Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2019

Lê Hữu Khóa: MÔI SINH & NHÂN SINH - Ai diệt môi trường? Ai giết môi sinh?

PHẦN 3.
Sự sống: vẫn sống được? Khó sống được? Không thể sống được?


Khi nhân học môi sinh biết dựa vào các kết quả khoa học về môi trường, thì chính nhân học môi sinh này phải cẩn trọng ngay trong ngữ văn và ngữ pháp trên các phân tích và giải thích về các hậu quả mà môi trường phải gánh chịu với sự khai thác, tiêu xài, phá hoại của con người:

· Ô nhiễm môi trường chỉ là một phần tử của tổng thể về biến đổi môi trường trong đó có biến đổi khí hậu, với nhiệt độ tăng lên, từ đây nếu nóng thêm vài độ hay nóng thêm hằng chục độ thì trái đất sẽ ra sao? Từ đây, con người phải trả lời là tăng bao nhiêu độ thì vẫn sống được? Khó sống được? và không thể sống được? Đây là câu hỏi về sự sống đang bị đe dọa bởi nhiệt độ tăng.

· Khủng hoảng môi trường, cũng là một ngữ pháp cần sự nghiêm túc trong lý luận, vì theo định nghĩa thì khủng hoảng là hậu quả xấu làm nên một chu trình tiêu cực, và khi các hậu quả xấu qua đi thì tình trạng ban đầu sẽ trở lại như lúc đầu. Như vậy phạm trù khủng hoảng môi trường đã sai ngay khi ta dùng nó, vì nhân loại đã vào một quy trình mới sau khi làm thiệt hại môi trường, và con người sẽ không còn có điều kiện để tái tạo lại môi trường khi nó chưa bị thiệt hại, chưa bị tàn hủy.

· Thay đổi kỹ thuật khai thác, cũng là một loại ngữ pháp mang nhiều nhược điểm, vì thay đổi kỹ thuật khai thác hoặc canh tác, tức là chỉ thay đổi cách vận dụng, sử dụng, tận dụng thiên nhiên, mà không hề làm thay đổi những gì đã mất trong môi trường, trong môi sinh, trong thiên nhiên. Như vậy, những sinh vật bị diệt chủng sẽ là những mất mát vĩnh viễn, không sao lấy lại được.

Khi nhân học môi sinh cẩn trọng từ ngữ văn tới ngữ pháp, thì chính nó cũng rất nghiêm túc từ lý luận tới lập luận, từ giải luận tới diễn luận, trước những thực trạng nhân sinh sau đây:

· Lịch sử xây dựng của con người từ công nghiệp tới đô thị, từ khoa học tới kỹ thuật, trong đó chức năng và vai trò của kim loại được xem như là chủ chốt, vì vắng bóng kim loại con người sẽ không có tiến bộ như ngày nay. Như vậy, hãy đưa ra một lập luận là con người có chấp nhận là sẽ không khai thác kim loại trong thiên nhiên nữa hay không? Con người có hay không khả năng chế biến kim loại mà không tiếp tục ô nhiễm nữa hay không?

· Quá trình tăng trưởng kinh tế song hành cùng tiến bộ của khoa học kỹ thuật, là một quá trình của một hệ thống dây chuyền, và ta biết là khi tổng sản lượng chỉ xuống vài phần trăm, sẽ có tức khắc bao nhiêu sinh hoạt của con người sẽ phải chịu xuống nhiều hơn vài phần trăm, rồi kéo lôi nhân loại vào chu trình suy trầm rồi suy thoái, kế đến là khủng hoảng triền miên. Con người có chấp nhận một hệ thống kinh tế, khoa học, kỹ thuật, vật chất, tiện nghi không tăng trưởng mà dậm chân tại chỗ, hay chỉ lùi không thôi?

· Hầu hết tất cả sinh hoạt của con người trong mọi lãnh vực đều cần có năng lượng dưới nhiều dạng, nhiều hình thức khác nhau, mà nghịch lý là khi đi tìm năng lượng, khai thác năng lượng, sử dụng năng lượng con người không ngừng nghỉ thải ra thán khí, CO2, tác nhân chính làm nên ô nhiễm môi trường. Con người vẫn chưa tìm ra được những sinh hoạt trong sản xuất, trong tiêu thụ, trong công nghiệp, trong kỹ thuật mà không dùng năng lượng, không gây ô nhiễm.

Trở lại thực tế môi trường của Việt Nam, thì tất cả những tín hiệu cũng như chỉ báo về ô nhiễm môi trường, về biến đổi khí hậu, về cách sử dụng các công nghệ nguy hiểm cho môi trường và cả cho con người như công nghiệp luyện thép kiểu Formosa, khai thác tài nguyên trên Tây Nguyên, xây dựng các nhà máy nhiệt điện với thống kê ung thư ở cấp báo động cao nhất, và đã có mặt:

· Các cửa biển nhận các hậu quả biến đổi khí hậu nặng nề, trong đó trường hợp của cửa Đại, tại Hội An là thí dụ rõ nét.

· Các đồng lúa bị ngập mặt tại đồng bằng Cửu Long, vựa lúa của cả dân tộc, đang bị đe dọa, rồi bây giờ đang bị bức tử với các công trình thủy điện do Trung Quốc, Lào xây trên thượng nguồn của sông Mê Kông.

· Các đô thị lớn như Hà Nội, Sài Gòn đã bị xếp vào loại các thành phố ô nhiễm nhất…

Những hậu quả mà dân Việt đang nhận lãnh về môi trường làm nên một thảm họa độc nhất mà dân tộc chưa bao giờ phải gánh chịu, từ chiến tranh với chất độc da cam của Mỹ tới các công nghiệp bẩn thỉu nhất tới từ Tàu tặc-Tàu họa-Tàu nạn được hỗ trợ bởi sự vắng bóng đến độ bất nhân của một chế độ độc đảng toàn trị, nhắm mắt để vơ vét bằng tham nhũng, cúi đầu trước Tàu tặc mặc cho nhân dân ai chết mặc ai, mặc cho môi trường bây chết mặc bây. Một chế độ độc đảng toàn trị khoanh tay trước thảm cảnh môi sinh bị xiết cổ.

Chính công dân Việt phải có nhận thức là quê hương Việt hiện nay là một đất nước mang tất cả nghịch lý thảm khốc của biển đổi khí hậu và thay đổi môi trường: các vùng tiếp cận biển thì bị ngập, trong đất liền thường xuyên bị hạn. Với đồng quê miền Bắc bị ô nhiễm, đồng quê miền Trung khi lũ lụt, khi hạn hán; với đồng quê miền Nam bị ngập mặn. Với gần một nửa thế kỷ dứt chiến tranh, có hòa bình, mà:

· Nạn nhân của chế độ độc đảng toàn trị ngày càng nheo nhóc, từ dân đen tới dân oan, họ cũng chính là nhân dân nhận lãnh hậu quả thực phẩm bẩn, hóa chất độc, với ung thư cao.

· Nạn nhân vừa của chế độ, vừa của môi trường, các nạn nhân này sống khốn khổ trong một đất nước bị trùm phủ bởi bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền, chính các nạn nhân này đa số đang sống tại các khu, vùng, miền ô nhiễm nhất. 

Bất công xã hội song lứa với bất công trước môi trường là loại bất công bất nhân bậc nhất!

Nhân sinh hóa môi trường, nhân quản hóa môi trường


Các lý luận về thực trạng của môi trường nên khởi nguồn bằng:

· Nhân sinh hóa môi trường (anthropologisation) nơi mà qua thời gian sinh hoạt của con người là sự chiếm hữu và sử dụng môi trường như một không gian để con người sinh sống. Trong đó có hai lịch sử: lịch sử của trái đất và lịch sử của con người, với thời gian con người đã chế ngự, đã quản lý, đã khai thác, đã tận dụng môi trường cho chính sự sinh tồn của mình. Nên lịch sử của trái đất và của con người giờ đây đã trở thành lịch sử của con người quản lý, quản trị, quản chế trái đất.

· Nhân quản hóa môi trường (anthropocène), nơi mà sức mạnh của con người được nhân lên trong quá trình chinh phục và khai thác môi trường thiên nhiên. Từ đây, con người đã trở thành một yếu tố quyết định cho sự tồn tại của môi trường, cho sự sinh tồn của môi sinh. Yếu tố này quyết định cả hai số phận của con người và của môi trường.

Khi nhận ra hai nhân tố trong lịch sử của môi trường: nhân sinh hóa môi trường và nhân quản hóa môi trường, thì các lý luận về môi trường, các lập luận về môi sinh phải nhận định ra ba thực tế khác sinh hoạt con người trên môi trường:

· Sinh hoạt canh nông, có phá rừng để trồng trọt, lấy trồng trọt để nuôi con người, cùng lúc lấn áp thiên nhiên, làm thay đổi môi trường một cách triệt để. Tại đây phát triển canh tác song hành cùng lúc với phát triển chăn nuôi. Nơi mà môi trường được khai thác hay bị hủy diệt, được biến đổi hay bị biến chất theo nhu cầu canh tác của con người; nơi mà con người luôn đóng vai trò tiên quyết trên số phận của thiên nhiên.

· Sinh hoạt hiệu xuất, có sự tham gia trực tiếp của kỹ thuật, biết áp dụng tối đa khoa học để tăng năng xuất trồng trọt, để tăng hiệu quả canh tác, để tăng hiệu năng ngay trên quy trình sản xuất thực phẩm, lấy số lượng làm chỉ tiêu, làm hao mòn môi trường, làm quỵ gục môi sinh. Các thuốc chống rầy, trừ sâu là các độc dược mang các độc tố hủy hại rồi hủy diệt nhiều thực vật, động vật, làm sơ xác, làm nghèo nàn hệ đa sinh vật trong thiên nhiên.

· Sinh hoạt biến thực, làm biến chất nội chất một thực thể sinh vật, để tạo ra các thực thể mới có công dụng, có tiềm năng, có hiệu quả cao cho quy luật ngày càng tăng về nhu cầu thực phẩm của con người. Cụ thể là cho lai giống trong canh nông, thu ngắn quá trình canh tác với các giống mới với năng xuất cao hơn các giống cũ, nơi mà thay đổi từ chất tới lượngcó tác động trực tiếp, sâu rộng, lâu dài trên môi trường và môi sinh.

Nên khi phân tích và giải thích các thực tế khác nhau của sinh hoạt con người trên môi trường, thì khoa học luận môi trường phải thấy rõ ba nguồn gốc như là ba nguyên nhân làm biến đổi môi trường nguyên thủy, làm biến chất môi sinh ban đầu trong thiên nhiên:

· Biến đổi môi trường do con người tạo ra, trong đó khoa học kỹ thuật bị công cụ hóa bởi các nhu cầu vừa là thực phẩm, vừa là công nghiệp, tới từ quyền lợi của một quốc gia, một tập thể, một cộng đồng, một cá nhân. Trong đó quá trình (hỗn loạn) từ quyền lợi của một cá nhân, một tập đoàn, một cộng đồng tới tư lợi của một quốc gia có tác động tàn phá môi trường, hủy diệt môi sinh mà chính con người cũng không sao lường hết được.

· Biến đổi môi trường do sinh vật tạo ra, các sinh vật không phải con người, không những từ thực vật tới động vật, mà tới từ các vi trùng mới, các vi khuẩn mới, có những tác động thầm lặng lên môi trường và tác hại lâu dài lên môi sinh. Chúng là nguyên nhân của dịch bệnh, mang tới các hệ lụy sâu đậm trên môi trường.

· Biến đổi môi trường do biến chất sinh vật tạo ra, nơi mà con người cho lai giống tạo ra các thực vật mới, động vật mới, nhưng không chủ động trên các quá trình sinh sôi nẩy nở của chúng. Từ đây, xẩy ra xung đột, cạnh tranh rồi hủy diệt lẫn nhau giữa các sinh vật cũ có trước và các sinh vật mới có sau, làm thay đổi triệt để từ gốc, rễ, cội, nguồn của không gian sinh hóa trong thiên nhiên.

Khi tổng kết hai nhân tố trong lịch sử của môi trường (nhân sinh hóa môi trường và nhân quản hóa môi trường), để nhận ra ba sinh hoạt nhân sinh (sinh hoạt canh nông, sinh hoạt hiệu xuất, sinh hoạt biến thực), để thấy và thấu ba hậu quả (biến đổi môi trường do con người tạo ra, biến đổi môi trường do sinh vật tạo ra, biến đổi môi trường do biến chất từ sinh vật tạo ra), thì ta đã có sự phân biệt rành mạch giữa một xã hội, một dân tộc có lãnh đạo chính trị liêm chính cùng các chính sách liêm sỉ với môi trường; ngược lại với một dân tộc có lãnh đạo chính trị bất chính cùng các chính sách vô liêm sỉ với môi trường. Và trước thảm họa môi trường hiện nay trên đất nước Việt, với ĐCSVN được điều hành bởi bạo quyền độc đảng, song hành cùng tà quyền tham quan và ma quyền tham tiền, thì Việt tộc đang gánh chịu một lực lượng lãnh đạo chính trị bất chính cùng các chính sách vô liêm sỉ với môi trường. 

Kinh tế vòng


Khi phạm trù économie perma-circulaire, mà tạm thời xin dịch là kinh tế vòng, ra đời, nó tìm cách trả lời hai câu hỏi chính của nhân loại hiện nay:

· Sự cạn kiệt ngày càng rõ về tài nguyên làm ra năng lượng để phục vụ cho công nghiệp và kinh tế.

· Sự đe dọa của ô nhiễm ngày cũng rõ ngay trên số phận của con người và trái đất, trong đó không một sinh vật nào ở ngoài sự đe dọa này.

Trong bối cảnh này, kinh tế vòng phải có nội công, bản lĩnh, tầm vóc để trả lời tiếp hai vấn đề nữa:

· Tri thức chính xác của kinh tế vòng về cơ sở vật chất của nhân loại trong tương lai từ định lượng tới định chất tài nguyên, quặng mỏ… làm ra năng lượng để thỏa mãn nhu cầu bình thường của con người, với dân số ngày càng cao.

· Thực tế về sản xuất nhảy vọt, về phát triển kinh tế nhanh chóng cùng nhu cầu ngày càng tăng về tiêu thụ của con người, từ tiện nghi vật chất tới tiêu thụ năng lượng ngay sau thế chiến thứ hai được chấm dứt cho tới ngày nay, với nhiều cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, truyền thông, giao thông… luôn cần năng lượng ở tầng số cao.

Khi trả lời các vấn đề trên, con người phải có hai ý thức về chính hành vi của nó mà ta thấy rất rõ trong lịch sử của nhân sinh:

· Khi sản xuất công nghệ, phát triển kinh tế, nhu cầu tiêu thụ, tiện nghi vật chất, làm tăng nhanh và tăng không ngừng nghỉ về tiêu thụ năng lượng, thì con người cho tới nay không hề muốn ngừng về mức độ, mật độ, trình độ trong cách tiêu thụ năng lượng qua khai thác môi trường, truy hủy môi sinh. 

· Khi con người đã ý thức về sự sa đà rồi quá đà là đã vượt mức giới hạn về nhiễm ô mà tầng khí quyển đang ở mức báo động cao. Mà trong tương lai con người và mọi sinh vật trên trái đất này đều bị đe dọa ngay trên mạng sống. Tại đây, nhân loại cũng không có quyết đoán cần thiết, quyết tâm tối đa để ngừng đúng lúc trước sự sa đà rồi quá đà của chính mình.

Các công trình khoa học gần đây về khí tượng học, nêu lên con số về thay đổi khí hậu do con người tạo ra là hơn 160 lần biến đổi khí hậu do quy trình thiên nhiên bình thường tạo ra. Như vậy, chính con người đã làm vận tốc, mức độ tăng nhiệt của trái đất lên một con số chưa bao giờ có trong lịch sử của trái đất và trong lịch sử của con người. Hãy lấy ngay ra đây một kết luận là chính con người đã làm tăng sự biến đổi nhiệt độ một cách bất thường, và sự bất thường này mang tới ít nhất hai hậu quả:

· Con người làm ra thay đổi khí hậu, chính con người đã vô hiệu hóa quy trình chuyển hóa bình thường của trái đất, của thiên nhiên...

· Con người tạo ra thay đổi khí hậu, chính con người đã và đang đe dọa mọi sinh vật sống trên trái đất, nhờ vào thiên nhiên, sống còn và sống sót nhờ môi sinh.

Chính các công trình khoa học của khí tượng học quan sát được sự tăng nhanh về nhiệt độ, từ mặt đất lên không khí và vận tốc tăng nhiệt độ này lại cao hơn tất cả các con tính định lượng mà khoa học này đã dự báo. Như vậy, sinh hoạt con người đã đi cao và đi ngoài các dự báo khách quan của khoa học, chính tại đây số phận các sinh vật không phải con người đang chịu ít nhất hai áp lực:

· Áp lực biến đổi khí hậu khi gây hạn hán, khi gây lũ lụt, khi gây sạt lở, khi gây giông bão đã làm thay đổi sâu xa môi trường, môi sinh.

· Áp lực biến đổi khí hậu, tới từ khai phá, khai thác, khai quật của con người trong thiên nhiên, cộng thêm với sức tăng nhân số đã truy diệt, hủy diệt các sinh vật đang sống ngay trong môi sinh bình thường của chúng.

Như vậy, các định đề của kinh tế vòng là khả năng nhận thức của con người rồi biến nhận thức thành tri thức trong kinh tế, khi ý thức của nhân sinh biết chấp nhận:

· Biết ngừng và biết giảm sức tiêu thụ năng lượng lấy, trích, bòn, rút từ môi trường, một mức tiêu thụ miệt mài, không ngừng nghỉ trong quy luật sản xuất và tiêu thụ của con người cho tới nay là: không biết ngừng để suy đi nghĩ lại!

· Biết ngừng và biết tồn tại ngay trong môi trường an sinh bình thường với nguồn nước, với không khí, với tầng khí quyển không bị ô nhiễm đe dọa, rồi truy diệt với thời gian.

· Biết ngừng và biết tiêu xài có chừng mực, không tiêu hoang xài phí, không tiêu thụ năng lượng vượt quá khả năng mà thiên nhiên, môi trường tạo ra, biết sống chừng mực và tiêu vừa phải.

Ba cái biết này chính là ba tri thức căn bản để vào quy trình kinh tế vòng, trong quy trình này, con người phải tâm niệm bằng ý lực là đối với môi sinh thì không được: vung tay quá trán!

Môi sinh hữu hạn


Khi nhân học môi sinh, dụng nhân tri để bảo vệ môi trường, dùng nhân trí để bảo quản thiên nhiên, thì nhân học môi sinh đã có một quá trình nhận thức về lịch sử khai thác tài nguyên thiên nhiên của con người với bao hậu quả và hệ lụy, trong đó có hai quy trình song song của nhân sinh từ hơn hai thế kỷ qua:

· Khi tiền tệ không những được sử dụng như công cụ trung gian trong các dịch vụ trao đổi trong kinh tế, thương mại, mà tiền tệ còn là vốn gốc để định giá các sản phẩm, và nó đã được khai thác để trở thành vốn trung tâm để mua bán các tài nguyên có trong thiên nhiên.

· Khi công nghiệp mang hiệu năng của sự tiến bộ tới từ khoa học kỹ thuật, thì con người đã hiểu sai về môi trường và môi sinh là sự tiến bộ này sẽ không bao giờ ngừng, như khoa học kỹ thuật sẽ không bao giờ ngưng thăng tiến, cùng các tài nguyên được xem như là vô tận, không giới hạn. 

Hiện nay hai sai lầm này của con người đang bắt nhân loại phải trả những giá rất đắt, từ cạn kiệt tài nguyên tới ô nhiễm môi trường, đã gián tiếp hay trực tiếp nói lên sự thông minh rất giới hạn của con người trong lịch sử là:

· Tài nguyên trong thiên nhiên là hữu hạn, mà không hề vô hạn. 

· Môi trường khi bị khai thác triệt để, thì môi sinh bị hủy diệt.

Cả hai nhận định trên đều mang lại một hậu quả chung là chính sinh mạng của con người đang bị đe dọa bởi môi trường ô nhiễm, và môi sinh đang quỵ gục. Khi nguồn nước lẫn không khí, khi động vật và thực vật bị truy diệt ngay trong môi sinh của chúng bởi con người; và phạm trù lý luận diệt chủng môi sinh (écocide) đã dần dần thành hiện thực, tại đây con người phải xem lại thật kỹ hai lãnh vực:

· Chính trị kiến thức làm nên chính sách khoa học kỹ thuật phải biết tôn trọng hơn nữa môi sinh.

· Chính sách khoa học kỹ thuật làm nên hành động khai thác thiên nhiên để sử dụng tài nguyên phải biết bảo vệ hơn nữa môi trường.

Từ đó sinh ra hai quan niệm mới trong nhân học môi sinh, và hai quan niệm mới này làm nên định đề là thiên nhiên và con người, môi sinh và nhân sinh có cùng một giòng sinh mệnh, chỉ một giòng, và không thể tách rời thành hai giòng được, với một thực tế mới:

· Hiện tại đôi của thiên nhiên và con người, đồng hội đồng thuyền, từ sinh sống tới sinh tồn, trong một không gian chung là trái đất.

· Tương lai đôi của môi sinh và nhân sinh, đồng cam cộng khổ, từ sống còn tới sống sót, cũng chỉ trong một không gian chung là trái đất.

Hãy thận trọng hơn nữa về hai ngữ pháp: đồng hội đồng thuyền, đồng cam cộng khổ giữa các châu lục, có châu lục giầu từ tài nguyên tới khoa học, có châu lục nghèo từ thiên nhiên tới kinh tế. Có quốc gia vừa giầu có lại vừa tham lam, khai thác môi trường của các quốc gia láng giềng, cùng lúc để lại các hậu quả kinh hoàng, các hệ lụy khủng khiếp cho các quốc gia láng giềng. Mà trường hợp của Trung Quốc đã đối xử vô cùng bất nhân đối với Việt Nam khi khai thác các tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam, cùng lúc gây ô nhiễm môi trường một cách tồi tệ trên môi sinh Việt. Từ khai thác boxite trên Tây Nguyên tới các nhà máy luyện thép, từ các nhà máy nhiệt điện ngay trên đất Việt với các công trình thủy điện ngay trên thượng nguồn sông Mê Kông trên lãnh thổ của Trung quốc, hiện đang đe dọa sự sống còn của đồng bằng sông Cửu Long.

Khi người ta nói bằng ngữ pháp đẹp: cùng một giòng sinh mệnh, với ngữ văn hay: đồng hội đồng thuyền, thì chính các chuyên gia về nhân học môi sinh thấy và thấu rất rõ là:

· Cùng một giòng sinh mệnh, nhưng khi gặp hóa chất độc, có kẻ chết trước, có người chết sau. 

· Đồng hội đồng thuyền, nhưng kẻ giầu được ngồi hạng danh dự với bảo hiểm vững, có kẻ ngồi dưới thấp lòng thuyền không một bảo hiểm trong tay khi thuyền gặp giông bão. 

Cái bất bình đẳng về môi trường luôn song hành cùng cái bất bình đẳng trong sức mạnh kinh tế, tài chính, khoa học, kỹ thuật; nên ngay khi có cùng một giòng sinh mệnh, mà vẫn có nhiều số phận khác nhau về tuổi thọ cũng như về bảo hiểm. Và khi đồng hội đồng thuyền, có kẻ giữ lái thuyền với chỗ thượng hạng, có người phải khoanh tay, mà giao số mệnh cho kẻ lái thuyền. Hãy đặt tên cho hai sự thật này: bất bình đẳng về kinh tế, tài chính, khoa học, kỹ thuật tạo ra bất công về sinh mệnh và số phận trước các hiểm họa về môi trường và môi sinh. 

Các chuyên gia về môi trường học của Việt tộc đừng quên chuyện này! Khi nhân học môi sinh phân tích rõ rằng khi con người sống chung trên một trái đất, nhưng số kiếp, số phận, số mệnh của mỗi người, mỗi vùng, mỗi quốc gia, mỗi châu lục rất khác nhau. Nếu muốn thật sự có chung, có cùng một giòng sinh mệnh, nếu muốn thật sự muốn sống chung, muốn sống cùng trong đồng cảnh đồng hội đồng thuyền, thì tất cả con người này, nhân loại này phải có chung, có cùng:

· Một phương cách thích ứng với môi trường, để bảo vệ môi sinh.

· Một phương pháp khai thác môi trường, để bảo quản môi sinh.

Khi có lập luận đôi: một phương cách thích ứng với môi trường song hành cùng một phương pháp khai thác với môi trường, thì nhân loại phải vận dụng mọi thông minh của nhân học môi sinh để lập ra một diễn luận là: con người và các sinh vật không phải con người từ động vật tới thực vật phải có một chính trị chung để chế tác ra một chính sách chung để cùng nhau sinh sống và sinh tồn trên trái đất này.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét