Thứ Tư, 16 tháng 10, 2019

Lê Hữu Khóa: MÔI SINH & NHÂN SINH - Ai diệt môi trường? Ai giết môi sinh?

PHẦN 5.
Tiến bộ khoa học, tiến trình phát triển, tiến độ nhân sinh 


Ngay trên phạm trù tiến bộ khoa học, con người cũng cần suy nghĩ lại về tiến độ nhân sinh, khi con người biết là trong lịch sự của nó, nhất là từ ba thế kỷ qua con người xem tiến bộ khoa học chính là tiến trình phát triển, mà cũng là tiến độ văn minh. Trong bối cảnh đó khoa học chỉ đi nhanh, đi lên, đi cao mà không cần xem lại thật sáng suốt các trữ lượng về tài nguyên, về năng lượng để phục vụ cho tiến bộ khoa học này. Tìm ra một đà tiến triển với một vận tốc thích hợp, để từ đó rà soát lại sức tồn trữ về tài nguyên, về năng lượng còn lại sau bao thế kỷ tiêu dùng, tiêu xài, tiêu phá thiên nhiên và môi trường. 

Từ đây, ra đời một nhận thức là tiến trình phát triển của nhân loại bằng khoa học, kỹ thuật, lấy việc sử dụng, vận dụng, tận dụng thiên nhiên và tài nguyên làm cơ sở, đây là một quá trình được nhân sinh vào một quỹ đạo của sự phát triển không bền vững, của sự tồn tại không lâu bền. Nếu con đường đã đi là sai thì con đường đi mới phải là sự chọn lựa trong cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường, trong đó tiến độ nhân sinh không hủy diệt môi trường, không truy hủy môi sinh. Mà là một tiến độ trong đó nhân sinh và thiên nhiên song hành với nhau trên cùng một sinh lộ: tiến độ nhân sinh biết bảo vệ môi trường, hiểu bảo quản môi sinh, thấu bảo trì thiên nhiên. 

Nếu nhận thức tất yếu cho tương lai là nhân sinh và thiên nhiên song hành trên cùng một sinh lộ, cả hai có chung một giòng sinh mệnh, thì chính con người phải thay đổi toàn bộ hệ thống mà nó đã và đang vận hành và vận dụng để khai thác môi trường, tiêu xài môi sinh, tiêu hủy thiên nhiên. Thay đổi toàn bộ hệ thống vận hành dựa trên tiến bộ khoa học, tiến trình phát triển để chung sống với môi trường, để chung chia với môi sinh, để chung hưởng với thiên nhiên là chuyện vẫn còn xa vời trong tư duy hiện nay của giới lãnh đạo chính trị các quốc gia. Dù ở các thể chế, các chế độ khác nhau, chuyện công nhận phương trình chung sống với môi trường-chung chia với môi sinh-chung hưởng với thiên nhiên, trong đó môi trường, môi sinh, thiên nhiên không còn là những con mồi để con người săn, bắn, giết, hủy mà thật sự là những đối tác, cần sự tôn trọng của con người, cũng vẫn là chuyện viển vông trong môi trường chính trị, kinh tế, thương mại… hiện nay. 

Nhưng định đề đã tìm được, đã được nêu ra là: môi trường, môi sinh, thiên nhiên là những đối tác dựa trên sự tôn trọng của con người, thì chính con người phải thấy được tiến độ nhân sinh của mình ở đây như thấy ra được sự thông minh của nhân sinh, như nhận ra được một sinh lộ mới, mà trên sinh lộ này mình sẽ cứu được mình, và cứu được cả môi trường, môi sinh, thiên nhiên. Nếu không có sự kết hợp hài hòa giữa tiến bộ khoa học, tiến trình phát triển, tiến độ nhân sinh, trong đó môi trường, môi sinh, thiên nhiên được tôn trọng như những đối tác cùng chung sống-chung chia-chung hưởng với con người, thì chính cái mà còn người gọi là văn minh văn hiến cũng sẽ bị tiêu diệt sau khi con người đã tiêu diệt môi trường. 

Đây là lúc phải trở lại thảm trạng môi trường, thảm họa môi sinh, thảm cảnh thiên nhiên tại Việt Nam hiện nay, với con người cùng lúc tận diệt rừng, truy diệt sinh vật, hủy diệt ngay cả nguồn nước bằng chính hành động ô nhiễm tràn lan và vô tội vạ nơi mà thiên nhiên là «của hoang không chủ», môi trường là «công cụ dễ xài», môi sinh là «mồi ngon dễ nuốt», vì cả ba đều không biết tự vệ. Đây là tư duy của côn đồ không hề có văn hóa, đây là não trạng của lưu manh không hề biết văn minh, đây là phản xạ du đãng không hề hiểu văn hiến là gì. 

Chính cách hành xử với thiên nhiên, với môi trường, với môi sinh chứng tỏ là xã hội Việt hiện nay không hề là một xã hội văn minh, và chính sự vắng mặt của xã hội dân sự biết bảo vệ thiên nhiên, biết bảo quản môi trường, biết bảo trì môi sinh là một đại họa cho Việt tộc. Và đại họa này đang là một thảm kịch cho môi trường Việt, môi sinh Việt, thiên nhiên Việt, dưới tay bạo quyền lãnh đạo độc đảng toàn trị, độc tài nhưng bất tài trước các vấn đề môi trường; với tà quyền tham quan, độc trị mà không hề biết quản trị môi sinh, cả hai «chống lưng» cho «sân sau» của chúng là những tập đoàn tội phạm với bọn ma quyền tham tiền, cả ba lực lượng này khi chúng nhập lại, «chung lưng đấu cật», thì chúng diệt dân chủ, giết nhân quyền, mà không quên truy hủy các nguồn sống, các sức sống đã có mặt trong môi sinh, đang cư trú trong thiên nhiên. Việt Nam hiện nay là một đất nước dùng biển đảo để khai thác du lịch, nhưng những đảo đã có tiếng như Phú Quốc, Côn Đảo, thì tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngọt cũng như tuôn xả nước tiêu dùng ra thẳng biển đang giết du lịch. Các đảo nhỏ xa bờ hơn đang chuẩn bị khai thác du lịch thì cũng đã đi vào con đường ô nhiễm nguồn nước ngọt, tuôn xả nước tiêu dùng ra thẳng biển, chưa kể tới chuyện không xử lý được rác ngay trên sinh hoạt của dân địa phương, tức là chưa phát triển du lịch mà du lịch đã chết trong trứng nước rồi! 

Sự kết hợp hài hòa giữa tiến bộ khoa học, tiến trình phát triển, tiến độ nhân sinh, dẫn tới sự liên minh với môi trường, môi sinh, thiên nhiên không những được tôn trọng như những đối tác, mà chính nhân sinh khi song hành cùng môi sinh, thì sức thông minh của nhân tri sẽ đưa con người tới một lý luận cao hơn là quyền làm người có chân trời, có tương lai trong quyền thiên nhiên, nơi mà môi trường và môi sinh vừa là quyền lợi, vừa là quyền lực của con người, đối với con người! 

Môi trường tự sinh? Môi sinh tự tồn? 


Cuối tháng Tám của năm 2019, Hà Nội vừa bị xếp hạng là thành phố hiện nay đang bị ô nhiễm nhất thế giới; trước tin này người Việt sững sờ khám phá là thủ đô của Việt Nam đang ô nhiễm hơn cả những thành phố của Trung Quốc bị xếp hạng trên hàng đầu những thành phố ô nhiễm nhất bao năm qua. Người Việt vừa có thêm một kinh ngạc mới: không khí trùm phủ trên không gian Việt mang cái độc hại của ung thư cấp vĩ mô, từ cấp vùng đã dần lên cấp quốc gia, với một chính quyền độc tài nhưng hoàn toàn bất tài trong quản lý môi trường. 

Sự vắng bóng các chính sách về môi trường chắc chắn tới từ sự vắng mặt các tri thức về môi trường trong giới lãnh đạo hiện nay, nơi mà độc đảng lãnh đạo vẫn giữ độc quyền sử dụng, khai thác môi trường như khai thác các tài nguyên vô tri, các không gian vô giác, với sự vắng biệt các kiến thức căn bản về hệ sinh thái trên đất nước Việt. Muốn quản lý hệ sinh thái thì không chỉ cần các kiến thức về môi trường học, mà còn cả các tri thức về nhân học nữa! Nếu nhân học nghiên cứu, phân tích, giải thích về sinh hoạt của con người trên môi trường, thì chính con người tác động trực tiếp và làm thay đổi môi trường bằng các sinh hoạt của con người. 

Tri thức đôi (môi trường học và nhân học) hiển nhiên hiện diện trong lập luận các chính sách về môi trường trong các quốc gia trọng môi sinh, quý nhân quyền, bằng sự sáng suốt của dân chủ. Ngay trong ngữ pháp: quản lý môi trường, các chuyên gia cũng rất thận trọng, vì động tự quản lý, quản trị, là ngữ pháp đặt con người lên trên thiên nhiên, nên một liên minh thông minh giữa môi trường học và nhân học là đưa ra ngay trên thượng nguồn các định đề sáng suốt, mang đầy đủ nội lực của nhân tri: 

· Con người muốn bảo vệ môi trường một cách thông minh thì con người phải biết sống chung với môi sinh trong thiên nhiên, nơi đây cụm từ sống chung với các sinh vật khác, từ động vật tới thực vật, mà con người không hề có một quyền sở hữu gì cả trên số phận các sinh vật này. Ngược lại phải tôn trọng từ tự chủ tới tự do, từ tự tồn tới tự sinh của mọi sinh vật trong môi sinh. 

· Con người sẽ biết thích ứng nếu biết sống chung của mọi sinh vật, cụm từ thích ứng của nhân sinh vào môi sinh, giúp con người nhận ra ít nhất ba loại quan hệ có trong môi sinh: quan hệ giữa con người và thiên nhiên, quan hệ giữa con người và các sinh vật trong thiên nhiên, quan hệ giữa các sinh vật, từ động vật tới thực vật có trong thiên nhiên. 

· Con người sẽ biết chia sẻ cùng các sinh vật vì biết thích ứng để sống chung với các sinh vật này, thì chính con người không thể tiếp tục xem thiên nhiên là kho dự trữ lương thực, và các sinh vật này sống trong thiên nhiên này khi gặp con người là bị giết để bị nuốt, bị nhai, bị ăn… mà chính con người phải tìm ra các quan hệ sống chung-thích ứng-chia sẻ với các sinh vật này không còn là mồi mà là các đối tác cùng nhau vừa bảo quản, vừa trông nom môi trường để cùng nhau tự tồn. 

Khi liên minh giữa môi trường học và nhân học hình thành, thì câu chuyện môi trường vẫn chưa được giải quyết, trong ba cụm từ sống chung-thích ứng-chia sẻ, thì động từ làm nên động tác thích ứng mang nhiều ẩn số, trong đó có hai ẩn số cần được mổ xẻ đúng: 

· Tự thích ứng với bản chất môi trường bằng chính nội lực, bản lĩnh, năng khiếu làm nên hiệu quả thích ứng của mình qua từng sinh vật, tại đây thích ứng của một con ó với mọi môi trường từ trời cao tới vực thẳm hoàn toàn khác với một con rùa không có khả năng để bay, không có năng khiếu vượt vực thẳm như ó. 

· Tự thích ứng với mật độ trên môi trường, mà mật độ của các khu vực đông dân hơn 1000 người trong thành thị, không phải là mật độ 1 người trong rừng, nơi mà con người dễ gặp các sinh vật khác hơn là người gặp người. 

Từ hai nhận định trên, môi trường học đề nghị hai phạm trù lý luận: 

· Môi trường trao tặng, tại đây môi trường là không gian trao tặng các nguồn thực phẩm, tài nguyên để các sinh vật sử dụng mà tồn tại, với điều kiện là các sinh vật nhận phải tham gia trọn vẹn để bảo vệ sự tồn tại vững cũng như sự tái sản suất bền của môi trường qua không gian và thời gian. 

· Môi trường của nhiều tổ chức xã hội của nhiều sinh vật khác nhau, tại đây tổ chức xã hội của con người, của động vật, của thực vật rất khác nhau về sinh hoạt, đời sống, quan hệ giữa các thành viên sống cùng một xã hội. chính cụm từ tổ chức xã hội trong môi trường là một chỉ báo khách quan để thấu hiểu các hậu quả của từng xã hội sinh vật lên môi trường. 

Hai phạm trù phân tích này: môi trường trao tặng và môi trường của nhiều tổ chức xã hội, cho ta thấy chính con người đã tạo ra các hậu quả trầm trọng trên không gian của môi trường với các hệ lụy qua thời gian trên môi sinh. Hãy trở lại với câu chuyện tháng Tám của năm 2019, Hà Nội vừa bị xếp hạng là thành phố hiện nay đang bị ô nhiễm nhất thế giới, để lấy ra ít nhất hai kết luận: 

· Môi trường trao tặng không còn đủ lực để trao tặng, mà ngược lại nó mang những độc chất vừa tiêu diệt môi trường, vừa truy hủy mọi môi sinh từ con người tới thiên nhiên, từ động vật tới thực vật. 

· Môi trường của nhiều tổ chức xã hội, nhưng trong tình hình của Việt Nam hiện nay nó đã trở thành một môi trường của một tổ chức xã hội có đầu sỏ là hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn), với đầu nậu là hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền). 

Tương lai Việt sẽ xám tối như thiên nhiên Việt hiện nay, khi môi trường không thể tự sinh, môi sinh không thể tự tồn, khi độc đảng giữ độc quyềnđộc tiền. 

Môi trường án treo, môi sinh tù treo 


Phạm trù lý luận: môi trường án treo, môi sinh tù treo, tới tự nhận định các tai họa từ ô nhiễm tới hủy hoại môi trường, các họa nạn từ truy diệt tới xóa sổ các sinh vật có trong môi sinh. Từ đây, dẫn tới kết luận là con người không thể tái tạo lại môi trường nguyên thủy ban đầu của thiên nhiên, mà con người chỉ có tái tạo thiên nhiên theo hiểu biết giới hạn của con người. Thiên nhiên được con người tái tạo, không còn là thiên nhiên ban đầu, và nó sẽ không bao giờ trở lại nội dung, ý nghĩa, giá trị ban sơ của nó. Tư duy về một thiên nhiên bất di bất dịch, vừa vĩnh hằng vừa phổ quát, thực sự đã không còn, bao năm qua đã không đúng nữa. Hình ảnh thiên nhiên thủa nào là môi sinh của muôn loài, nơi mà các sinh vật sinh sôi nảy nở trong độc lập và tự chủ với các sinh hoạt con người, giờ đây đã hoàn toàn sai: 

· Hãy tìm đến một định đề mới là không có một sinh vật nào hiện nay hoàn toàn độc lập và tự chủ trong môi sinh dưới sự khai thác thiên nhiên của con người trong bao thế kỷ qua. 

· Hãy nhận ra một định luận mới là sinh hoạt khai phá rồi khai thác thiên nhiên một cách triệt để trong phong cách sinh sống và lao động của con người đã biến con người trở thành một chủ lực cột trụ trung tâm, ngày ngày làm thay đổi nội chất của môi trường, như ta đã thấy qua thay đổi khí hậu tạo ra biến hóa rồi biến chất môi trường. 

Nghịch lý càng sâu khi chúng ta tiếp nhận định đề và định luận trên, thì não bộ học, hay còn gọi là khoa học bộ óc, dần đi tới các kết luận về khoảng cách không vô biên như ta đã từng nghĩ về hai loại sinh vật trong thiên nhiên: loại động vật thứ nhất là con người và loại động vật thứ nhì không phải là con người. Và, các khám phá mới của não bộ học đã chứng minh được là nhiều động vật không phải là con người có khả năng sáng tạo, biết chế biến ra kỹ thuật để nâng cao kỹ năng sinh tồn, tới các lý luận biến kinh nghiệm thành tư duy sáng tạo để phát triển chính năng khiếu của chúng trong thiên nhiên. Khi con người trở thành một chủ lực cột trụ trung tâm, ngày ngày thay đổi môi trường, bằng sinh hoạt của nó và chính các sinh hoạt này làm thay đổi khí hậu tới môi sinh, thì con người phải nhận định lại thế nào là một hệ sinh thái mới với vai trò chủ lực của con người. Từ đây, ra đời một nhận định mới, vừa cho môi trường học, vừa cho nhân học: 

· Với các khám phá và ứng dụng của các ngành sinh học, sinh hóa các sinh vật mới đã xuất hiện, từ thực vật tới động vật, nửa thuần giống, nửa nhân tạo. 

· Sự xuất hiện các sinh vật mới, từ thực vật tới động vật, vừa lai giống, vừa lai chất, tạo ra các nhu cầu mới trong một quan hệ mới với môi trường. 

Như vậy lãnh thổ xuất hiện của các sinh vật mới không còn thuần giống mà lai giống đã và đang làm thay đổi môi trường. Mọi sự thay đổi về lãnh thổ hàm chứa một sự thay đổi mới trên biên giới giữa các sinh vật nguyên thủy được xem là nguyên chất, và các sinh vật không thuần chất vì đã lai giống. Đây là thay đổi lớn và sâu, vì con người không thể tiếp tục tư duy và lý luận: thiên nhiên giản dị vì thuần nhất trong một môi sinh thuần chất trong giản đơn. Thay đổi lớn và sâu tạo ra thay đổi rộng và xa trong mọi định nghĩa, định đề, định luận không chỉ cho nhân học mà cho tất cả các chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn. 

Câu chuyện về thay đổi từ lãnh thổ tới ranh giới giữa các sinh vật được xem là nguyên chất có trong nguyên thủy, và các sinh vật không thuần chất vì đã lai giống, cũng có giá trị cho các phân tích vĩ mô. Trong mùa hạ 2019, thế giới xót xa với hàng ngàn đám cháy rừng trong khu vực Amazone được xem là lá phổi của trái đất và được giới thiệu như một loại rừng nguyên sinh. Thực ra, không gian rừng Amazone đã không còn là rừng nguyên sinh, từ hằng ngàn năm nay, với sự có mặt thường xuyên các sinh hoạt của con người sống nhờ rừng và tái tạo lại rừng với quan niệm của nhân sinh không nguyên sinh, không nguyên thủy. Nhưng cùng thời điểm này, chúng ta phải nhận thức thật sắc nhọn một loại hiểm họa khác: cũng trong mùa hạ cuối tháng 8 năm 2019, thảm nạn cháy nhà máy sản xuất bóng đèn Rạng Đông, tại Hà Nội với sức ô nhiễm độc hại của thủy ngân với số lượng cao. Thảm họa của một nhà máy bốc cháy ngay khu dân cư đã tạo ra ô nhiễm rộng lớn ngay trong môi trường của thủ đô, ô nhiễm độc hại không những không khí mà cả mọi sinh vật từ động vật tới thực vật, từ nguồn nước tới con người. Nơi mà hóa chất của thủy ngân đe dọa từ sức khỏe tới tính mạng mọi sinh vật, nơi mà môi trường một sớm một chiều trở thành độc hại với con người đang tiêu thụ cây trái đã bị thủy ngân nhiễm độc. Khi ta trở lại tính tất yếu trong quan hệ giữa môi trường học và nhân học, thì chính chúng ta phải tự đặt ra các câu hỏi sau đây: 

· Khi con người đã trở thành một chủ lực trung tâm ngày ngày làm thay đổi môi trường, thì chính con người phải trả lời cho rõ là con người muốn tiếp tục hay không muốn tiếp tục xem môi trường là đối tác có tầm quan trọng tuyệt đối từ sinh sống tới sinh hoạt, từ sống còn tới sống sót của con người trên trái đất này hay không? 

· Khi trả lời được câu hỏi này, thì chính con người phải trở lại các quan niệm của các cộng đồng sắc tộc nguyên thủy đã sống nhờ, sống dựa vào thiên nhiên và đã từ lâu xem mọi sinh vật, từ động vật tới thực vật, ngang hàng với con người, như con người

Xem mọi sinh vật ngang hàng với con người, như con người không hề là một bước lùi của nhân sinh, mà chính là sự thông minh của nhân tri luôn là chỗ dựa cho nhân loại. 

Nhân học môi trường trong nhân bản môi sinh 


· Nhân học khi nghiên cứu về môi trường trao tới nhân lý một nhân tri để cảnh giác nhân loại: sự cẩn trọng trước lòng tham hiện tại của con người khi nó muốn khai thác triệt để thiên nhiên, nạo vét tài nguyên, truy hủy môi trường, xóa diệt môi sinh. Hãy định nghĩa để định luận về lòng tham hiện tại, từ ăn tươi nuốt sống bằng nghiến rừng, nuốt đất với thái độ ăn cháo đá bát khi tài nguyên của thiên nhiên bị cạn kiệt, với hành vi bây chết mặc bây với những hậu quả của ô nhiễm. 

· Nhân học khi khảo sát về môi trường trao tới nhân tri một nhân trí để cảnh báo nhân thế: tương lai của nhân loại không hề là sự nối dài tự nhiên một cách máy móc từ hiện tại tới vị lai, từ hôm nay tới ngày mai, mà tương lai của nhân sinh là chân trời trong đó có kết quả của lương tri hoặc hậu quả của vô tri; với những hiệu quả của nhân bản hoặc với bao hệ lụy của vô minh. Vì vô giác với môi trường, vô cảm với môi sinh, lại còn khai thác bừa bãi, vô tội vạ, vơ vét tài nguyên cho tới khi môi trường gục ngã, môi sinh đuối quỵ, thì chân trời sẽ xám tối rồi đen nghịt để đưa con người vào thẳng cõi âm của cái chết! Chết trong vô tri, vô minh, vô giác, vô cảm là một cái chết xấu, tồi, tục, dở, tới từ cái tội thâm, độc, ác, hiểm với môi trường và môi sinh. 

· Nhân học khi điều tra về biến đổi môi trường song hành cùng thay đổi khí hậu gởi tới nhân văn một nhân lý để cảnh cáo nhân gian là sự sống làm nên sức sống nhờ môi trường sạch với môi sinh lành, kết tụ ra nhân tính với ít nhất ba kết luận: trái đất trong tương lai (rất gần) là: dễ sống hay khó sống. Cụ thể là sống được hay không sống được, mà câu trả lời là thái độ của nhân loại đối xử ra sao với môi trường sống của mình. Nếu trong thế kỷ qua nhân lý giúp nhân loại đã lột mặt nạ bạo hành của thực dân, bạo động của đế quốc trên môi trường, thì chính quyền và lãnh đạo chính trị hiện nay phải quyết đoán trong quyết sách bảo vệ đất-nước, nơi mà tiền đồ của tổ tiên, tương lai của các thế hệ mai hậu không ngừng ở con người, mà phải mở rộng, mở sâu, mở cao ra quan niệm về Việt tộc không những là dân tộc Việt mà còn là môi trường Việt luôn song hành, song đôi, song lứa, đồng hội đồng thuyền, cùng đồng bào Việt. 

· Nhân học sẽ có cùng một định hướng với môi trường học khi cả hai đề nghị phân tích và giải thích môi trường và môi sinh bằng những hệ thống của quan hệ: quan hệ giữa con người và thiên nhiên, quan hệ giữa các sinh vật có mặt trên trái đất, quan hệ giữa con người và sinh vật cùng nhau tác động trên môi trường. Đây vừa là môi trường của tri thức của nhân sinh, mà còn phải là môi trường về nhận thức qua giáo dục. Trước thảm cảnh môi trường bị tàn phá, môi sinh bị hủy diệt, từ vô tri thức tới vô trách nhiệm của chính quyền do ĐCSVN lãnh đạo, thì ngược lại tại các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền, họ đã đưa vào giáo dục, giáo khoa, giáo trình những hệ thống của quan hệ giữa con người và sinh thái. Bi kịch của độc đảng, qua độc tài nhưng bất tài, độc trị mà không biết quản trị môi trường là đây. Sau gần nửa thế kỷ lấy độc quyền để tự độc tôn đã biến quê hương gấm vóc thành một bãi rác độc hại, ngày ngày ung thư hóa môi trường của Việt tộc. 

· Nhân học khi chung lưng đấu cật với môi trường học thì các phân tích và giải thích của khoa học thực nghiệm, từ sinh học tới hóa học, đã và sẽ giúp con người định vị lại để định nghĩa lại thế nào là con người? Tại đây, con người không phải là một thực thể độc lập với các thành tố hoàn toàn tự chủ và tự lập để tự cấu tạo ra nó. Mà trong con người có sự hiện hữu của các sinh vật khác, từ vi khuẩn tới vi trùng, cùng nhiều tạo chất khác mà các sinh vật khác, từ động vật tới thực vật, cũng có. Nên con người không hề đứng biệt lập, không hề đứng ngoài hoặc đứng cạnh, đứng cao hơn hệ sinh thái mà con người đang sống, mà con người chỉ là một phần tử, một bộ phận của hệ sinh thái. 

· Nhân học khi đồng hội đồng thuyền với môi trường học, thì mọi chủ thể yêu môi trường, mọi công dân trọng môi sinh sẽ có cùng một nhận thức là con người chỉ là một mắc xích trong một chuỗi dây chuyền với nhiều quan hệ, vừa phức tạp và vừa chằng chịt trong hệ sinh thái; mỗi chuyển động của một mắc xích sẽ có hậu quả dây chuyền, có hệ lụy trong hiện tại và tương lai. Giáo lý tổ tiên Việt dạy con cháu bứt dây động rừng với các quy luật nhân quả, từ vi mô tới vĩ mô, song hành cùng các giáo lý ăn ở có hậu, với uống nước nhớ nguồn mà uống nước của môi trường thì phải nhớ bảo vệ môi trường. Rồi ăn quả nhớ kẻ trồng cây và ăn quả của môi sinh thì phải bảo trì, bảo quản cho bằng được môi sinh; biết luôn ăn cây nào rào cây nấy, mà động từ rào của sự thông minh là hành động có ý thức biết bảo vệ sự sống, chớ không hề là thái độ ích kỷ hoặc hành vi vụ lợi của riêng ai, khai thác môi trường và tận dụng môi sinh cho riêng mình. 

Nhân học khi biết đồng kham cộng khổ cùng môi trường học để thấu hiểu các hậu quả độc hại trên môi trường do ô nhiễm tới từ các sinh hoạt của con người chỉ biết khai thác môi trường mà không biết bảo vệ môi sinh. Tại đây, nhân học môi trường học cũng nên từ bỏ quan niệm riêng-chung, trong đó cái riêng là sở hữu của một người, cái chung là sở hữu của mọi người; cái riêng là tư lợi, cái chung là công ích. Từ bỏ quan niệm riêng-chung để đi tới quan niệm chia-chung, trong đó cái riêng trong tư hữu riêng cá nhân có gốc, rễ, cội, nguồn từ cái chung của một môi trường tổng thể. Và khi con người muốn cái riêng của tư lợi không triệt hạ cái chung của môi trường thì con người phải có các định chế và các cơ chế, nơi mà các tập thể, các cộng đồng, các quốc gia phải xem xét và phán quyết bằng khoa học và luật pháp: các phương án sử dụng môi trường, các phương pháp vận dụng môi sinh, từ riêng tới chung. Sử dụng môi trường mà không triệt dụng, vận dụng môi sinh mà không hủy dụng, vì triệt dụng và hủy dụng đều là tội ác triệt hủy môi trường. Nhân học cùng môi trường học phải biết tổ chức lại kiến thức để tư duy cách khác, mà cách khác này tới từ quá trình của nhận thức là: con người sống sót trong môi trường gục, trong môi sinh chết thì chỉ là con người đã nhận số phận của âm binh! 

Chung để chia và chia để chung 


Nhân học môi sinh trên đường đi tìm lý thuyết luận, phương pháp luận, khoa học luận cho mình, thường xuyên gặp hai kinh nghiệm tri thức, như hai loại chủ thuyết luôn đối chọi, kình chống, xung đột nhau trong thế kỷ qua: 

· Chủ thuyết con người chủ đạo, khai phá rồi khống chế thiên nhiên, chủ động rồi chủ yếu trong vai trò khai thác thiên nhiên, chế ngự để quản lý môi trường, con người tự cho mình vị thế trên cao để điều chế môi sinh. 

· Chủ thuyết con người không chủ yếu, mà vai trò chủ yếu thuộc về thiên nhiên trong đó con người chỉ là một phận tử của hệ đa sinh thái và các sinh vật không con người, dù lớn dù nhỏ, đều có giá trị sống và quyền sống như nhau. 

Hai chủ thuyết này vẫn tồn tại trong thế kỷ này, một bên là con người được quyền tiếp tục khai thác thiên nhiên, một bên khuyên răn con người nên trở lại thái độ minh triết của các cộng đồng nguyên thủy là sống nhờ thiên nhiên nhưng tôn kính môi sinh, tôn trọng môi trường, không khai thác thiên nhiên đến kiệt quệ, quỵ gục. Hai chủ thuyết với hai định đề gần như trái ngược nhau, và cả hai đều lộ ra những khuyết điểm trong phân tích về môi trường, những khuyết điểm này với hiện trạng của môi trường hiện nay đã trở thành những khuyết tật trong phương pháp giải thích của chúng, chúng ta có các thực chứng sau đây: 

· Tài nguyên trong thiên nhiên không vô hạn, và khi con người khai thác tài nguyên trong thiên nhiên, thì chính con người gây ít nhất hai hậu quả: ô nhiễm môi trường và truy diệt môi sinh, đây chính là nhược điểm chính của chủ thuyết con người chủ đạo

· Thiên nhiên ban đầu thủa nguyên thủy không thể tái tạo lại được nữa, và nếu có thể tái tạo được, thì sinh hoạt để sinh sống của con người cũng sẽ tiếp tục làm cho môi trường thiên nhiên nguyên thủy này thay đổi, biến dạng, đây chính là các nhược điểm chính của chủ thuyết con người không chủ yếu. 

Những chủ thuyết không vượt qua được các khuyết điểm, các nhược điểm của chính nó, thì từ đây nhân học môi sinh phải khẳng định hai định đề chủ lực của nó: 

· Sẽ không có một môi trường thiên nhiên nguyên thủy, cũng như sẽ không có một môi trường thiên nhiên không bóng người sống nhờ thiên nhiên. 

· Trong lịch sử của thiên nhiên, cũng như trong lịch sử của con người, luôn có cùng một mẫu số chung là con người sống trong môi trường thiên nhiên, và môi trường thiên nhiên thay đổi, biến hóa cùng con người, cả hai tạo ra một tổng thể chung để chia chia để chung

Khi có nhận thức về hai định đề này thì chính nhân học môi sinh phải đi sâu hơn về một diễn luận sẽ làm nên nội công, bản lĩnh, tầm vóc của nó: 

· Trong môi trường thiên nhiên, có hai loại sinh vật: con người và các sinh vật không phải con người; và con người khi vận dụng kiến thức tri thức của nó để đưa khoa học kỹ thuật vào thiên nhiên, thì chính con người phải có ý thức bảo vệ môi trường, phải có nhận thức bảo trì môi sinh. 

· Khi con người có đầy đủ hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức) làm nên nhân tố quyết định sự sống còn và sống sót của môi trường thiên nhiên, thì chính con người phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, có bổn phận bảo trì môi sinh. 

Hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức) này không đơn độc, cô lẻ, mà luôn có ít nhất ba chỗ dựa của nhân đạo: 

· Đạo lý bảo vệ cái đẹp của thiên nhiên. 

· Đạo đức bảo quản cái hay của môi sinh. 

· Luân lý bảo trì cái sạch của môi trường. 

Cả ba: cái đẹp, cái hay, cái sạch không phải là những danh từ suông, không phải là những tính từ buông, mà chính là tiêu chuẩn làm nên mô thức của con người để có đối xử đẹp thiên nhiên, có ứng xử hay với môi sinh, có hành xử sạch với môi trường để được sống còn, sống sót cùng lực bảo vệ được nhân phẩm của chính mình. Trong thảm trạng của môi trường Việt hiện nay ngày ngày và dần dần đưa Việt tộc vào một thảm họa môi trường, vào một thảm nạn môi sinh, công dân Việt phải là chủ thể Việt có trách nhiệm bảo vệ môi trường, có bổn phận bảo trì môi sinh, yêu cầu: 

· Bạo quyền độc đảng hiện nay phải tôn trọng đạo lý bảo vệ cái đẹp của thiên nhiên. 

· Tà quyền tham quan hiện nay phải tôn trọng đạo đức bảo quản cái hay của môi sinh. 

· Ma quyền tham đất, tham tài nguyên phải tôn trọng luân lý bảo trì cái sạch của môi trường. 



*** 

Lê Hữu Khóa: Giáo sư Đại học Lille* Giám đốc Anthropol-Asie *Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á *Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO–Liên Hiệp Quốc *Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris.*Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á* Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới. Các công trình nghiên cứu Việt Nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét