ông ấy dùng một hình thức câu văn, khiến cho sinh viên khi bắt đầu đọc Lỗ Tấn rất khổ, là nó rất cô đọng, nó nặng về văn ngôn, đồng thời về phong cách, về tính tình đó. Khi thì tàn nhẫn. Khi thì dí dỏm một cách không thể nhịn cười được. Và Lỗ Tấn, cũng như Phan Khôi và nhiều nhà văn lớn trên thế giới, là hay viết về quê hương, về cái làng của mình ở tỉnh gần Hàng Châu, tỉnh Triết Giang ấy.

Về mặt thuần sáng tác, bây giờ tôi chưa nói đến mặt cà khịa tạp văn, hãy nói về cái địa hạt mát mẻ, ấm áp hơn, mà có lẽ độc giả Hợp Lưu thích hơn, tức là Lỗ Tấn sáng tác gì hay, và Phan Khôi đã dịch những sáng tác ấy hay như thế nào? Khiến cho chúng tôi, lớp thanh niên mới lớn lên, không có quan hệ dính líu, về tình cảm hay những cuộc thanh toán cũ của các ông già kiểu Tạ Trọng Hiệp còn oán người này, mê người kia đó; chúng tôi muốn yêu cầu ông dẫn cho biết xem có gì đáng đọc...

Thì bây giờ tôi xin đưa một hai thí dụ là trong những truyện ngắn, vừa có tính cách thi vị, đồng thời có tính cách xác thực của Lỗ Tấn, cái chuyện Chúc Phước, trong có mụ Tường Lâm, mụ này cứ kể cho mọi người nghe về số phận thảm hại của đứa con trai duy nhất bị chó sói tha, đem về núi ăn thịt. Mụ Tường Lâm là mụ vú già được người ta thương, người ta nuôi trong gia đình, và mụ nói không ai đáp, không ai nghe. Trẻ con cứ hay chế giễu mụ là người lảm nhảm. Cái thần tình của Lỗ Tấn, khi viết câu chuyện thương tâm ấy, là ông viết với cái bề ngoài thật lãnh đạm. Ông làm chủ ngòi bút. Không có một chữ nào tỏ ra là ông xúc động sướt mướt vì thảm cảnh bà Tường Lâm. Ông viết về mụ Tường Lâm với con mắt Lỗ Tấn, khi ấy lên tám hay lên mười gì đó. Nhưng đọc xong, ai cũng thấy đây là một thành công lớn. Qua cái hình thức lạnh lùng ấy, ông đã lột được thảm cảnh hơn là bù lu bù loa nhiều.

Khi Phan Khôi dịch truyện đó, Phan Khôi cũng nắm được tinh thần của câu chuyện. Và tôi, tôi rất thú vị bản dịch của Phan Khôi, vì đã theo sát câu văn của Lỗ Tấn. Khi nó cộc, ông dịch cộc. Khi nó cay chua, ông cay chua. Khi nó kể chuyện trong làng, nói những chữ có vẻ... gọi là thô tục, hay nói tục, thì Phan Khôi dùng được đúng cái ngôn ngữ vùng Quảng Nam, Đà Nẵng của ông, để dịch, làm cho mình có cảm tưởng ta đang đọc truyện ngắn của người vùng Quảng Nam-Đà Nẵng, mà có hương vị Tầu, sao mà câu văn thành đạt như thế. Đó không phải là văn dịch. Và tôi là người rất say mê, như con gái ngày xưa hay ăn ô mai đó, tôi thì tôi ăn ô mai ngôn ngữ. Chữ nào mà đậm đà, thì tôi đọc đi một lần, rồi tôi đọc lại. Đêm nằm tôi lại nghĩ lại. Sáng hôm sau tôi lại sau mở ra đọc lại. Tôi vừa mê Lỗ Tấn lẫn Phan Khôi như thế. Đọc xong còn nhớ mãi. Đọc xong còn đọc lại. Chuyện Chúc Phước. Chuyện Xã Hí... Một hôm cậu bé con Lỗ Tấn buồn ngủ, cả nhà đưa cậu ấy xuống thuyền, đi từ làng, đi trên sông, trên lạch, ra tới thị trấn huyện để xem một rạp hát nhân dịp lễ thần hàng năm. Trên đường về thì cậu ngái ngủ, lại được ăn một thứ gần như là tào phở nóng, làm bằng bột đậu tươi. Cậu kể theo cái giọng thằng trẻ con, vừa thích xem hát, vừa ngái ngủ, vừa mê ăn, ăn tào phở. Tôi còn nhớ lúc đó tôi đọc, tôi ba mươi mấy tuổi rồi, mà tôi tiếc quá, sao hồi bé mình không được sống trong làng để được hưởng cái thú đi xem xã hí, vừa được ngủ, vừa có cha mẹ dẫn đi, vừa trèo lên thuyền, vừa có người ru, lắc dậy nói: Này, dậy ăn tào phở! Thế thì, đấy, qua bản dịch của cụ Phan Khôi, nó đậm đà, nó vừa trung thành có thể nói là tuyệt đối với Lỗ Tấn, vừa có cái hương vị thuần túy Việt Nam. Tôi là người Bắc Kỳ, Hà Nội, tôi có rất nhiều thiên kiến với anh em ở miền Trung và miền Nam; nhưng khi tôi gặp những hiện tượng như là thơ văn của những ông "sửng cồ" như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Phan Khôi, hoặc những ông còn sống, tuy đã cao niên, như ông già Bẩy Trấn ở trong Nam, thì tôi là người đầu tiên muốn hô cao khẩu hiệu: Hoan hô tính cách địa phương trong văn học.

TK: Vũ Ngọc Phan đã cho Phan Khôi vai trò ngự sử văn đàn, anh nghĩ sao về việc này?

TTH: Tôi may mắn còn giữ được nguyên bản, bản in lần đầu tiên Nhà Văn Hiện Đại, không có đủ bộ, chỉ có quyển I và quyển II, thì đây, để tìm lại xem Vũ Ngọc Phan viết gì? Vũ Ngọc Phan có nói: "Phan Khôi mà đóng vai ngự sử đàn văn thì thật là xứng đáng, không mấy người kiêm được nhiều điều kiện như ông: Có óc tỷ mỷ, soi mói, lại dùng chữ rất đúng, học rộng, kinh nghiệm nhiều. Từ ngày cái mục ấy không còn, tôi thấy rằng về sau các tạp chí văn học khác cũng có nêu lên những mục tương tự như thế, nhưng không mấy người đủ tài để viết." Bây giờ phải đọc lại Phan Khôi, nhưng tôi nhớ là ông Vũ Ngọc Phan rất tán thành cái ám ảnh của Phan Khôi, đó là nhắc cho những người viết báo, viết đúng chính tả tiếng Việt. Khi ông Phan Khôi viết bài đầu tiên, hình như ông có định nghĩa chữ ngự sử văn đàn. Nó không kênh kiệu như mình tưởng đâu. Hình như ông có thanh minh. Ông không tự cho mình là người gì cao hơn những người khác đâu. Nhưng mà ông bỏ ra hàng mấy chục năm trong đời ông, để học viết câu văn tiếng Việt cho có nguyên tắc, có phương pháp, và theo ông kinh nghiệm, thì nếu chỉ cố gắng bình thường thôi, ai cũng có thể tránh được những sơ hở quá khả ố. Ta hồi đó và bây giờ vẫn thế. Ta gặp đầy dẫy trên sách báo, mà nhà trường hình như là cũng không góp công giải quyết tốt lắm, vì chính các thầy giáo cũng cần có người giáo huấn, chỉ cho các thầy, đâu là những nguyên tắc về chính tả, đặt câu thế nào là kín hay hở, què hay không què, thì đây ông Phan Khôi cũng là người ăn ô mai với ngôn ngữ đấy. Ông chịu không nổi khi thấy người ta biến ô mai thành sỏi đá.

Trong Phụ Nữ Tân Văn có mấy nhà văn trong Nam viết thư phản đối Phan Khôi vì dám nói rằng: Chính tên của mình còn viết không đúng chính tả thì còn nói gì đến làm văn hay không làm văn.

À còn cái này mà tôi chưa kịp tìm được là cuốn tiểu thuyết duy nhất của Phan Khôi. Cuốn Trở Vỏ Lửa Ra, tôi chưa hề thấy nó ở đâu cả.

Về công tác mà Phan Khôi đã nghiên cứu rất nhiều năm, đó là nghiên cứu ngôn ngữ và văn tự tiếng Việt, sau này đúc kết thành cuốn Việt Ngữ Nghiên Cứu. Cho nên, khi làm báo, Phan Khôi có phụ trách mục Văn Sử Trên Văn Đàn. Phan Khôi có đăng từng kỳ, từng kỳ, từ năm 31 trở đi.

TK: Về Vũ Ngọc Phan, lúc nẫy anh có trách là trong cuốn hồi ký, không nhắc đến Phan Khôi. Có thể là Vũ Ngọc Phan có viết về Phan Khôi mà bị kiểm duyệt hay không?

TTH: Điều này thì phải điều tra với con cháu Vũ Ngọc Phan còn sống ở Hà Nội, có ông làm quan chức, sĩ quan gì đó trong quân đội, không phải là hạng nhỏ đâu. Tôi tiếc rằng mấy lần tôi về làm việc ở Hà Nội, không có dịp gặp những người ấy. Có một lần, có ai hẹn để gặp cậu con trai, nhưng về sau, giờ chót, thì ông ấy hay tôi bận, nên cái vụ hẹn đó không thành. Cái này muốn điều tra thì cũng dễ thôi, trong hồ sơ nhà xuất bản có dấu vết của vụ đó chăng? Tôi thì tôi chỉ tin vào cái khả năng là ông ấy có viết mà ông ấy bị kiểm duyệt, tôi tin một cách yếu ớt thôi. Vì tôi muốn nói đến một người, nhẹ tội hơn nhiều là ông Lê Dư, là bố vợ mà Vũ Ngọc Phan còn không dám viết nữa là, nói gì đến Phan Khôi. Tôi nghĩ rằng ông Vũ Ngọc Phan tự kiểm duyệt.

Khi người ta đã khiếp sợ rồi, người ta tởn cho đến già, cho đến lúc xuống mồ người ta vẫn còn run. Đây có lẽ là một trong những điều đáng buồn nhất trong những điều đáng buồn xẩy ra ở Việt Nam từ những năm 49-50 gì đó. Khi bắt đầu có rèn cán, chỉnh quân, học tập cán bộ, v.v... thì tất cả những giá trị cao đẹp mà người yêu nước, anh hùng đã nương theo để đứng dậy năm 44-45, cùng nhau đi kháng chiến để đuổi giặc ngoại xâm, thì đến cuối năm 49-50 là kết thúc hết cả. Và người ta thay bằng một cái bảng giá trị mới. Bây giờ, ngày hôm nay, vẫn còn đầu độc tất cả tinh thần làm việc ở trong nước. Đây là đạo đức cổ truyền -chúng mình gọi là đạo đức cổ truyền- không có. Người ta thay bằng những cái khác, trong đó có nhiều cái rất xấu.

Một trong những cái xấu mà người trí thức đã phải học tập, đó là phải biết nhút nhát, đầu hàng, sợ hãi thì mới sống được. Tôi là người ăn nói có vẻ anh hùng đấy. Nhưng mà nếu sống ở trong hoàn cảnh với họ, chắc tôi cũng là người đầu hàng đầu tiên. Vì cái guồng máy này nó nghiến nát, nó không chừa ai cả. Bên Trung Quốc, người ta đã nói rồi, trong 10 năm đại văn hóa cách mạng từ 66 đến 76, may là Lỗ Tấn đã chết rồi. Nếu còn sống, ông ấy cũng đi đổ phân ở vùng Tân Cương đấy, không có ai thoát được đâu. Ông Vũ Ngọc Phan không đến nỗi bị đe dọa đi đổ phân, nhưng mà khi đã tởn rồi, thì thôi, nhất là sau vụ học tập chỉnh huấn năm 49-50, rồi đến vụ học tập phê phán nọc độc Nhân Văn Giai Phẩm năm 56-57. Tôi nhớ lờ mờ là hình như có một lần, nhà phê bình Nam Chi, trên báo Diễn Đàn, có nói khi ông Vũ Ngọc Phan chết, có khen ông ấy một câu đại khái là từ khi cái môi trường phê bình văn học Việt Nam bị ô nhiễm bởi những giáo điều của Đảng v.v... thì Vũ Ngọc Phan treo bút, không viết phê bình nữa, và đi vào nghiên cứu folklore. Câu của ông Nam Chi đã được nhiều người trong nước đọc. Và gần đây, không nhớ tôi có đọc ở đâu, người ta có cãi lại: Nói như thế là không đúng, không ai cấm đoán gì ai cả.

Có thể là không ai cấm đoán ra mặt, vì chỉ cần bắt học tập một lần thôi là người ta tởn suốt đời. Có người chịu không nổi rồi điên lên, mỗi lần bạn bè đến chơi, cứ chỉ lên trần nhà nói: Chúng nó ngồi trên kia kìa, muốn gì thì viết trên miếng giấy, tôi đọc xong tôi lại đốt đi. Không những một người như Trần Đức Thảo, mà qua hồi ký của ông Bảy Trấn, mình thấy, một đảng viên kỳ cựu, một người trong 10 người quan trọng nhất của đảng Cộng Sản Việt Nam là ông Bùi Công Trừng, thì lần cuối cùng mà ông Bảy Trấn ra thăm ông Bùi Công Trừng, ta thấy ông Bùi Công Trừng cũng làm những động tác hoàn toàn giống Trần Đức Thảo, chỉ tay lên trần nhà để nhắc lại: Chúng nó ngồi trên kia kìa, nó đang nghe đây này, và viết cho nhau một hai câu trên miếng giấy, xong rồi lại châm lửa đốt ngay trên cái hộp đựng tro tàn. Vậy có lẽ cũng không nên nghiêm khắc quá, khi tôi đã tỏ vẻ bực mình khi nói về ông Vũ Ngọc Phan hồi đầu buổi nói chuyện này. Có lẽ bây giờ chỉ cầu mong cho nó qua cho nhanh đi, đến một lúc nào đó, rồi ta lại có quyền làm cái công việc mà tôi đã nói với Thụy Khuê cách đây 3, 4 năm rồi, đó là đối đãi với văn học như là văn học. Văn học không phải là cái bung xung cho nhà chính trị đem ra... đá bóng và cởi trói, và lại trói rồi lại cởi trói.

TK: Những điều anh vừa nói, cũng phù hợp với thực tế, bởi vì chính trong cuốn hồi ký, Vũ Ngọc Phan đã có những dòng viết về Khái Hưng, Nhất Linh rất tệ.

TTH: Tôi thì tôi rất mong -bây giờ mắt tôi kém, sức tôi yếu rồi- có những người như Thụy Khuê, có thì giờ, có minh mẫn, đọc những sách mà tôi cũng vừa đọc hay là mọi người vừa đọc gần đây, để góp phần thêm, ta suy nghĩ qua cái trường hợp cá nhân của Phan Khôi thôi. Ta suy nghĩ về một thời đại trong thơ văn. Ngày xưa có cái nhan đề rất hay của Hoài Thanh trong cuốn Thi Nhân Việt Nam, là Một Thời Đại Trong Thi Ca theo cái nghĩa rất đẹp. Thì một lúc nào đó, chúng ta nên có cái gì là Một Thời Đại Trong Phê Bình Thơ, Văn, Một Thời Đại Bẩn Thỉu mà tất cả trí thức ta đã bị chà đạp xuống đáy bùn như thế, để ôn lại một bài học là khi nào mà không may, chính quyền rơi vào tay kẻ vô học thì văn hóa không ra gì. Đừng trách riêng một cá nhân nhà văn nào cả. Tất cả đều là nạn nhân, thế thôi.

Có thể là có những mức độ khác nhau, như nghĩ lại về hai nhà thơ lớn của phong trào Thơ Mới như Xuân Diệu và Huy Cận, thì nếu tôi phải viết đánh giá về hai ông này, tôi sẽ thấy là Xuân Diệu đáng thương nhiều hơn đáng ghét. Tôi đã quên rồi, những bài ông ấy viết thời 56-57 về Phan Khôi hay là về ai khác. Tôi có gặp Xuân Diệu, tôi thấy có nhiều điểm đáng thương hơn. Còn cái ông bạn kia của ông ấy, ông Huy Cận đó, tôi có gặp nhiều rồi, thì tôi thấy ông này ít điểm đáng thương, ông này tội nặng hơn. Bây giờ vẫn còn kiên trì đấy. Hôm nọ còn thấy tên Huy Cận với cái văn kiện gì của Bảo Định Giang tâng công, làm tình báo cho Đảng về những nhà báo nào, những cuốn sách nào chệch đường, chệch lối. Đó là ta lại tố cáo, trong đó có tên Huy Cận đó, tên Nguyễn Đình Thi gì đó...

TK: Xin cám ơn anh Tạ Trọng Hiệp.

Thu thanh ngày 10 tháng 7, năm 1996,
tại Gentilly, Pháp, nhà anh Tạ Trọng Hiệp.
Hợp Lưu số 33, tháng 2&3 năm 1997.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét