Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2019

Lê Hữu Khóa: MÔI SINH & NHÂN SINH - Ai diệt môi trường? Ai giết môi sinh? (Tiếp theo và hết)

PHẦN 7.
Hệ đa sinh thái, hệ sống chung, hệ dây chuyền 


Khi nhân học môi sinh biết ngừng lại thật lâu để phân tích phạm trù: anthropocène như là tác động của sinh hoạt con người lên một trường, thì tác động này là các tác hại khi con người truy hủy môi sinh, giết động vật, diệt thực vật. Đặt lên cán cân tác động và tác hại, thì phải đi sâu vào phân tích về ý thức của con người, biết hay không biết là mình đang gây tác hại lên các loại sinh vật khác. Ngay trong phạm trù của ý thức, ta cũng có những tác động rất khác nhau ngay trong sinh hoạt con người. Một sắc tộc miền cao đốt rừng làm rẫy để trồng trọt theo quy luật đủ làm-đủ ăn-đủ sống, hoàn toàn khác với bọn lâm tặc mang ma quyền tàn phá rừng để kiếm tiền, kiếm nhiều tiền, để làm giầu, cùng lúc chia chát với bạo quyền lảnh đạo, tà quyền tham quan. Cả ba: ma quyền, bạo quyền, tà quyền, sống chung với nhau trong một hệ thống âm binh, với lòng tham không đáy của chúng, thì không có một thiên nhiên nào, một môi trường nào, một môi sinh tồn tại lâu dài được với chúng. Đây chính là thảm trạng môi trường của Việt Nam hiện nay. 

Hãy đi xa thêm nữa về hai thực tế mới trên vấn đề môi trường, mà nơi đây anthropocène được hiểu như sức ép tới từ con người làm thay đổi thiên nhiên, với môi trường càng ngày càng nhiều người sinh sống, sinh hoạt: 

· Thứ nhất là sức ép sinh sản không ngừng của con người mà nhân khẩu học xem như là một chỉ báo trung tâm, với thực tế của nhiều tỷ người khai thác trong tiêu xài, sinh sống rồi hủy hoại môi trường, trên một trái đất ngày càng kiệt quệ, với hằng số là: con người lấn và thiên nhiên lùi. 

· Thứ hai là sự bất lực của thiên nhiên, môi trường, môi sinh không thể tái tạo lại nguyên bản, như dạng nguyên thủy của nó, từ đây có một thực tế mới ra đời giữa các thế hệ khác nhau đang sống cùng nhau trên một trái đất. Cụ thể là thế hệ mai sau sẽ không có được thiên nhiên, môi trường, môi sinh như các thế hệ trước, sự khác biệt môi trường này chính là sự khác biệt về thế giới quan, về vũ trụ quan giữa các thế hệ. 

Như vậy, phạm trù phân tích của anthropocène đưa chúng ta tới nhận định là tác động của sinh hoạt con người có: 

· Hậu quả toàn diện trên trái đất, nơi mà trái đất là một cấu trúc của một hệ đa sinh thái, mà con người chưa hiểu hết về sự vận hành của nó. 

· Hậu quả sâu xa trên môi sinh, nơi mà trái đất là một hệ chung sống của vô vàn sinh vật, mà con người chưa hiểu hết về các quan hệ giữa các sinh vật này 

· Hậu quả lâu dài về thời gian, nơi mà trái đất là một hệ dây chuyền của một môi sinh với các sinh vật có quan hệ sống còn với nhau, biết sống dựa vào nhau, nơi mà con người chưa biết nhiều về các yếu tố tác động lên tuổi thọ của từng sinh vật. 

Nếu sinh hoạt con người tác động lên thiên nhiên, môi trường, môi sinh với các hậu quả: toàn diện, sâu xa, lâu dài mà chính con người không thấy đầy đủ về cấu trúc, không hiểu trọn vẹn về môi sinh, không thấu sâu rộng về sự quan hệ sống còn với nhau giữa các sinh vật, thì chính con người đang vô minh và vô tri ngay trên chính hành động, hành tác của mình. Thí dụ biến đổi khí hậu hiện nay gây giông bão, gây ngập lụt, gây ra sạt lở… cho thấy rõ là kiến thức của con người hiện nay còn rất phiến diện, cục bộ trước hệ đa sinh thái của trái đất. 

Khi con người vừa vô minh, vừa vô tri ngay trên chính môi trường của mình, nơi mà trái đất vừa là một cấu trúc của một hệ đa sinh thái, vừa là hệ chung sống của vô vàn sinh vật, vừa là một hệ dây chuyền của một môi sinh với các sinh vật có quan hệ sống còn với nhau. Nhiều chuyên gia của môi trường học đã ý thức được tầm vóc của cụm từ: môi trường, vô cùng phức tạp với ba phạm trù: hệ đa sinh thái, hệ sống chung, hệ dây chuyền. Nên họ đã đưa ra hình ảnh là con người sống với môi trường như người lái tàu lạc trên đại dương nhưng với tri thức của một con tép giữa đại dương! Thống kê thế giới đã làm rõ thảm kịch môi trường của con người, không đầy một thế kỷ mà con người đã thấy phân nửa chim chóc, phân nửa côn trùng, phân nửa loại bò sát… đã mất dạng, tức là đã tuyệt chủng ngay trong môi sinh hiện nay. Nếu số lượng dân số tăng lên cấp tỷ, với sự can thiệp của máy móc, kỹ thuật tăng lên gấp triệu, thì vận tốc biến đổi môi trường, từ thay đổi khí hậu tới suy mòn môi sinh… sẽ tăng lên gấp bội! Định lượng như vậy cho ta thấy số phận của môi trường thật bi thảm, bi đát hơn là nó mang theo số kiếp của con người thật bi đát! 

Hãy trở lại thảm trạng làm nên thảm cảnh của môi trường Việt hiện nay với hình ảnh quê hương gấm vóc thủa nào giờ đã thành bãi rác vô cùng nhiễm ô của bao công nghiệp bẩn, hóa chất độc… Hiện trạng này nhân số làng ung thư ngày càng nhiều, đẩy số người bị ung thư hằng năm lên ngày càng cao, và nó đã quá cao qua thống kê hiện nay của thế giới; với bạo quyền độc đảng giữ độc quyền trong độc tài nhưng bất tài trong quản lý môi trường, độc trị nhưng không hề biết quản trị môi sinh Việt. Bạo quyền độc đảng không những mở của sổ cho tà quyền tham quan buôn rừng bán đất, mở cửa sau cho ma quyền tham đất, tham gỗ, truy diệt rừng trên mọi miền đất nước, nó còn mở cả nóc nhà Tây Nguyên cho Tàu tặc vào để làm nên Tàu họa với túi bom bùn trên cao sẵn sàng gây Tàu nạn cho nhiều bình nguyên dưới thấp. 

Ví tri thức của con người chỉ là con tép giữa đại dương! Quả là một bi kịch, Việt tộc phải tận dụng kiến thức đấu tranh dân chủ, phải vận dụng tri thức đòi hỏi nhân quyền, cùng lúc đòi hỏi chủ quyền được bảo vệ thiên nhiên Việt, môi trường Việt, môi sinh Việt để con tép không bị chết cạn, chết khô, chết héo, chết khát vì bị bạo quyền, tà quyền, ma quyền, đang song hành với Tàu tặc, Tàu họa, Tàu nạn, chúng đang mang con tép ra thiêu nướng trước chân trời thảm họa môi trường Việt! 

Nhân học môi trường, nhân bản môi sinh 


Nhân học khi nghiên cứu về môi trường trao tới nhân lý một nhân tri để cảnh giác nhân loại: sự cẩn trọng trước lòng tham hiện tại của con người khi nó muốn khai thác triệt để thiên nhiên, nạo vét tài nguyên, truy hủy môi trường, xóa diệt môi sinh. Hãy định nghĩa để định luận về lòng tham hiện tại, từ ăn tươi nuốt sống bằng nghiến rừng, nuốt đất với thái độ ăn cháo đá bát khi tài nguyên của thiên nhiên bị cạn kiệt, với hành vi bây chết mặc bây với những hậu quả của ô nhiễm. 

Nhân học khi khảo sát về môi trường trao tới nhân tri một nhân trí để cảnh báo nhân thế: tương lai của nhân loại không hề là sự nối dài tự nhiên một cách máy móc từ hiện tại tới tương lai, từ hôm nay tới ngày mai. Tương lai của nhân sinh là chân trời trong đó có kết quả của lương tri hoặc hậu quả của vô tri, với những hiệu quả của nhân bản hoặc với hệ lụy của vô minh. Vì vô giác với môi trường, vô cảm với môi sinh, khai thác bừa bãi, vô tội vạ, vơ vét tài nguyên cho tới khi của môi trường gục ngã, môi sinh đuối quỵ, thì chân trời sẽ xám tối rồi đen nghịt để đưa con người vào thẳng cõi chết! Chết trong vô tri, vô minh, vô giác, vô cảm là một cái chết xấu, tồi, tục, dở, tới từ cái tội thâm, độc, ác, hiểm với môi trường và môi sinh. 

Nhân học khi điều tra về biến đổi môi trường song hành cùng thay đổi khí hậu gửi tới nhân văn một nhân lý để cảnh cáo nhân gian là: sự sống làm nên sức sống nhờ môi trường sạch với môi sinh lành kết tụ ra nhân tính với ít nhất ba kết luận: 

-Trái đất trong tương lai (rất gần) là dễ sống hay khó sống. Cụ thể là sống được hay không sống được, mà câu trả lời là thái độ của nhân loại đối xử ra sao với môi trường sống của mình. 

-Nếu trong thế kỷ qua nhân lý giúp nhân loại đã lột mặt nạ bạo hành của thực dân, bạo động của đế quốc trên môi trường, thì chính quyền và lãnh đạo chính trị hiện nay phải quyết đoán trong quyết sách bảo vệ đất-nước. 

-Tiền đồ của tổ tiên, tương lai của các thế hệ mai sau không ngừng ở con người, mà phải mở rộng, mở sâu, mở cao ra quan niệm về Việt tộc không những là dân tộc Việt mà còn là môi trường Việt luôn song hành, song đôi, song lứa, đồng hội đồng thuyền, cùng đồng bào Việt. 

Nhân học sẽ có cùng một định hướng với môi trường học khi cả hai đề nghị phân tích và giải thích môi trường và môi sinh bằng những hệ thống của quan hệ: quan hệ giữa con người và thiên nhiên, quan hệ giữa các sinh vật có mặt trên trái đất, quan hệ giữa con người và sinh vật cùng nhau tác động trên môi trường. Đây vừa là môi trường tri thức của nhân sinh, mà còn phải là môi trường về nhận thức qua giáo dục. Trước thảm cảnh môi trường bị tàn phá, môi sinh bị hủy diệt từ vô tri thức tới vô trách nhiệm của chính quyền do ĐCSVN lãnh đạo, thì ngược lại tại các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền, họ đã đưa vào giáo dục, giáo khoa, giáo trình những hệ thống của quan hệ giữa con người và sinh thái. Bi kịch của độc đảng, qua độc tài nhưng bất tài, độc trị mà không biết quản trị môi trường là đây. Sau gần nửa thế kỷ lấy độc quyền để tự độc tôn đã biến quê hương gấm vóc thành một bãi rác độc hại, ngày ngày ung thư hóa môi trường của Việt tộc. 

Nhân học khi chung lưng đấu cật với môi trường học thì các phân tích và giải thích của khoa học thực nghiệm, từ sinh học tới hóa học, đã và sẽ giúp con người định vị lại để định nghĩa lại thế nào là con người? Tại đây, con người không phải là một thực thể độc lập với các thành tố hoàn toàn tự chủ và tự lập để tự cấu tạo ra nó. Mà trong con người có sự hiện hữu của các sinh vật khác, từ vi khuẩn tới vi trùng, cùng nhiều tạo chất khác mà các sinh vật khác, từ động vật tới thực vật, cũng có. Nên con người không hề đứng biệt lập, không hề đứng ngoài hoặc đứng cạnh, đứng cao hơn hệ sinh thái mà con người đang sống, mà con người chỉ là một phần tử, một bộ phận của hệ sinh thái. 

Nhân học khi đồng hội đồng thuyền với môi trường học, thì mọi chủ thể yêu môi trường, mọi công dân trọng môi sinh sẽ có cùng một nhận thức là con người chỉ là một mắt xích trong một chuỗi dây chuyền với nhiều quan hệ, vừa phức tạp và vừa chằn chịt trong hệ sinh thái. Mỗi chuyển động của một mắt xích sẽ có hậu quả dây chuyền, có hệ lụy trong hiện tại và tương lai. Giáo lý tổ tiên Việt dạy con cháu bứt dây động rừng với các quy luật nhân quả, từ vi mô tới vĩ mô, song hành cùng các giáo lý ăn ở có hậu, với uống nước nhớ nguồn mà uống nước của môi trường thì phải nhớ bảo vệ môi trường. Rồi ăn quả nhớ kẻ trồng cây và ăn quả của môi sinh thì phải bảo trì, bảo quản cho bằng được môi sinh. Biết luôn ăn cây nào rào cây nấy, mà động từ rào của sự thông minh là hành động có ý thức biết bảo vệ sự sống, chớ không hề là thái độ ích kỷ hoặc vụ lợi của riêng ai, khai thác môi trường và tận dụng môi sinh cho riêng mình. 

Nhân học khi biết đồng kham cộng khổ cùng môi trường học để thấu hiểu các hậu quả độc hại trên môi trường do ô nhiễm tới từ các sinh hoạt của con người chỉ biết khai thác môi trường mà không biết bảo vệ môi sinh. Tại đây, nhân học môi trường học cũng nên từ bỏ quan niệm riêng-chung, trong đó cái riêng là sở hữu của một người, cái chung là sở hữu của mọi người; cái riêng là tư lợi, cái chung là công ích. Từ bỏ quan niệm riêng-chung để đi tới quan niệm chia-chung, trong đó cái riêng trong tư hữu riêng cá nhân có gốc, rễ, cội, nguồn từ cái chung của một môi trường tổng thể. Và khi con người muốn cái riêng của tư lợi không triệt hạ cái chung của môi trường thì con người phải có các định chế và các cơ chế, nơi mà các tập thể, các cộng đồng, các quốc gia phải xem xét và phán quyết bằng khoa học và luật pháp các phương án sử dụng môi trường, các phương pháp vận dụng môi sinh, từ riêng tới chung. Sử dụng môi trường mà không triệt dụng, vận dụng môi sinh mà không hủy dụng, vì triệt dụng và hủy dụng đều là tội ác triệt hủy môi trường. 

Nhân học cùng môi trường học phải biết tổ chức lại kiến thức để tư duy cách khác, mà cách khác này tới từ quá trình của nhận thức là: con người sống sót trong môi trường gục, trong môi sinh chết thì con người đã nhận số phận của âm binh! 

Vong quốc trong môi trường, vong thân trong môi sinh, vong hồn trong đất nước. 


Không cần rời thành phố, người dân cũng thấy và hiểu môi trường chung quanh mình đang bị tàn phá một cách thảm hại: 

· Ngập lụt thường xuyên các đường phố trong các đô thị sau mỗi trận mưa to, mà lý do phá rừng là chủ yếu, cây rừng không còn để ngăn chặn hữu hiệu các trận mưa. 

· Ngập lụt thường xuyên các đường phố trong các đô thị mỗi trận mưa to, mà lý do ngăn hủy các dòng chảy của sông ngòi, dễ dàng làm ngập lụt cả thành phố. 

Khi rời thành phố, người dân đã thấy và nhận ra là môi trường chung quanh mình đang bị hủy diệt một cách tàn khốc: 

· Những cánh rừng bị trọc đầu, trần thân, với sự khai thác vô tội vạ của con người, nơi mà kẻ có tiền đã mua chuộc bằng tham nhũng, để bóc trần tận xương tủy những cánh rừng nguyên sinh. 

· Những bìa rừng với bộ áo xanh tươi bên ngoài, nhưng khi người ta vào sâu một chút trong rừng, thì cảnh trần trụi là sự rỗng nát của môi trường, tàn lụi của môi sinh, đã bị nạo vét một cách vô lương tri nhất. 

Khi trở lại thành phố, người dân cũng thấy được và thấu ra là môi trường chung quanh mình đang bị truy diệt một cách tồi tệ: 

· Những biệt thự, biệt phủ của các tham quan, sống giầu sang như loại ký sinh trùng được béo bổ hóa qua tham ô, tham nhũng. Bọn sâu dân mọt nước này tự cho phép chúng trộm, cắp, cướp, giật các loại gỗ quý hiếm để xây biệt thự, biệt phủ của chúng. 

· Những biệt thự, biệt phủ của các bọn tham quan sâu dân mọt nước này đã tạo ra sâu rừng mọt gỗ theo nghĩa bất nhân nhất trong nhân tính. Chúng ăn mọt ngay trên môi trường để có các loại gỗ quý hiếm để xây biệt thự, biệt phủ của chúng. 

Khi người thành phố nghe và thấy các cây quý hiếm khi chưa bị đốn đã được khắc tên các tham quan trên thân gỗ, người dân mới hiểu ra là ngay trong chuyện trộm, cắp, cướp, giật giữa đám tham quan, chúng có: 

· Phản xạ ký sinh trùng loài ruồi nhặng lúc tranh, giành, sang, đoạt từng cây gỗ quý ngay trong rừng. Bọn tham quan sâu dân mọt nước này đã sâu rừng mọt gỗ theo nghĩa bỉ ổi nhất đối với môi trường qua hành động gặm, nhai, nuốt, nghiến từng sinh vật của môi trường thiên nhiên. Với lòng tham không đáy, chúng diệt môi trường ngay trên thượng nguồn của môi sinh. 

· Chúng sẵn sàng thanh trừng, thủ tiêu, tàn sát nhau như người dân đã thấy chúng thanh toán nhau tại Yên Bái. Trong phản xạ ăn tàn phá tận của loài mục súc vô luân của loài tham quan, luôn có phản ứng phản rừng hại biển, nên chúng chỉ cần đi thêm một bước nữa là chúng sẽ phản dân hại nước, đi thêm hai bước nữa thì chúng sẽ buôn dân bán nước

Loài tham quan này hoàn toàn vô cảm trước Tàu tặc đã và đang cướp biển, đảo, đất của ta! Chúng vô giác trước cảnh Tàu họa, kiểu Formosa, đã hủy diệt cả một môi trường rộng lớn tại miền Trung của non nước Việt! Chúng vô tri với Tàu hoạn đưa thực phẩm bẩn, hóa chất độc vừa giết con dân Việt, vừa diệt môi sinh Việt! Chúng vô minh trước Tàu nạn với các nhà máy nhiệt điện theo mô thức của Tàu phỉ phế thải tro bay bừa bãi trên nhiều vùng của đất nước Việt! Chúng vô luân nhắm mắt-cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước mô hình âm binh của Tàu tà là truy diệt từ con người tới môi trường, để hủy bại Việt tộc. Khi bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền kết cấu lại với nhau để thành loài âm binh ăn tàn môi trường, phá mạt môi sinh, thì chính chúng đã: 

· Đốn mạt hóa nhân tính, nhân lý của chính chúng, vì nhân tri, nhân trí đã vắng bóng trong nhân phẩm của chúng. 

· Mạt vận hóa nhân nghĩa, nhân từ của chính chúng, vì nhân văn, nhân bản đã biệt tăm trong nhân đạo của chúng. 

Nên loài tham quan này đừng mong có nhân vị trong nhân gian, nhân thế! Chỉ vì: 

· Nhân cách của loài tham quan truy cùng diệt tận môi trường và môi sinh là vô nhân cách chỉ biết sống với các sinh vật chết vì đã bị chúng giết, để chúng trưng bày ngay trong biệt phủ, biệt thự của chúng. Vì chúng chỉ thấy đẹp với các động vật và thực vật đã bị chúng giết chết, chúng sống để tư hữu hóa những cái chết! 

· Nhân dạng của loài tham quan sâu rừng mọt gỗ đã ăn tận phá mạt trong phản xạ phản rừng hại biển chỉ biết tôn vinh cái chết do bị giết tới từ cái ác làm ra cái tội trời không dung đất không tha, qua tội ác hủy môi trường, tội phạm diệt môi sinh! Chúng là bọn tội đồ với đất-và-nước của đồng-bào-Việt, vì chúng đã ăn rừng, cạp cây, giết thú trong thiên nhiên, nên chúng sẽ không có mồ xanh cỏ đẹp khi chúng xuống huyệt, chúng chỉ có mồ khô cỏ héo mà thôi! 

· Nhân diện của loài tham quan trộm, cắp, cướp, giật các loại gỗ quý hiếm để xây biệt thự, biệt phủ của chúng, với khuôn mặt có miệng lưỡi của âm binh chỉ biết gặm, nhai, nuốt, nghiến từng sinh vật trong môi trường thiên nhiên. Chúng có hàm răng của xấu, tồi, tục, dở của loại ăn tươi nuốt sống! Chúng có mắt tham, mũi nhũng của thâm, độc, ác, hiểm của loài ăn cháo đá bát, nên chúng đã vong quốc ngay trong môi trường của tổ tiên Việt, chúng đã vong thân ngay trong môi sinh của dân tộc, nên chúng vong hồn ngay trong đất nước Việt. 

Nhân sinh không môi sinh? 


Nếu nhân học môi sinh ngày ngày phân tích rồi giải thích về nhân sinh, đang vận dụng, sử dụng, tận dụng môi trường; đang tiêu dùng, tiêu xài, tiêu phá môi sinh, thì chính nhân học môi sinh này phải lập luận để diễn luận là nhân sinh đang tự biên rồi tự diễn một kịch bản, có lẽ là bi kịch, không chừng là thảm kịch là sẽ tới một ngày: nhân sinh không môi sinh! 

*** 

Lê Hữu Khóa: Giáo sư Đại học Lille* Giám đốc Anthropol-Asie *Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á *Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO–Liên Hiệp Quốc *Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris.*Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á* Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới. Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét