Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2019

Lê Hữu Khóa: MÔI SINH & NHÂN SINH - Ai diệt môi trường? Ai giết môi sinh?

Chính sách trên toàn bộ môi trường. 


Khi một chính quyền cho xuất hiện một chính sách về một môi trường, thì phương pháp luận về môi trường làm nên khoa học luận về môi sinh, bó buộc chính quyền đó phải có tầm nhìn toàn bộ trên rất nhiều môi trường, phải có các đánh giá tổng thể trên rất nhiều môi sinh để chính sách đó có tính chỉnh lý khi thuyết phục các đối tác, có tính toàn lý qua không gian và thời gian. Cụ thể là không có một chính sách nào về môi trường mà cục bộ, không có một chính sách nào về môi sinh mà đơn lẻ; chính phương trình toàn bộ môi trường-tổng thể môi sinh làm nên hiệu quả của chính sách, làm ra hiệu năng của các quá trình đầu tư tới từ chính sách đó. Hãy lấy các thí dụ thiết thực để nhận diện rõ ràng về phương trình toàn bộ môi trường-tổng thể môi sinh: 

· Không thể có một chính sách trồng rừng hiệu quả, nếu không có kiến thức và tri thức về địa chất, về khí hậu, về thiên nhiên…trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên trái đất, trong thực cảnh ô nhiễm trên nhiều mức độ khác nhau mà nhân loại đang phải hứng chịu, nên tổng thể và toàn bộ vừa là hàm số, vừa là hằng số cho mọi chính sách trên một vùng đất, trên một địa phương, trên một quốc gia… 

· Không thể có một chính sách thủy lợi trên đồng bằng sông Cửu Long chỉnh lý, nếu không có các dữ kiện và dữ liệu chính sát về các chính sách của Trung quốc, của Lào… ngay trên thượng nguồn sông Mê Kông, tại đây nhận định toàn lý về tổng thể và toàn bộ từ thượng nguồn tới hạ nguồn chính là phương pháp luận về đầu tư trên các quốc sách về môi trường và môi sinh của đồng bằng sông Cửu Long. 

· Không thể có một chính sách chống ô nhiễm trong một thành phố, nếu không có các phân tích toàn bộ, các giải thích toàn thể về quan hệ giữa đô thị và nông thôn trên phương trình toàn bộ môi trường-tổng thể môi sinh về phương pháp xử lý nước thải, rác rưởi, khói công nghiệp, ô nhiễm giao thông… 

Nếu tiếp nhận lý luận: một chính sách về một môi trường là một chính sách trên toàn bộ môi trường song hành cùng phương trình toàn bộ môi trường-tổng thể môi sinh, trong đó nhận định toàn lý về tổng thể và toàn bộ làm nên tầm nhìn, tạo nên tầm vóc của mọi chính sách về môi trường môi sinh, thì các chuyên gia về xã hội học môi trường và chính trị học môi sinh có thể đưa ra các nhận xét và kết luận sau đây: 

· ĐCSVN lãnh đạo chính quyền, điều hành chính phủ chưa hề có một hệ thống các chính sách bảo vệ môi trường và môi sinh trên đất nước Việt Nam. 

· ĐCSVN với chính quyền độc tài, với tổ chức chính phủ độc trị chưa hề có một chính sách bảo vệ môi trường và môi sinh có lý luận toàn bộ, có lập luận tổng thể từ khi nó nắm quyền lực trên đất nước Việt Nam. 

· ĐCSVN với chính quyền độc tôn, với tổ chức chính phủ độc đoán đã chọn hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) song hành cùng hệ tham (tham quyền, tham quan, tham nhũng, tham ô) đã chọn độc đoán để đi trên con đường độc hại là ô nhiễm môi trường, hủy diệt môi sinh. 

Đây là các định luận giúp các chuyên gia về môi trường thấy rõ mọi thảm bại của ĐCSVN về môi trường và môi sinh. Cũng tại đây, ẩn số môi trường yêu cầu các chuyên gia phải thay đổi: 

· Nhân sinh quan để thay đổi phân tích và giải thích: vấn đề môi trường không còn khung trong lãnh thổ, biên giới, chủ quyền của một quốc gia theo định nghĩa của cơ chế và hành chính, mà môi trường là một tổng thể có tầm cỡ của thế giới, có tầm vóc của trái đất. 

· Thế giới quan để thay đổi giãi luận và diễn luận: một chính sách về môi trường thật sự hiệu quả khi có liên minh của nhiều quốc gia láng giềng với tầm nhìn của hợp tác quốc tế vĩ mô, có tầm vóc của toàn cầu hóa với các thỏa thuận, ký kết nên chính sách làm nên quyết sách trong đó sinh mạng của một môi trường là sinh linh của toàn thể môi sinh. 

· Vũ trụ quan để thay đổi lý luận và lập luận: một chính sách về môi trường thật sự hiệu quả khi có các chính sách quốc tế và toàn cầu hỗ trợ nó trong các giai đoạn đầu tư và kiểm tra qua thời gian dài, qua không gian rộng. 

Hãy đi xa hơn nữa để thấy và thấu: một chính sách về một môi trường là một chính sách trên toàn bộ môi trường song hành cùng phương trình toàn bộ môi trường-tổng thể môi sinh, trong đó nhận định toàn lý về tổng thể và toàn bộ làm nên tầm nhìn, tạo nên tầm vóc của mọi chính sách về môi trường môi sinh

· Môi trường và môi sinh không chỉ tùy thuộc vào các nhận định của sinh học mà của toàn bộ các ngành khoa học thực nghiệm (sinh, lý, hóa…) 

· Môi trường và môi sinh không chỉ tùy thuộc vào các nhận định của các ngành khoa học thực nghiệm mà của rất nhiều ngành khoa học công nghiệp, truyền thông… 

· Môi trường và môi sinh không chỉ tùy thuộc vào các nhận định của các ngành khoa học thực nghiệm, công nghiệp, truyền thông… mà có quan hệ trực tiếp và gián tiếp tới các ngành khoa học xã hội và nhân văn. 

Môi trường địa cầu, môi sinh địa tầng. 


Khi địa chất học nghiên cứu sâu xa về ô nhiễm môi trường, trong đó môi sinh bị đe dọa rồi bị hủy diệt, thì chuyên ngành này cho xuất hiện một phạm trù phân tích về tổng thể môi trường trên toàn địa cầu để có các giải thích chỉnh lý, trong đó môi sinh phải được lý giải qua hai thay đổi song song: 

· Thay đổi địa chất trên quy mô địa cầu tới từ các thay đổi của mỗi địa tầng làm nên cấu trúc của trái đất, tại đây các dữ kiện vi mô về mỗi địa tầng trực tiếp phục vụ cho kiến thức và tri thức về dữ kiện vĩ mô của cả trái đất, mà ta không quên sự tác động qua lại của địa tầng này lên các địa tầng khác. Quan hệ giữa nước và đất chính là quan hệ giữa dòng chẩy và bờ đất, xa hơn nữa là quan hệ giữa các địa tầng có phản ứng làm nên phản xạ rất khác nhau giữa chất lỏng và chất rắn, tại đây sự thăng bằng giữa các quan hệ này không hề vĩnh viễn mà rất tạm thời, rất mong manh trước các biển đổi khi hậu mà nhân loại đang trực tiếp hứng chịu. 

· Thay đổi địa chất trên quy mô địa cầu tới từ các sinh hoạt của con người trên từng địa tầng và trên toàn trái đất, tại đây các dữ kiện vi mô về sinh hoạt nông nghiệp cũng như công nghiệp trên các địa tầng trực tiếp phục vụ cho kiến thức và tri thức về dữ kiện vĩ mô sinh hoạt của con người trên cả trái đất, từ nông nghiệp tới công nghiệp, từ giao thông tới vận tải, tự đường bộ tới đường thủy và đường hành không, trong đó quá trình vận chuyển hàng hóa cũng như quy trình phát triển du lịch đều có ảnh hưởng tới môi trường, tác động trực tiếp tới môi sinh. 

Khi phân tích đôi này: thay đổi địa chất trên quy mô địa cầu tới từ các thay đổi của mỗi địa tầng, song cặp cùng thay đổi địa chất trên quy mô địa cầu tới từ các sinh hoạt của con người, thì các hậu quả từ cạn nguồn nước tới sạt lở các bờ sông phải được phân tích cùng lúc với sinh hoạt của con người đã khai thác quá mức nguồn nước cùng lúc khai thác quá độ các lòng sông. Chính sinh hoạt con người làm nên các thay đổi triệt để về các địa tầng, và gây ra các tác động tai hại trực tiếp lên sự liên kết tự nhiên của các địa tầng. Hãy lấy thí dụ cách khai thác thủy điện vô tội vạ của Trung quốc ngay trên thượng nguồn sông Mê Kông đang gây những hiểm họa hiện nay trầm trọng trên đồng bằng sông Cửu Long. Xử lý vấn đề này không còn ở cấp quốc gia riêng rẻ đối với Việt Nam mà chính quyền Việt Nam phải tạo được đồ-hình-đấu-tranh-quốc-tế, vì đấu tranh cho môi trường hiện nay chính là đấu tranh trực diện trên ba mặt trận : khoa học, chính trị, ngoại giao. Chính ba mặt trận này sẽ làm nền cho ba mặt trận khác : giáo dục, xã hội, truyền thông, rồi chính sáu mặt trận này (khoa học, chính trị, ngoại giao, giáo dục, xã hội, truyền thông) làm nên gốc, rễ, cội, nguồn của mọi chính nghĩa để tạo được các nội dung vững, các ý nghĩa lớn, giá trị cao cho các chính sách của chính quyền về môi trường và môi sinh trên đất nước Việt Nam. 

Phân tích đôi này sẽ biến hóa thành định đề đôi : thay đổi địa chất trên quy mô địa cầu tới từ các thay đổi của mỗi địa tầng, song cặp cùng thay đổi địa chất trên quy mô địa cầu tới từ các sinh hoạt của con người, để làm rõ các chính sách liêm chính của một chính quyền liêm khiết về môi trường, thì các tòa án quốc tế sẽ đứng về phía các giá trị liêm sỉ của chính quyền này. Hệ liêm (liêm chính, liêm khiết, liêm sỉ) trong đấu tranh chính trị và ngoại giao là chất trong của môi trường, là chất sạch của môi sinh, chính nội chất trong sạch này làm nên chính nghĩa của chính quyền bảo vệ môi trường, chính phủ bảo quản môi sinh. Nên khi Việt Nam kiện Trung quốc về các hậu quả trên dòng chảy của sông Mê Kông thì sẽ tạo ra tính toàn lý đôi song hành cùng phương pháp dùng-kiện-tụng-để-tố-cáo các hậu quả qua ý đồ quân sự hóa biển Đông, cùng lúc khai thác triệt để các vùng đang có trữ liệu năng lượng cao và rộng. Vì cả thế giới đều biết Trung quốc là tác giả của nhiều nguồn ô nhiễm môi trường mà hàng chục quốc gia láng giềng của Trung quốc đang phải nhận các hậu quả. 

Khi chúng ta có phân tích đôi sánh vai cùng định đề đôi này, thì chúng ta phải giãi luận rộng hơn để giải thích sâu hơn là: ĐCSVN có độc tài chính quyền nhưng hoàn toàn bất tài, có độc trị chính phủ nhưng không hề biết quản trị phương trình phân tích đôi- định đề đôi này, chúng ta không hề thấy, nghe, đọc, biết về: 

· Các văn bản chính thức 

· Các chính sách chính thống 

· Các quốc sách ngoại giao 

dựa trên phương trình phân tích đôi- định đề đôi để bảo vệ môi trường Việt và môi sinh Việt, mà chúng ta chỉ thấy ngược lại là ĐCSVN đã mở cửa cho các công nghệ ô nhiễm nhất, từ gang thép Formosa tới khai thác Boxite tây nguyên, từ công nghệ nhiệt điện bằng than đá tới các công trình thủy điện... Nơi mà ô nhiễm đã thực sự tạo ra ung thư đại chúng, từng vùng, từng làng ung thư, nơi mà ô nhiễm đã và đang giết dần mòn Việt tộc, trước thái độ và hành vi của ĐCSVN nhắm mắt-cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước các tội ác môi trường trong ý đồ của Tàu tặc-Tàu nạn-Tàu họa-Tàu hoạn, tại đây số phận của môi trường và số mạng của Việt tộc đang nằm chung một dòng sinh mệnh: từ xám-của-bịnh tới đen-của-chết

Liên minh các khoa học, liên kết các chuyên ngành 


Lý thuyết luận là vận dụng lý thuyết này để bổ xung cho lý thuyết kia, là tận dụng học thuyết này để cũng cố cho học thuyết kia, là sử dụng luận thuyết này để bồi đắp cho luận thuyết kia, mà không quên sự kình chống, sự xung đột, sự mâu thuẫn giữa các lý thuyết, học thuyết, luận thuyết. Trong nghiên cứu về môi trường, trong khảo sát về môi sinh, thì các chuyên gia cần mọi kiến thức, mọi tri thức của tất cả các khoa học có liên quan tới môi trường, có quan hệ tới môi sinh tự khoa học thực nghiệm tới khoa học chính sát, từ khoa học xã hội tới khoa học nhân văn. Tại đây, liên minh của các khoa học, liên kết của các chuyên nhành không dễ dàng ngay từ những bước đầu của sự hợp tác giữa các khoa học khác nhau qua các chuyên ngành chuyên môn khác nhau. Tại các hội thảo, hội nghị, hội luận giữa các khoa học khác nhau, qua các chuyên ngành khác nhau, chúng ta đều có thể cảm nhận được sự thiếu thông cảm giữa các khoa học khác nhau, mặc dù ý muốn chia sẻ kiến thức cho nhau đều có cùng một động cơ, có cùng một cơ sở là bảo vệ môi trường: 

· Khi địa chất học đại diện cho khoa học thực nghiệm để phân tích các thay đổi về địa tầng qua hậu quả ô nhiễm, thì ngay trên phương pháp định niên đại của địa chất học đã không có sự chia sẻ đúng mật độ-trúng mức độ của các chuyên gia trong khoa học xã hội và nhân văn. 

· Khi nhân học, xã hội học, kinh tế học… phân tích vai trò của văn hóa trong quan hệ giữa con người và sử dụng thiên nhiên, giữa truyền thống và khai thác tài nguyên, giữa tôn giáo, tín ngưỡng và động vật, thực vật… thì không có sự thông cảm tức khắc của các ngành khoa học chính sát và thực nghiệm. 

Có những nhận định đưa tới những chiến lược rất khác nhau về chính sách bảo vệ môi trường: 

· Chiến lược và chính sách tái tạo lại thiên nhiên ban đầu, mà các chuyên gia đặt tên là thiên nhiên hóa môi trường, nơi mà trường phái muốn tái tạo thiên nhiên ban đầu khó chấp nhận phát triển kinh tế song hành cùng công nghiệp hóa không gian trong đó thiên nhiên phải trả một giá nhất định cho tăng trưởng công nghệ và kinh tế. 

· Chiến lược và chính sách quan niệm trái đất không chỉ là một thực thể, mà là một hệ thống, trong đó các phần tử tác động qua lại phải được nghiên cứu như một hệ thống có cấu trúc tác động hỗ tương. Tại đây, hệ thực vật có thể thay đổi định chất và định lượng của hệ động vật, cũng như các sinh vật từ vi khuẩn tới vi trùng cũng có thể làm thay đổi sâu xa môi trường. Trong đó hệ thống địa cầu được tạo nên bởi quan hệ giữa trái đất và khí hậu, có tương quan giữa trái đất và vũ trụ chung, nơi mà trái đất chỉ là một phần tử nhỏ trong đại thể vũ trụ. 

Các định lý của khoa học cũng có quan hệ với nhân sinh quan, thế giới quan, vũ trụ quan của chính các chuyên gia khoa học, họ bi quan hay lạc quan về môi trường, họ có chính trị hóa hay không chính trị hóa các giá trị về môi trường trong bối cảnh đấu tranh vì môi trường hay không? Thí dụ không thiếu, tại đây có hai loại trí thức khoa học: 

· Trí thức khoa học “hữu cơ”, trực tiếp là chuyên gia đang là “cố vấn” hay “làm công” cho các công nghệ, doanh nghiệp lấy sản suất làm ưu tiên, và “xem thường” hoặc “bỏ qua” thực tế, nội dung, ý nghĩa, giá trị của môi trường. 

· Trí thức khoa học “phê bình”, vừa là chuyên gia khoa học, vừa là chủ thể của các phong trào, các tập thể, các cộng đồng của xã hội dân sự bảo vệ môi trường, họ “coi trọng” và đấu tranh vì môi trường như là ưu tiên hàng đầu của nhân sinh. 

Xuất hiện trong lý thuyết luận về môi trường hai nhận định mới, và hai nhận định mới này đã trở thành hai định đề mới cho các nghiên cứu, khảo sát, điều tra về môi trường với vận tốc tột độ về thay đổi môi trường trên bình diện của cả trái đất, thì thiên nhiên và con người mới sẽ được sinh ra không phải là thiên nhiên và con người nguyên thủy thủa sơ khai, nên từ đây phải nới ra, phải mở rộng và phải xem xét lại các định nghĩa về thiên nhiên và con người. Với các hậu quả về thay đổi môi trường trên bình diện của cả trái đất, thì chính các khoa học, và nhất là khoa học xã hội phải tự luyện tập cho mình những phản xạ (phản xạ nghiên cứu tức khắc, phản xạ khảo sát nhanh chóng, phản xạ điều tra kịp thời…). Từ đó nhận diện đúng lúc, kịp thời các thay đổi, từ hậu quả ô nhiễm tới hiệu quả chống ô nhiễm, phản xạ này quan hệ chặt chẽ với các khám phá mới của khoa học về môi trường, từ đó tạo ra phản xạ thông tin và truyền thông để nhanh chóng chuyển tới xã hội, giáo dục, chính trị… 

Cũng chính tại đây, các chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn phải biết tiếp nhận và xử lý không những số liệu, dữ kiện, khám phá tới từ các chuyên ngành khoa học chính sát và thực nghiệm, mà cùng lúc phải sử dụng và vận dụng những số liệu, dữ kiện, khám phá tới từ các chuyên ngành khoa học chính sát và thực nghiệm để định vị và củng cố chính lịch sử của chuyên ngành của mình. Các chuyên gia không nên quên là địa chất học xuất hiện rồi phát triển cùng lúc với khảo cổ học trong thế kỷ thứ XVIII, tại đây không chỉ có vấn đề môi trường và con người, mà có cả lịch sử phát triển công nghiệp nặng mang tới những hậu quả xấu về môi trường của tư bản chủ nghĩa tại phương tây (Tây Âu và Bắc Mỹ). 

(Còn tiếp) 

*** 

Lê Hữu Khóa: Giáo sư Đại học Lille* Giám đốc Anthropol-Asie *Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á *Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO–Liên Hiệp Quốc *Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris.*Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á* Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới. Các công trình nghiên cứu Việt Nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét