Thứ Ba, 15 tháng 10, 2019

Lê Hữu Khóa: MÔI SINH & NHÂN SINH - Ai diệt môi trường? Ai giết môi sinh? (Tiếp theo)

PHẦN 4.
Môi sinh có điều kiện 


Tại sao lại nhân học môi sinh có điều kiện? Đây là quá trình nhận thức của môi trường học và nhân học đã tới cùng một một kết luận là: môi trường không vô tận mà hữu hạn, chính tính hữu hạn này đã thành một điều kiện, mà điều kiện tới như một định đề là con người đang sống với các điều kiện khắt khe của môi trường, nhân loại không thể tiếp tục sinh hoạt với hành vi tiêu xài hoang phí tài nguyên, khai thác vô tội vạ các sinh vật trong môi sinh. Nhân học môi sinh có điều kiện yêu cầu khoa học môi trường xem lại các định đề cứng ngắc của nó, chẳng hạn như thuyết tuyển chọn trong sinh tồn của Darwin, nơi mà mạnh được yếu thua được coi như chuyện dĩ nhiên, không cần xem lại. Nhưng trong thực tế của môi trường, thì mỗi sinh vật có lực thích ứng riêng, có sức sinh tồn riêng, và các sinh vật này biết tạo ra các quan hệ ngày càng tinh vi, ngày càng hữu hiệu để sống sót trong môi trường mà không mà bị các sinh vật khác «ăn tươi nuốt sống» qua quy luật «cá lớn nuốt cá bé». Nhưng chính chúng đã, đang bị con người truy diệt. 

Sức liên minh thông thái giữa môi trường học và nhân học là tổng kết được năng khiếu sinh sống, năng lực sinh tồn của tất cả các sinh vật có mặt trong thiên nhiên để rời các định đề giản đơn thắng làm vua, thua làm mồi. Mà môi trường học và nhân học phải đi tới một định đề mới của một khoa học mới là khoa học môi sinh trong đó mỗi sinh vật mang đặc tính sinh tồn với vô số quan hệ phức tạp với môi sinh của nó, cùng với vô vàn quan hệ phong phú giữa các sinh vật biết dựa nhau mà sống. Đây là một không gian trí thức mà các sinh vật biết vận dụng sự thông minh tập thể để sống còn, chớ không phải sự ích kỷ trong vụ lợi của các sinh vật chỉ biết sát hại nhau, để khống chế môi trường, để hủy hoại môi sinh. Nhân học môi sinh có điều kiện đặt nền tảng của điều kiện môi trường song đôi để song hành cùng các sinh hoạt của con người, và từ đây con người không được khai thác, truy hủy, tận dụng thiên nhiên một cách vô điều kiện như đã làm trong quá khứ. Trong quan hệ có điều kiện mới này, tự do của con người không vô hạn, sinh ra vô trách nhiệm với môi trường, mà là một quan hệ trong đó điều kiện trong sinh tồn đôi (môi trường và con người). Thí dụ về biến đổi khí hậu là một thí dụ rất cụ thể, con người đã có nhận thức là biến đổi khí hậu hiện nay làm thay đổi sâu xa môi trường, và con người cũng nhận ra là tri thức con người hiện nay không đủ để giải thích: 

· Sự vận hành đôi, một bên là sự tổ chức môi sinh; một bên là sinh hoạt của con người, cả hai tác động qua lại nhưng yếu tố nhân sinh ngày càng áp đảo môi trường, để rồi môi trường hiện nay chính là nạn nhân trực tiếp của con người. Tại đây, con người vẫn chưa có ý thức đầy đủ về những tác hại mà chính mình gây ra trên môi trường, nhất là những hậu quả và hệ lụy dài hạn mà thước đo là hàng trăm, hàng ngàn năm. 

· Sự biến đổi đôi, một bên là môi trường ngày ngày bị con người sử dụng, tiêu sai, đi từ thay đổi này tới biến đổi khác; một bên là con người vừa tăng về dân số, người ngày càng đông; vừa tăng về năng suất kỹ thuật, luôn có hiệu năng mạnh với hiệu quả cao trong quá trình khai thác môi trường. 

Khi đi tìm các mối quan hệ giữa sự vận hành đôi sự biến đổi đôi, con người lại có một ý thức mới là con người không thể xử lý, giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay bằng các phương pháp địa phương, cục bộ, mà biến đổi khí hậu hiện nay là một bài toán cho cả nhân loại trên bình diện toàn cầu. Để có đáp số đúng cho bài toán này, thì con người cần một chính sách tổng thể như một quyết sách toàn diện cho cả thế giới trước ẩn số biến đổi khí hậu này, trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Nhân học môi sinh khi được trợ lực bởi môi trường học, và cả hai được trợ giúp bởi các chuyên ngành của khoa học thực nghiệm, từ địa chất học tới sinh học… sẽ giúp con người nhận thức ra là: 

· Sự đối diện rồi đối đầu giữa con người và thiên nhiên trong lịch sử của trái đất với thói quen, phản xạ của con người là dùng kỹ thuật để khuất phục rồi khai thác triệt để thiên nhiên, đây là một sai lầm! Cái sai lầm này có thể dẫn con người tới sự suy vong, rồi diệt vong ngay trên trái đất này. 

· Sự tương quan chằng chịt và chằng chéo của vô số sinh vật trên tổng thể môi sinh của trái đất vẫn là những ẩn số đối với con người, cụ thể là con người chưa có đầy đủ, toàn bộ các kiến thức và tri thức về muôn vàn mối tương quan giữa các sinh vật không phải là con người. Mà trong vô vàn mối tương quan này, có nhiều mối tương quan rất cần thiết cho hệ sinh thái cũng như cho chuyện sinh sống và sinh tồn của con người trong vũ trụ này. 

Chính hai nhận định trên sẽ giúp con người khiêm tốn để nhún nhường hơn mà bỏ đi ba thái độ, ba hành vi đối với môi trường và môi sinh: muốn khai thác gì thì cứ khai thác, muốn hủy diệt gì thì cứ hủy diệt, muốn làm gì thì cứ làm. Con người nên bỏ, loại, khử, trừ ba thái độ, ba hành vi này càng sớm càng tốt, đừng để quá trễ, để khi hối hận thì mọi chuyện đã rồi, con đường chết chùm đến mà không sao thoát được. Trước mắt, đối với Việt tộc cuộc đấu tranh vì môi trường phải được mở ra ngay, trong đó mỗi công dân là một chủ thể bảo vệ môi trường, bảo quản môi sinh, lấy đạo lý của bổn phận để bảo trì tiền đồ trong sạch của cha ông, và chấp nhận chiến đấu ít nhất bốn mặt trận cốt lõi: 

*Chống bạo quyền độc đảng đã thô bạo hóa môi trường, độc tài nhưng bất tài trong trách nhiệm bảo vệ môi trường của Việt tộc, đã chống lưng cho tham quan, đã nhận hối lộ của các ma quyền sân sau, đã nhắm mắt-cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước Tàu tặc

*Chống tà quyền tham quan đã bẩn thỉu hóa môi trường, tham quyền để tham ô, tham nhũng vì tham tiền, đây là loại ký sinh trùng sâu dân mọt nước. Nay chúng buôn rừng bán biển, mai chúng buôn dân bán nước, vì chúng đã tà nghiệp trong điếm lộ. 

*Chống ma quyền tham quan là bọn đầu cơ môi trường, đầu nậu môi sinh, chủ thầu các công trình mượn xây cất để truy diệt môi sinh, chúng tham đất vì tham tiền, đây là loại âm binh vừa hút máu người, cướp đất dân lành biến họ thành dân oan, vừa ăn tươi nuốt sống môi sinh, tận diệt môi trường xanh của dân chúng. 

*Chống Tàu tặc của hoạn tham, tham tài nguyên trên đất Việt, với hành vi Tàu nạn ô nhiễm hóa môi trường Tây Nguyên tới Formosa, Tàu hoạn từ thực phẩm bẩn tới hóa chất độc, với hành động Tàu họa từ nhiệt điện tới thủy điện… Đây là bọn phỉ kiếp trong hoạn lộ, chúng nắm cổ, xỏ mũi ĐCSVN để cướp đất, biển, đảo của Việt tộc. 

Khử trục lợi, bỏ vụ lợi, buông tư lợi 


Trong lịch sử của mình, con người không chỉ định cư trên trái đất, mà định cư bằng sinh hoạt khai thác thiên nhiên, tận dụng môi trường, rồi tư hữu hóa tài nguyên, đến chiếm đoạt môi sinh mà cách sử dụng chỉ theo ý thích, ý muốn, ý đồ của con người, mà không theo một quy luật phân chia hay chung chia với bất cứ sinh vật nào. 

Trên thực tế của môi trường hiện nay, con người khám phá ra là chính con người đã biến trái đất tự một môi trường dễ sinh sống thành một môi trường ngày càng khó sinh sống, với ô nhiễm từ không khí trên cao tới các nguồn nước sâu dưới đất. Từ dễ sống tới khó sống bởi chính các sinh hoạt của con người tự gây ra ô nhiễm, với tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, đây chính là sự thất bại vừa bất ngờ, vừa kinh hoàng của con người đã tự chặn con đường sống của mình. Từ đây sinh ra nhân học môi sinh, để thấy cho thấu sự thất bạị này, và tỉnh táo trong sáng suốt để cùng các ngành khoa học khác mà đi tìm một lối ra, một lối thoát, để thoát chết bởi chính các tai họa do mình tạo ra! 

Sự thật về chuyện ngày càng khó sống ta thấy rõ từng ngày, từng giờ: 

· Biến đổi khí hậu, với nhiệt độ tăng cùng các thảm họa hỏa hoạn. 

· Biến đổi khí hậu, với nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt, sạt lở… 

· Biến đổi khí hậu, với nhiệt độ tăng cùng biến đổi môi sinh. 

Khi con người trở thành yếu tố có mãnh lực quyết định sự sống còn của thiên nhiên, tài nguyên, môi trường, thì cũng cùng lúc con người đưa các hóa chất mới cùng các sáng tạo sinh học mới vào đời sống con người, rồi tác động thẳng lên đời sống của các sinh vật khác không phải là con người, nhưng cùng chung chia với con người một môi sinh, đó là sự xuất hiện của: 

· Thuốc trụ sinh trực tiếp thay đổi các kháng thể, tác động từ canh nông qua chăn nuôi, từ động vật tới thực vật… 

· Hóa chất chống rầy để bảo vệ canh tác, cùng lúc diệt nhiều sinh vật khác, biến truy diệt hệ đa sinh thái trong môi trường. 

· OGM, dùng khoa học để đổi giống, biến chất các sinh vật, và các sinh vật mới lai giống này tạo ra các hậu quả mới cho các sinh vật đã sống từ lâu trong môi trường ban đầu. 

Chưa hết, cũng chính con người trên con đường từ sử dụng tới tận dụng thiên nhiên, từ vận dụng tới tư dụng môi sinh, đã đi ngày càng sâu vào tự-dụng-vì-tự-lợi của riêng nó, khi con người biến rừng thành đất canh tác với sự tham gia của các công nghệ nặng. Rồi biến đất canh tác đa dạng biết tôn trọng hệ đa sinh thái của thiên nhiên thành đất chỉ canh tác một loại hoa màu, mà chọn lựa hoa màu chỉ dựa vào lợi nhuận của kẻ đầu tư, không hề có sự tôn trọng hệ sinh thái nguyên thủy. Lịch sử con người từ khi con người biết đi thật xa để tìm tài nguyên trong thiên nhiên tới khi xuất hiện chế độ thực dân có biệt tài là: khai phá, khai quật, khai thác các tài nguyên trong thiên nhiên cho đến khi cạn kiệt, bất chấp ô nhiễm, giúp chúng ta nhận ra một định đề là: những chế độ, những chính quyền, những lực lượng sinh hoạt và sinh sống qua qua trình truy cùng diệt tận môi trường và môi sinh là những tội phạm làm một lúc hai tội ác: 

· Tội ác trên môi trường và môi sinh, với ô nhiễm từ khí tầng tới địa tầng. 

· Tội ác trên đa số nhân loại đã mất môi trường và môi sinh để sinh sống. 

Loại tội ác đôi này, ngày ngày ta thấy rất rõ trên môi trường Việt, với bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham đất, dùng bạo luật với bạo hành của loài trộm, cắp, cướp, giật từ đất đai tới tài nguyên, và bất chấp môi sinh đang quỵ gục, môi trường đang hấp hối. 

Khi con người trở thành yếu tố có mãnh lực quyết định sự sống còn của thiên nhiên, tài nguyên, môi trường, môi sinh mà tên gọi khoa học của nó là anthropocène, thì ta cũng đừng quy chụp bừa bãi và chung chung là lỗi của con người! Không đâu, đây là lỗi của các hệ thống, các chế độ chỉ biết khai thác môi trường để trục lợi, chỉ vì tư lợi của chúng; và đa số con người trong nhân loại không phải là tác giả mà thường là nạn nhân của các hệ thống, các chế độ chỉ biết bòn rút rồi vơ vét tài nguyên, chỉ biết đốt rừng để cướp đất… Và khi ta nêu tên các hệ thống, các chế độ và nếu ta biết đào sâu hơn nữa trên phân tích này, thì ta sẽ giải thích được là từ thực dân tới cộng sản, chỉ cùng một ý đồ đã thành ý thức hệ là kẻ cầm quyền lực là những kẻ trục lợi hóa thiên nhiên, vụ lợi hóa môi trường, tư lợi hóa môi sinh. 

Nhân học môi sinh là nhân học có ý thức thượng nguồn về các tai họa truy diệt môi trường, để có nhận thức hạ nguồn về chính giòng sinh mệnh của nhân loại còn hay mất môi trường. Từ đây, nhân loại phải vận dụng tối đa hệ thức: kiến thức tạo tri thức, ý thức sinh nhận thức, để phải tỉnh thức mà tìm ra một cách sống mới, tức là một cách quan hệ mới (trong, sạch, lành, mạnh) với môi trường và môi sinh: cách sống mới trong quan hệ mới với khả năng áp dụng và ứng dụng hệ thức trên không gian rộng nhất của nhân loại, qua thời gian dài nhất của nhân sinh, trong đó mọi cộng đồng, mọi sinh vật được hưởng đầy đủ hệ thức này để cùng nhau sinh tồn trên cùng một trái đất. 

Tri thức thực dụng, thực thể hữu hạn 


Khi chúng ta nhận ra có hai yếu tố làm thay đổi thiên nhiên, biến đổi môi trường: 

· Các sinh vật không phải con người, cần thiên nhiên để sinh sống, cần môi trường để sinh tồn (động vật và thực vật.) 

· Các sinh vật là con người, cần thiên nhiên để sinh sống nhưng cùng lúc chế ngự thiên nhiên để làm chủ thiên nhiên, cần môi trường để sinh tồn, vừa tiêu thụ, vừa sử dụng động vật và thực vật. 

Tại đây, khi nghiên cứu về thiên nhiên, về môi trường, thì chính nhân học (anthropologie) sẽ giúp chúng ta nhận ra trong sự phân biệt con người và không phải con người (động vật, thực vật) khi cả hai sử dụng thiên nhiên để sinh sống, môi trường để sinh tồn: 

· Tri thức thực dụng, nơi mà con người dùng kiến thức để sử dụng rồi tận dụng thiên nhiên không những qua canh tác nông nghiệp, phát triển công nghiệp, biết vận dụng tri thức để xếp hạng, tuyển chọn các sinh vật hữu dụng cho con người. Chính thực dụng chủ nghĩa của nhân sinh dựa trên kiến thức và tri thức với vai trò chủ đạo của khoa học và kỹ thuật đã đặt con người vào vị thế của một chủ thể tuyệt đối có thực chất và tiềm năng kiểm soát để tận hưởng thiên nhiên và môi trường. Tận hưởng theo nghĩa đẹp của nhân trí là biết thăng hoa cùng thiên nhiên, cũng theo nghĩa xấu của nhân sinh khai thác và tàn hủy vô tội vạ thiên nhiên và môi trường. 

· Luân lý nhân tri, nơi mà con người khác các sinh vật khác là động vật và thực vật, vì con người có đạo lý để có ý thức về những gì hay, đẹp, tốt, lành, từ đó có luân lý qua bổn phận đối với môi trường sống của mình, và có trách nhiệm với các sinh vật có mặt trong môi sinh cùng chung sống với mình. Chính cả hai nhận thức của đạo lý và luân lý làm nên đạo đức biết bảo vệ môi trường như chính bảo vệ mạng sống của mình, bảo trì môi sinh như chính bảo hành tương lai của mình. 

Khi ta kết hợp hai phân tích: tận hưởng theo nghĩa xấu của nhân sinh là khai thác và tàn hủy vô tội và thiên nhiên và môi trường với nhận thức của đạo lý và luân lý làm nên đạo đức biết bảo vệ môi trường như chính bảo vệ mạng sống của mình, bảo trì môi sinh như chính bảo hành tương lai của mình. Tại đây, ta sẽ nhận ra một định đề cối lõi của môi trường, trong đó môi sinh là không gian của đa dạng sinh vật, vô cùng phong phú, nhưng chính sự của đa dạng sinh vật phong phú này không hề vô tận về lượng, vô biên về chất, mà nó hữu hạn, ngày càng giới hạn. Và thực thể hữu hạn này, thực trạng giới hạn này của môi trường ngày ngày tùy thuộc cách sử dụng, tận dụng, vận dụng môi trường của con người biết hay không biết tôn trọng thiên nhiên, tôn kính môi trường. Cũng từ đây, chúng ta cần phải thận trọng hơn khi chúng ta tạo ra ranh giới (có khi thiển cận, có khi giả tạo) giữa con ngườithiên nhiên, trong đó các ngành khoa học xã hội và nhân văn có những nhược điểm về kiến thức mà nếu không biết khắc phục sẽ thành khuyết tật về tri thức: 

· Khi KHXHNV phân biệt con người có văn hóa và thiên nhiên không có văn hóa, mà chính ngữ pháp văn hóa, cho ta hiểu là chỉ có con người mới có văn minhvăn hiến. 

· Khi KHXHNV phân biệt con người có văn hóa cùng văn minh và văn hiến với thiên nhiên ở dạng vô tri, vô minh, vô giác, tức là không có kiến thức lẫn tri thức, không có ngôn ngữ để truyền thông và tư tưởng để lý luận, lập luận. 

Nhưng trong thực tế, thì con người chưa hề sống biệt lập với thiên nhiên, tách biệt với môi trường, tại đây trong phân loại của nhân học về các xã hội của con người chúng ta có ít nhất hai loại tổ chức xã hội: 

· Xã hội con người sống cùng thiên nhiên, nơi mà môi trường là nơi chung sống của con người và thiên nhiên, tại đây từ lịch sử tới văn hóa, con người có đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội trong chung-và chia với thiên nhiên. Hiện nay, nhân loại vẫn có và còn rất nhiều xã hội canh tác cùng thiên nhiên, sống nhờ và sống dựa vào thiên nhiên với truyền thống, với giáo dục. 

· Xã hội con người sống biệt lập với thiên nhiên, nơi mà quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa song hành, đưa con người ra ngoài, ra xa thiên nhiên. Đây cũng là giai đoạn mà con người khai thác, tận dụng các tài nguyên thiên nhiên, cùng lúc gây ô nhiễm môi trường, gây ra những đại họa trên và trong thiên nhiên. 

Trở lại các giai đoạn lịch sử trong quan hệ giữa con người và thiên nhiên, để nhận ra quá trình ý thức của con người bằng kiến thức về môi trường, bằng tri thức về môi sinh, với nhận thức là con người không thể sống còn, nếu môi trường không thể sống còn. Con người bảo vệ môi trường là bảo vệ mạng sống và số kiếp của chính mình. Thảm kịch của Việt tộc hiện nay là một dân tộc đang bị giết cùng môi trường của mình bởi một tập đoàn lãnh đạo bạo quyền độc đảng, độc tài nhưng bất tài, độc trị nhưng không biết quản trị môi trường. Đất nước Việt đã bị biến thành một bãi rác khổng lồ mà gần như toàn bộ trên đất nước, vùng nào cũng bị nhiễm ô từ nguồn nước, lòng đất tới không khí. Các bãi rác kinh hoàng được thải ra vô tội vạ ngay giữa thôn quê và trong thiên nhiên, bụi tro bay trùm phủ và gây bệnh cho mọi sinh vật, động vật và con người. Một bạo quyền độc đảng, sánh vai với tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền đã âm binh hóa môi trường, đã ung thư hóa dân tộc! 

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét