Thứ Năm, 17 tháng 10, 2019

Lê Hữu Khóa: MÔI SINH & NHÂN SINH: Ai diệt môi trường? Ai giết môi sinh?

PHẦN 6.
Đủ ăn-đủ sống hay săn giết sạch 


Khi nghiên cứu về nhân học môi sinh, ta cần nhận ra sự lưu hành rộng rãi các công cụ kỹ thuật để khai thác môi trường, tại đây thực trạng của toàn cầu hóa với sự lưu hành vô hạn định các công cụ và máy móc để khai thác môi trường làm thay đổi triệt để quan hệ giữa con người và môi trường, tại đây thái độ của chính con người cũng cần phải xem lại, đây là hai trong những thí dụ: 

· Người ta thấy lạ là một sắc tộc sống trong rừng đã từ bỏ cung tên, dùng súng đạn để săn thú, mà người ta không thấy lạ khi các lực lượng của thực dân đã dùng súng đạn tự bao thế kỷ qua để sát hại thật nhiều động vật trong thiên nhiên. 

· Người ta thấy lạ là một sắc tộc sống trong rừng đã từ bỏ dao, rìu để dùng cưa máy đốn cây rừng, mà người ta không thấy lạ khi các lực lượng của thực dân đã dùng cưa máy mà đốn cây rừng từ bao năm qua để hủy diệt rất nhiều những cánh rừng trên trái đất. 

Chuyện lạ hơn nữa khi các nhà nhân học quan sát những cá nhân trong một sắc tộc sống trong rừng khi dùng súng để giết nhiều thú vật hơn, thì kẻ giết nhiều thú vật này sống với mặc cảm tội lỗi trên các tiêu chuẩn đạo lý của tổ tiên họ là luôn tôn trọng, tôn kính môi sinh, trong đó con người phải săn để có ăn, chỉ đủ ăn, để đủ ăn, mà không phải giết để giết. Cùng lúc, người ta thấy được, hiểu được là có cả một hệ thống săn giết thú rừng để buôn bán trên phạm vĩ mô của toàn cầu đã và đang làm diệt chủng nhiều động vật đã có mặt lâu đời trên trái đất này. Đây là hai cách quan hệ với môi sinh rất khác nhau, một bên là để ăn và đủ ăn, một bên là làm giầu bằng một hệ thống có tổ chức toàn cầu để thảm sát nhiều giống thú vật, kể cả thực vật. 

Khi chúng ta phân biệt các công cụ kỹ thuật để khai thác môi trường (súng đạn, cưa máy, máy móc, mìn, thuốc nổ …) và quan hệ giữa công cụ kỹ thuật để khai thác môi trường làm nên cách sống trong môi trường (đủ ăn, đủ sống, đủ dùng) là hai vấn đề rất khác nhau. Chính cách sống trong môi trường quyết định cách sử dụng các công cụ kỹ thuật để khai thác môi trường đó, cách sống-đủ ăn mới là lý trí của con người chớ không phải hệ thống thảm sát các sinh vật trên quy mô toàn cầu; cách sống-đủ dùng mới là trí tuệ của con người chớ không phải hệ thống thảm sát sinh vật kiểu toàn cầu hóa; cách sống-đủ sống mới là tuệ giác của con người chớ không phải hệ thống thảm sát sinh vật kiểu vô tội vạ để làm giầu cho riêng mình. Lý trí đúng trước môi trường, trí tuệ trúng trước môi sinh, tạo ra tuệ giác lành giúp con người biết chung sống với hệ đa sinh thái. Nói gần nói xa không qua nói thật, trong thảm trạng môi trường hiện nay, mà quê hương Việt đã thành một bãi rác mà thủ phạm chính là bốn lực lượng hiện nay đang hủy diệt môi trường, đang truy diệt môi sinh: 

· Bạo quyền độc đảng, độc tài nhân bất tài đã và đang đi ngược lại lý trí đúng trước môi trường. 

· Tà quyền tham quan sống nhờ tham ô và tham nhũng đã và đang đi ngược lại trí tuệ trúng trước môi sinh. 

· Ma quyền tham tiền tham đất, tham tài nguyên đã và đang đi ngược lại tuệ giác lành trước thiên nhiên. 

Cả ba: bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền đối xử với môi trường, hành xử với môi sinh, cư xử với thiên nhiên như loài ký sinh trùng tệ hại nhất, như loại âm binh tồi tàn nhất. Vì chúng đã mở cửa cho Tàu tặc ô nhiễm Tây Nguyên, Tàu nạn giết biển miền Trung kiểu Formosa, Tàu tà giết không khí Việt với nhiệt điện, Tàu hoạn với hóa chất độc, thực phẩm bẩn… Bốn loại này chính là bốn tội phạm cốt lõi đang tiêu diệt hệ sinh thái Việt hiện nay. 

Cũng vẫn nói gần nói xa không qua nói thật, công dân Việt phải là những chủ thể bảo vệ môi trường, bảo quản môi sinh, bảo trì thiên nhiên phải: 

· Đứng về phía các nạn nhân đang sống tại các làng ung thư tới từ ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất trồng trọt… 

· Đứng về phía các nạn nhân chính là các sắc tộc anh em vùng cao, vùng xa đang sống dưới sự đe dọa của môi trường bị triệt hạ, môi sinh bị xiết chết. 

· Đứng về phía các nạn nhân của các cuộc xả lũ hằng năm với môi trường bị chết ngộp, với con người bị vùi trong nước lũ. 

· Đứng về phía các nạn nhân của các tỉnh miền Trung của thảm họa Formosa, với một vùng biển thênh thang một sớm một chiều gục chết, với hậu quả của hàng triệu ngư dân thất nghiệp vì mất nguồn sống, với các hệ lụy bịnh tật trầm trọng cho các thế hệ sau. 

Cuộc đấu tranh vì môi trường Việt sạch, vì môi sinh Việt tốt, vì thiên nhiên Việt đẹp là cuộc đấu tranh đôi, của môi trường học, của nhân học nhân sinh trên bình diện khoa học; mà cũng của công dân Việt, của chủ thể Việt trên bình diện chính trị, khi cả hai biết chọn, biết đứng về phía nước mắt! Nước mắt của nạn nhân môi trường, mà tội phạm là bọn bạo, tà, tham, độc. 

Nhân sinh trước hay sau môi sinh 


Nhân sinh luôn mang theo hai loại vấn đề đặc thù do chính con người tạo ra, mỗi vấn đề có nội dung riêng của nó, có giá trị riêng của nó, có hoàn cảnh riêng của nó, có khó khăn riêng của nó, đó là nhân sinh trong nhân lý và nhân sinh trong môi sinh: 

· Nhân sinh trong nhân lý mang ít nhất ba nội dung, cả ba nội dung này như ba hằng số trong nhân lý, tức là có mặt trong nhân tính, nhân tri, nhân vị của con người: 

*Quan niệm sở hữu, nơi mà quyền sở hữu không những có trong phản xạ của con người mà nó còn được hiến pháp, luật pháp bảo vệ như một quyền trung tâm trong nhân sinh. 

* Quan niệm tư lợi, ở đây đòi hỏi quyền lợi của cá nhân, tập thể, cộng đồng, quốc gia luôn dẫn tới phạm trù tư lợi, chính định chế và cơ chế từ nhân quyền tới dân chủ, đều chấp nhận và công nhận cặp đôi quyền lợi-tư lợi này. 

*Quan niệm cá nhân, tại đây cá nhân được quyền có cả hai: sở hữu và tư lợi, cả hai đóng vai trò chủ động về sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân, vừa làm nền tảng, vừa là động cơ của các định chế và cơ chế từ nhân quyền tới dân chủ. 

· Nhân sinh trong môi sinh cũng có ít nhất ba vấn đề, ít nhiều được xem vừa là các hằng số, vừa là các ẩn số, chính đây là nghịch lý của nhân sinh, mà cho tới nay con người vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng, chưa có cách giải quyết toàn lý: 

*Con người khai thác tài nguyên rồi biến năng lượng để sử dụng, các tài nguyên thành năng lượng từ: củi, than cho tới các khoáng chất, mỏ quặng, dầu hỏa… các năng lượng này ngày càng cạn dần, mà chính con người hiện nay vẫn chưa chế tạo được năng lượng nhân tạo để sử dụng, mà không cậy nhờ vào môi trường thiên nhiên. Năng lượng mặt trời cũng như năng lượng gió hoàn toàn không đáp ứng được sức tiêu thụ hiện nay của con người. 

* Con người luôn tăng về dân số, mà đơn vị hiện nay là nhiều tỷ và cấp tăng số này sẽ không hề giảm về mức độ cũng như về mật độ, với không gian của môi trường luôn bị lấn át, truy ép. Cấp số tăng của con người là cộng và nhân, song hành cùng cấp số giảm của môi trường thiên nhiên là trừ và chia, với diện tích của thiên nhiên ngày càng bị thu hẹp và không gian nhân sinh ngày càng căng, càng rộng. 

* Con người luôn tăng về tuổi thọ, tác động trực tiếp lên hiện cảnh đất chật người đông, và chỉ có con người tăng về tuổi thọ, và không có một sinh vật nào được có tuổi thọ dài để có mặt lâu và bền trên trái đất này. Bối cảnh đôi là người đang sống vẫn đông, và thế hệ mới sẽ xuất hiện cũng sẽ đông, sẽ nhiều, mà thực tế của dân số học (nhân khẩu học) của nhân sinh không hề tách biệt với hệ môi trường, và tại đây nhân sinh chính là sức ép trực tiếp, không ngừng nghỉ trên môi trường. 

Tứ các nhận định trên, nhân học môi sinh phải vào sâu thêm ba lĩnh vực với ý thức để có tỉnh thức trước ba hiện trạng sau đây: 

· Đã không còn đất trống, rừng hoang như chốn không người nữa, tức là không còn một nơi trú ẩn nào trên quả địa cầu này mà các sinh vật có thể tới đó để lẩn tránh sức ép của con người, vì con người đã thu gọn không gian của trái đất trong tầm kiểm soát bằng khoa học và kỹ thuật của nó. 

· Đã không còn sự tăng trưởng bình yên, sự phát triển tự nhiên của các sinh vật, từ động vật tới thực vật, mà ngược lại có rất nhiều động vật và thực vật đã và đang bị diệt chủng, bị con người truy sát, hoặc bị tiêu diệt bởi biến đổi khí hậu với môi sinh luôn bị truy nã như chúng. 

· Đã không còn các sắc tộc sống tách biệt, các quốc gia sống biệt lập, các châu lục tách xa nhau, mà ngược lại với toàn cầu hóa hiện nay của giao thông, truyền thông, truyền tin… cùng sự khai thác tràn lan từ tài nguyên tới thiên nhiên trong bối cảnh của một thế giới tiêu thụ không ngừng nghỉ môi trường, thì nhân sinh đang đi từ gặm nhấm tới nuốt trọng môi sinh. 

Nếu nhân học môi sinh phân tích nhân sinh qua nhân lý, nhân tính thì nhân học này không chỉ phân giải nhân tri và và nhân trí, mà nó phải đi sâu, xa, rộng, cao lên với các khám phá mới của sinh học: 

· Những khám phá mới này giúp con người có nhận thức mới là ranh giới giữa động vật và thực vật ngày càng bị thu ngắn lại, bị xóa mờ đi để con người nhận ra một không gian lớn hơn của các sinh vật. 

· Những nhận thức mới về các sinh vật, có động vật và thực vật như là những sinh vật có cảm nhận, có cảm quan và có ý thức cùng nhận thức có thể dẫn tới cảm xúc. 

· Những cảm xúc nếu có trong nhiều sinh vật, mà không chỉ riêng của động vật mới có, thì chính con người phải thay đổi tư duy của chính mình, tức là thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan, vũ trụ quan về các sinh vật, mà Phật giáo đã phạm trù hóa qua cụm từ sinh vật hữu tình, biết cảm nhận, có cảm xúc về nỗi vui, niềm đau… 

Khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu sâu đậm về ba vấn đề trên, nhưng chính nhân sinh trong các quốc gia văn minh, yêu dân chủ, trọng nhân quyền đã đi nhiều bước bằng những luật pháp bảo vệ môi trường bằng các nhận thức đã nêu ở trên, đây là cái thiếu trong luật pháp hiện nay của Việt Nam, bởi bạo quyền độc đảng vô cảm? Bởi tà quyền tham quan vô tri? Bởi ma quyền tham tiền vô giác? Trước mắt, thì mọi công dân Việt với nhân cách của chủ thể bảo vệ môi trường Việt, bảo trì môi sinh Việt, bảo quản thiên nhiên Việt phải đòi hỏi sự ra đời của một bộ luật thật sự văn minh về môi trường, và đừng ngần ngại đặt tên cho nó là: nhân luật vì quyền sống của thiên nhiên! 

Môi sinh: một hệ thống địa cầu tương tác. 


Nhân học môi sinh khi thấy, hiểu, thấu các kết luận khoa học của các chuyên ngành khoa học chính xác, khoa học thực nghiệm, thì bản thân nhân học môi sinh phải nhận định được là trái đất mà con người đang sinh sống và sinh hoạt trên đó không phải là một hiện vật vô hồn, vô cảm, vô tri, vô giác mà là một hệ thống, chính ngữ pháp hệ thống là cơ sở lý luận cho phạm trù lý thuyết luận, phương pháp luận, khoa học luận cho nhân học môi sinh: 

· Một hệ thống là sự tổ chức có xếp đặt giữa các phần tử, trong đó các phần tử đều có chức năng, vai trò, vị trí để bảo vệ sự trật tự của hệ thống. 

· Một hệ thống là sự tổ chức của các ảnh hướng qua lại, trong đó có ít nhất hai loại ảnh hưởng được hiểu như hai sự tương tác: thứ nhất là giữa các phần tử; thứ hai là của chính hệ thống tổng quát tác động lên các phần tử. 

Chính định nghĩa của hệ thống làm nên định đề trong lý luận, rồi làm nên định luận trong phân tích và giải thích về các hậu quả về môi trường, các hệ lụy về môi sinh, trong đó con người đã làm nhiều sai lầm, mà sai lầm lấy ra để làm nhiều lần thì thành lỗi, mà lỗi cứ lập đi lập lại cùng lúc gây tác hại từ sinh mệnh đến tương lai của các sinh vật không biết thì đây chính là: tội! Chớ không còn là lỗi nữa. Các tội-lỗi này có thượng nguồn lịch sử của nó: 

· Khi con người tự cho phép nó là một thực thể ngoại hạng đứng ngoài, rồi đứng trên thiên nhiên, mà không có tri thức đầy đủ để thấy, hiểu, thấu thiên nhiên này chính là một hệ thống phức tạp, có tính quan hệ phức tạp qua tương tác vạn năng, với ảnh hưởng qua lại giữa phần tử và hệ thống. 

· Khi con người tự cho phép nó có quyền sở hữu thiên nhiên để khai phá, khai thác thiên nhiên theo cách vận dụng để tận dụng thiên nhiên. Chính quyền tư hữu hóa thiên nhiên này đưa tới thái độ và hành vi vừa chế ngự, vừa tiêu xài, vừa hoang phí, vừa «rác hóa» thiên nhiên và môi trường. 

· Khi con người tự cho phép nó có quyền không những sinh sống trong và trên thiên nhiên, rồi thêm quyền khai quật môi trường, quyền sinh sát trên môi sinh, không những chỉ trong tư duy đốt rừng, giết thú; mà ngay trong cả quá trình tri thức hóa nhân sinh, bằng các chủ thuyết về tiến bộ. Tại đây, các ngành khoa học xã hội nhân văn đều có mặt trong giai đoạn công nghiệp hóa từ thế kỷ thứ XVIII, để tôn vinh quyền quản lý thiên nhiên của con người. Từ đó, tạo ra một loại quyền độc tôn là con người có thể thuần hóa thiên nhiên, khuất phục môi sinh, quản thúc môi trường để phục vụ cho ý muốn, ý định, ý đồ «tiến bộ» của nó. 

Hãy tìm hiểu thêm về phạm trù hệ thống đã làm nên định nghĩa, định đề, định luận trong phân tích và giải thích của nhân học môi sinh, tại đây các chuyên gia thấy rõ là: 

· Luật nhân quả của môi trường không phải là một loại phản xạ máy móc, mà nó có biến hóa phức tạp với quan hệ vạn năng của nó; cụ thể là không phải nhân nào quả đó, mà có khi qua sự tác động phức hợp của ô nhiễm, của biến đổi khí hậu, thì không phải lúc nào cũng nhân nào quả nấy. Có khi gieo hạt này nhưng phải nhận quả kia. Gieo hạt lành nhưng nhận quả độc. 

· Luật giới hạn từ số lượng tới chất lượng, khi mà một hệ thống như trái đất chỉ nhận một cách rất giới hạn các ô nhiễm do con người gây ra, cũng như tầng khí quyển kín chỉ đủ sức nhận (vì không tiêu hóa được) các thán khí CO, thì sức chịu đựng của cả hai đều có giới hạn. Chính con người phải hiểu giới hạn chính là giới luật, là một vùng cấm vì khi vượt qua giới hạn này thì sinh mạng cũng như tương lai của mọi sinh vật sẽ bị đe dọa. 

· Luật sụp đổ khi mọi giới hạn bị vượt qua, khi mọi giới luật bị xóa trắng, lúc đó sự sụp đổ sẽ tới với một hệ thống sống như quả địa cầu hiện nay, nó tới chậm với các chỉ báo để thống báo về sự suy trầm của nó trong môi trường. Nó tới ngày càng nhanh về sự suy thoái của môi sinh với nhiều sinh vật bị diệt chủng, nó tới chắc chắn với sự khủng hoảng bằng sự sụp đổ của cả một hệ thống, một cấu trúc, một cơ ngơi, và nó tới với cái chết của một sinh vật đã mất đất sống, miếng ăn. 

Đây là một chuyện không xa xăm gì ngay trên đất nước Việt với: 

· các thành phố bị thế giới xếp hạng cao nhất về ô nhiễm; 

· đồng quê bị ngập mặt song hành cùng nghịch cảnh lúc hạn hán, lúc ngập lụt; 

· không khí của các nhà máy nhiệt điện bằng than tạo ra các làng ung thư; 

· các nguồn nước ngọt bị nhiễm ô trầm trọng nơi mà ngay trên quê hương của sông nước, dân Việt lại thiếu nước sạch để tiêu dùng; 

· các công nghệ loại ô nhiễm nhất, kiểu Formosa tại Hà Tĩnh đã diệt một sớm một chiều môi trường biển của nhiều tỉnh miền Trung; 

· các khu khai thác tài nguyên trên Tây Nguyên, mà Việt tộc đã biết đặt tên là các bom bùn đỏ, đã nằm trong tay Tàu tặc ngày đêm đe dọa các bình nguyên bên dưới, mà khi cần thì Tàu phỉ sẽ biến nó thành Tàu nạn cho con dân Việt, Tàu họa cho thiên nhiên, Tàu hoạn cho môi sinh. 

Chính sự thiếu tri thức của nhân sinh về hệ thống địa cầu biết tương tác, nên con người đã hành xử với thiên nhiên, với môi sinh, với môi trường như loại hải tặc đang nắm tay lái trên một đại dương, mà chính nó cũng không có đồ hình để vượt qua ghềnh thác, qua đá ngầm… nên tên hải tặc này có thay vì rẽ tay phải, thì lại làm ngược lại là rẽ tay trái, để khi đắm tàu, chìm xuồng thì không những sinh mạng của tên hải tặc này không còn mà tất cả những ai đi cùng với nó đều có thể bị thiệt mạng. 

Môi trường nhiều sinh thái, môi sinh nhiều thế giới 


Khi môi trường học cần liên minh với nhân học để nhận ra vai trò của con người trong thiên nhiên, và nhân học cân liên kết với môi trường học để nhận ra tính hữu hạn của môi trường, mà không khai thác triệt để đến triệt quỵ môi sinh, thì hai chuyên ngành này đã thấy để thấu: 

* Môi trường nhiều sinh thái, nơi mà thiên nhiên không hề là một tổng thể đơn giản trong thuần nhất, mà nơi đây nhiều hệ sinh thái, và tính đa sinh thái từ động vật tới thực vật, biết sống dựa vào nhau nhưng cũng có những tổ chức cộng đồng, tập thể, xã hội mang tính đặc thù của mỗi sinh vật với các sinh sống riêng của chúng. 

* Môi sinh nhiều thế giới, tại đây hệ đa sinh thái không những có tổ chức cộng đồng, tập thể, xã hội đặc thù của các sinh vật có sinh hoạt riêng, mà chính các tổ chức đặc thù với sinh hoạt riêng tạo ra những thế giới cùng sống chung với nhau trong một môi trường. 

Từ nhận định về phạm trù môi trường nhiều sinh thái-môi sinh nhiều thế giới, môi trường học song hành với nhân học, sẽ tới một nhận định khác về hai loại xã hội con người với quan hệ hoàn toàn khác nhau trước thiên nhiên: 

· Các xã hội con người nơi mà truyền thống tri thức của tập thể xem thiên nhiên như đối tác cùng nhau hợp tác để sống còn, với sự tôn trọng lẫn nhau, nơi mà nhân sinh có nhân tính quý trọng môi sinh. 

· Các xã hội con người nơi mà sự khai thác triệt để môi trường song đôi cùng sự vận dụng các tri thức làm tăng năng suất của chính con người trên thiên nhiên, cùng lúc gây thiệt hại cho môi trường, gây thiệt mạng cho môi sinh. 

Chính các khám phá mới của môi trường học, giúp các chuyên gia của nhân học trở lại một cách tỉnh táo và sáng suốt với các quan niệm đứng đắn về một nhân sinh quan biết dựa trên một thế giới quan biết xem các sinh vật trong thiên nhiên như đối tác cùng nhau hợp tác để sống còn. Vấn đề sâu xa trong liên minh giữa môi trường học và nhân học là hiểu được: 

· Khả năng trao truyền tri thức và hiệu năng truyền thông của từng loại sinh vật sống chung với nhau trong thiên nhiên. 

· Khả năng trao đổi tri thức và hiệu năng truyền đạt giữa các sinh vật sống chung với nhau trong cùng một môi trường. 

Và, khi lập được các giải thích khách quan và khoa học tri thức về khả năng đôi trao truyền- trao đổi của các đối tác trong sống cùng một môi sinh, thì con người sẽ thấy rõ hơn, hiểu sâu hơn, thấu rộng hơn các hậu quả và các hệ lụy chống môi trường do chính con người tạo ra. Từ đây, con người phải đi thêm nhiều bước nữa để thấy, hiểu, thấu quyền được sống còn và quyền được tồn tại của các sinh vật đang chung sống với con người, nơi mà mọi sinh vật đều có quyền sống như nhau. Chính tại lập luận này: quyền sống như nhau sẽ làm con người thay đổi theo chiều rộng về nhân sinh quan của mình, thay đổi theo chiều sâu về thế giới quan của mình, thay đổi theo chiều cao về vũ trụ quan của mình. Và mỗi lần con người thay đổi theo chiều cao, sâu, xa, rộng để đi về hướng hay, đẹp, tốt, lành cho mình và cho chung quanh là mỗi lần môi trường được cứu vãn, môi sinh được cứu rỗi. 

Nhưng hiện nay, xã hội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN độc tài nhưng bất tài trước thảm họa của môi trường, độc trị nhưng không biết quản trị trước bao hệ lụy về môi sinh, nên xã hội này đã phải sống với: 

· Các nhà máy nhiệt điện và thủy điện ngày đêm như hai kẻ sát nhân đang truy diệt môi trường, đang truy hủy môi sinh. 

· Chính con người lạm dụng hóa chất chống rầy, cùng lúc dùng các hóa chất khác chích, bơm vào cây trái, hoa quả để tạo ra sức tăng trưởng giả tạo của chúng, độc hại cho môi trường, cho con người. 

Khi xã hội Việt Nam đang bị hóa chất hóa, tức là chính nó đang bị đầu độc hóa để rồi nhắm mắt-cúi đầu-khoanh tay-qùy gối vào ma lộ của ung thư hóa cấp vĩ mô của cấp quốc gia. Một xã hội đã và đang bị hóa chất hóa-đầu độc hóa-ung thư hóa bởi bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền đã đối xử tàn tệ với môi trường, bất nhân với môi sinh, thì xã hội đó, với đất nước của nó, với dân tộc của nó đã bị âm binh hóa trên chính sinh lộ của mình. 

Trước lối-đi-không-lối-thoát của một nhân loại hiện nay, với khả năng duy lý từ khoa học khám phá thiên nhiên tới kỹ thuật khai thác môi trường, đã truy hủy môi sinh của bao nhiêu hệ sinh thái, của bao nhiêu sinh vật. Một nhân loại không hiểu hoặc chưa hiểu hệ chung-chia giữa các sinh vật, mà chỉ thấy quyền lực trong quyền lợi, vụ lợi vì tư lợi, nhân loại đó chắc chắn không thông minh, vì không tỉnh táo trong sáng suốt. Nơi mà đầu sỏ của hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn), không chung-chia mà ngược lại là chia-chác với đầu nậu là hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) qua tham đất, tham rừng, tham cảnh quan... thì môi trường sẽ phải hấp hối hóa, và môi sinh sẽ phải trối trăng hóa trước thảm họa truy cùng diệt tận chỉ bằng lòng tham của vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm. 

Trong khi đó, chính con người hoàn toàn có khả năng, vì năng khiếu để thấy-hiểu-thấu là: 

· Con người có cùng với các sinh vật khác các đặc tính của hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) để tồn tại và sống còn trong cùng một môi trường với các sinh vật khác này. 

· Con người có cùng với các sinh vật khác các đặc tính khai sáng môi trường để tồn tại trong môi trường, khai sáng mà không khai thác vô tội vạ. Dù không thể sống chung một chỗ, chia chung các thực phẩm, nhưng mọi sinh vật trong môi sinh, từ con người tới động vật, từ thực vật tới côn trùng, tất cả cùng đều có cùng một mong cầu là được tồn tại trong môi sinh. 

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét