Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2019

Các mẩu chuyện văn nghệ - Nguyễn Đình Nghi kể lại (Vương Trí Nhàn ghi chép)

Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi

Tôi ham đọc sách là do ông bố tôi dạy. Theo Thế Lữ : đọc sách là một cái thú lớn nhất trên đời này (hơn cả tình yêu). Ham biết, cái gì ông ấy cũng biết.

“Người trẻ tuổi phải biết viết nhật ký”, ở Pháp người bình thường cũng viết nhật ký, nó là nơi để người ta nói những điều cần nói với mình.” Tôi viết đều 1948-50.

Ấn tượng mà Tự Lực văn đoàn để lại trong xã hội hồi ấy là lớn lắm. Trong kháng chiến chống Pháp tôi biết vinh quang của họ mờ dần. Qua ông bố, thấy làm văn nghệ là vinh quang. Còn làm văn nghệ mà trung bình là khốn nạn.

Gương học: Lưu Hữu Phước. Lưu Hữu Phước chủ trương đến 30 tuổi học thật rộng, từ 30 tuổi mới đi sâu.

Đi trên đường, với Phan Khôi, nghe một câu chửi lạ, hai bác cháu nhỏm dậy mà ghi. Ông bảo, đi cả thôi đường, được câu này cũng bõ.

Thế Lữ hay nói văn nghệ không phải chuyện lên đồng, sân khấu phải có nghề.

Nguyễn Tuân, cái gì cũng biết, lại biết kể ; cũng việc ấy, mình cũng trông thấy, mà nếu ông ấy kể lại, hay hơn hẳn.

Đoàn Phú Tứ từng nói với tôi cả buổi về vấn đề chơi sách đẹp. Cuốn Mấy vần thơ Đỗ Văn trình bày, ví dụ ông bảo -- sau mỗi trang soi lên, các chữ số không can vào nhau, là vứt đi luôn. Ông nói từ 7 giờ tối đến 10 giờ đêm.

Ông nói cả tiếng đồng hồ về giấy dó, tự ông nhận là có một tình yêu sâu sắc với mực.

Nhờ có các ông, lúc ấy, những người như tôi mới hiểu văn học dân gian. Kháng chiến là thời mà ý thức dân tộc mạnh. Giá trị dân tộc thật, lộng lẫy mê người. Xem chèo, ông Thế Lữ, ông Kim Lân, há mồm ra thích, kinh ngạc, cười ha hả. Còn Hoài Thanh thì cắt nghĩa cho tôi cái hay ấy nó bắt nguồn từ đâu.

1951, mới bắt tay khai thác quan họ; 1952-53 tôi đi công tác về cơ sở, tổ chức những cuộc liên hoan. Khai thác ở 30 xã ở huyện Đoan Hùng. Tôi dự múa trống có ở xã đạo Đoan Hùng.

Hôm ấy tôi trên đường từ bến đò Tuyên Quang về đơn vị. Đêm trăng anh em ở đoàn, Phùng Thi Nhạn, cô Dần ra đón, cùng hát Trèo lên trên núi Thiên Thai. Con gái hát quan họ thấy hay lạ lùng.

Ở tuồng tiên phong đọc là tiên phuông, tràng đọc là trường; ở Quan họ cũng có hiện tượng đó : anh chường ơi. Tại sao có sự biến cải đó, tôi không cắt nghĩa nổi.

Ông Nguyễn Xuân Khoát chữa lời một bài hát của Đặng Đình Hưng, từ ngăn sông xẻ núi thành ngăn sông chuyển núi. Âm xẻ bẹt, khó chịu; âm chuyển ấm hơn; nguyên âm đơn nguyên âm kép âm đầy hơn. Các cụ sẵn sàng hy sinh ý đạt đến cái đẹp thẩm âm.

Lại có bài của Nguyễn Xuân Khoát Thằng Nhai thằng Nha, câu mở đầu Thằng Nha có cái bánh đa cái bánh to tướng bằng ba cái đình, Thằng Nha đem tặng thương binh ca la pich, ca la pắc, ca la poong. Xuân Diệu phê bình không dân tộc. Tiếng Việt không có âm p đổi thành: ca la kích, ca la cắc ca la coong.

Đào Vũ dịch: Thống khổ vô bờ. Theo Xuân Diệu phải chữa vô cùng hoặc không bờ.

Xem có Việt Nam không, các ông đòi hỏi vậy, ý thức ấy quan trọng vô cùng, không chịu bắt chước, kể cả Tàu. Nhớ cái câu Sương rơi đã ướt tàu cau Đồng bào bình nghị mau mau ta về. Xem Chị Tấm anh Điền, Hoàng Quốc Việt bảo chuyện địa chủ nông dân không phải bây giờ mới có.

Hồi ấy, Hội Văn Nghệ chỉ có sách Pháp. Tôi giữ thư viện, tha hồ đọc. Từ 1948 có sách mới của A. Still, Những người cộng sản của Aragon,…

Thế Lữ : Nghệ thuật sân khấu bắt đầu từ căng cánh gà cho thẳng (lúc ấy thường nối chiếu để căng mới thẳng). Đến một đơn vị, ở một đỉnh dốc; sàn diễn làm lưng chừng núi, người xem ở dưới. Thế Lữ không chấp nhận, không diễn. Luôn cảm tưởng Sân khấu diễn lộng lẫy. Tôi còn nhớ mãi lần đến một đơn vị. Mùa xuân Hàng mộc miên lừng lững. 

Hội có lớp học song tôi được nghỉ vì sốt rét. Hai giờ một cơn, đắp chăn, mỏng, không trông thấy người. Việc thường xuyên là học. Học chữ Hán: trong 4 tháng. Sách Bắc Kinh gửi sang. Có cả bạch thoại, văn ngôn. Ông Phan Khôi bảo Người Việt Nam không biết chữ Hán, mù chữ ½. Tôi hay tra tứ giác. Phan Khôi không tra được tứ giác.

Những ngày sống bên các ông là hành trang để vào đời. Những con người mình kính phục dù nhiều nhược điểm; nghĩ tới họ phải sống trong sáng, lành mạnh.

Huy Du, Phạm Đình Sáu, Hoàng Vân, Đình Quang, Ngô Y Linh, Thái Ly, Nguyễn Vũ, Đoàn Long đi Trung quốc về đều làm ăn tử tế.

Về văn 

Nguyễn Tuân đánh dấu phẩy cực giỏi. Từ thời Kháng chiến, đánh dấu phẩy kiểu khác.
- Bao giờ kháng chiến thành công 
Trở về làng cũ thì không còn nhà
Ai về nhắn với Cha già
Phen này con cháu thật là tay không

Theo Đoàn Phú Tứ: Tú Mỡ làm khi đốt nhà, nhưng không rõ có đúng không?

Thế Lữ: Chủ nghĩa tập thể làm cho con người ích kỷ hơn bao giờ hết.

Về Tô Hoài:

Nói chung ông Tô Hoài rất hóm, rất tháo vát, nhất là hồi ông ở báo Cứu quốc với ông Nam Cao. Còn như việc viết. Có lần tôi mượn cuốn Những kẻ bất khuất của Gorbatov bằng tiếng Pháp, thấy ông đánh dấu vào đấy: đoạn này cho lên trên; đoạn này cho vào giữa. Thì ra, bố mày cóp thẳng từ đấy, xào xáo cẩn thận, làm thành Lão đồng chí. Có một hồi khai là của mình, sau mới thôi. Vì lúc ấy các ông ấy cũng bí.

Khi Tô Hoài viết Núi cứu quốc, Nguyễn Đình Thi có bài đọc sách, đã tả rất đúng Tô Hoài: Tác giả thú nhưng không yêu Việt Bắc.

Về sau, thấy Tô Hoài viết được Truyện Tây Bắc, tôi rất phục.

Nam Cao đáng quý lắm. Có lần Nam Cao bảo tôi:

- Viết về nông dân như Tự lực văn đoàn cũng thơ mộng quá, mà như tôi cũng đen tối quá. Viết đúng có lẽ ở giữa.

Ông Phan Khôi hồi kháng chiến được trọng vọng lắm. Nhà học giả mà. Có lần một cô hàng nước bảo thời loạn, các cụ mới phải như thế này, thế là cụ chỉnh thực sự. Cụ bảo đây không phải thời loạn, mà là thời thịnh.

Phan Khôi không bao giờ thèm cóp ở người khác, lý do vì ông ta cảm thấy đã viết là phải viết cho độc đáo. Nhưng mà ăn chơi thì Phan Khôi cũng ăn chơi lắm.

(Phan Khôi cũng chê Ngô Tất Tố là không sạch nghĩa lý thánh hiền, học chưa đến nơi đến chốn).

Anh có biết tại sao Ngô Tất Tố vào Đảng không? Chuyện cụ ấy tự tử, tôi không biết. Chính vì con cụ ấy hy sinh. Một buổi nghe tin con cụ Tố hy sinh ở quê, người ta gọi cụ lên kết nạp.

Có những người như Nguyễn Đình Thi, thời ấy bị ghét cay ghét đắng. Ông Tố Hữu bảo: Đọc thơ anh Thi lúc buồn thấy thích, nhưng lúc bình thường, thấy căm thù.

Nguyễn Huy Tưởng kể: Thằng Thi đi chiến dịch, lăn ra mà làm đào hầm, khiêng thương binh, đủ cả. Về mới có được cái Xung kích (cũng nhờ Thi nó rất khoẻ). Chứ cứ như Nguyễn Xuân Sanh thì chỉ chui hầm, về làm mấy bài thơ, đến tạp chí Văn nghệ không thèm đăng.

Hoài Thanh là người thành tâm, như trong việc đòi hỏi thơ phải hoàn toàn thay đổi cho kịp với điều kiện mới thì quá cực đoan (đến bài Ngò cải đơm hoa của Lưu Trọng Lư cũng bị ông Hoài Thanh chê là cũng buồn cơ mà).

Hoài Thanh là người mang từ Trung quốc về lối tự mình vỗ tay khi bên dưới vỗ tay - ý để chứng tỏ mình hoan hô lại những người đã vỗ tay mình.

Nguyễn Huy Tưởng là người có công xây dựng Hội - là thủ trưởng cơ quan Hội văn nghệ. Tôi làm chân giúp việc cho ông Tưởng. Ông Tưởng viết cái gì đọc cho tôi nghe.

Còn nhớ cái lần Đại hội chiến sĩ thi đua. Chiến sĩ thì cũng kiêu lắm, như ông Nguyễn Quang Vinh đi đâu nói chuyện gì cũng tự khoe Quang Vinh quang vinh. Tôi bảo cái truyện ông Tưởng mới viết xong là giả, không có chiến sĩ nào nghĩ thế. Ông Tưởng bảo: Nhưng viết như cậu hình dung, thì không thể in được. Đấy, ông ấy giả một cách tự nhiên như thế đấy. Giả là bản chất thứ hai của con người.

Nói chung, các ông ấy rất thành tâm trong việc sống một cuộc sống mới. Cơ quan văn nghệ mà vẫn có bích báo, có lửa trại. Tôi đến, bảo ông Thi viết bài, ông ấy bao giờ cũng rất đúng hẹn.

Ông Nguyễn Xuân Sanh cũng có cái ghê của ông ấy. Tôi giữ sách thư viện thấy mấy bài của Tây viết về DBM, tôi kể cho mấy anh em trong cơ quan nghe, thế là ông Sanh không cho tôi đọc nữa. Hoặc như chúng tôi giữ thư viện, tôi cho người phải ưu tiên cho những cuốn của Sartre, của Camus, còn ông ấy, ông ấy toàn ưu tiên cho cuốn của Still (Cuộc giao chiến đầu tiên). Khác nhau rõ lắm.

Ông Hoài Thanh thì khổ hạnh lắm. Sống cũng khổ hạnh. Toàn đi chân đất. Anh em phải phê bình: anh không chịu giữ sức khoẻ. Ở cơ quan ông ấy sửa chữa, đi dép, nhưng đi công tác, lại đi chân đất.
Các ông cứ chê Nguyễn Đình Thi. Nhưng giả thử ông Tuân làm thì cũng thế thôi. Cũng lên gân lên cốt vậy thôi. Có lẽ bảo khiếp nhược thì đúng hơn.

Nghệ thuật Việt Nam không có cái chất kỹ thuật quá đáng (hoá thành ba rốc, hay xuất quỷ nhập thần như nghệ thuật Tàu). Tôi học ở Trung quốc, một ông thày bảo: các anh trẻ, các anh không có kỹ thuật. Trông đây - và đương ngồi trên sập, vỗ đánh bốp một cái vào đùi, đã ngồi xuống chiếu rồi. Nhưng như thế cũng chưa giỏi, võ đánh bốp một cái nữa, từ dưới chiếu lại ngồi trên ghế, vẫn xếp bằng tròn như cũ, mặt không biến sắc. Chung quanh vỗ tay rào rào. Ông xua tay cau mặt: vỗ tay làm gì. Phải để sức mà học.

Hồi đầu kháng chiến, ông Tố Hữu thì uy tín không thể tưởng tượng được. Thử nghĩ, giữa đám trí thức ấy, có một anh cũng mặt trắng thư sinh như mình, mà lại đi tù đế quốc liên tục, tù lên tù xuống, mà vẫn làm thơ rất hay.

- Đảng mình hồi kháng chiến rất giỏi. Cứ cái gì có lợi cho kháng chiến thì mấy cũng làm. Cái gì không có lợi cho kháng chiến thì mấy cũng không.

Vì thế, mới có chuyện đoàn kết trí thức lôi từ cả cụ Phan Khôi đi, đưa Ngô Tất Tố vào Đảng.

- Lại nói chuyện ông Hoài Thanh: ở Thanh Hoá, ông DTM cho in quyển Quyền sống con người trong Truyện Kiều. Ông Hoài Thanh nói ngay: Không được. Bây giờ mà đưa Chinh PhụNgâm ra là không được. (Mà ông ấy nói đúng chứ. Lính mà đọc các của ấy thì chết).

Cũng Hoài Thanh nói: Cái buồn nó ghê gớm lắm. Đến như đồng chí Tố Hữu gan vàng dạ sắt như thế, mà khi đi tù, còn có lúc buồn (Tiếng hát đi đày…)

16-2-90

Một cái gì như sự khiếp nhược của cả một thế hệ?

Ông Tố Hữu lúc đầu ở với anh em, gàn lắm. Những hôm liên hoan, ông hay ngâm Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm của Xuân Diệu. Và hàng ngày càng ngâm nữa. Nguyễn Đình Thi than, quái, cái giọng Huế của thằng ấy, nghe sao cảm động thế. Một lần mặc soóc, lại lơ vê, anh em còn trêu. Ái chà, hôm nay anh lại có mốt mới.

Quan chức đến với ông bắt đầu từ khi ông được thay Trần Văn Giàu, làm Tổng giám đốc đài phát thanh. Rồi vào Trung ương (Nguyễn Đình Thi kể với tôi trong lần gặp ở Moskva : mình viết cho Tố Hữu cái báo cáo, để ông ấy vào Trung ương). Cứ thế mà Tố Hữu to mãi lên. Trong chỉnh huấn, ông Hoài Thanh bảo: Nói ra thì cũng được thôi, nhưng anh em chỉ nghĩ rồi Đảng sẽ nghĩ về mình ra sao, anh Tố Hữu sẽ nghĩ về mình ra sao.

Ông này cũng vừa khít với cái yêu cầu mà lãnh đạo lúc ấy đòi hỏi -- một người rất thông minh trong tổng kết, một người giỏi che chắn, một người dám phũ phàng.

Cái lần ấy vở Voòng Dìn bị đánh, Hoài Giao tức lắm. Nhân có buổi Tố Hữu nói chuyện ở báo Nhân Dân, Hoài Giao cũng ngồi đấy. Hoài Giao nói lửng lơ: Đề nghị anh Tố Hữu nói hay hay vào. Ông Tố Hữu trừng mắt ngay:

- Tôi không biết nói hay, tôi chỉ biết nói đúng.

Chính là Tố Hữu chủ trương, văn nghệ phải đưa vào công nông. Không cần chuyên nghiệp. Ai có tinh thần phục vụ, người đó sẽ có tài. Hồi đầu hoà bình, toàn đề cao mấy diễn viên như Thuý Thuý vợ Lê Đạt là vì vậy.

Có thể do ông Nguyễn Đình Thi nghĩ ra. Nhưng Tố Hữu thì làm đến cùng.

Hồi đầu chiến tranh, có vở Đôi bạn của Thanh Hương, Mạnh Linh đạo diễn. ý của người làm vở mới nhấn mạnh một chút gọi là số phận cá nhân. Tố Hữu nói ngay: không có số phận cá nhân gì cả. Bây giờ vấn đề đặt ra là số phận dân tộc ra làm sao: Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí - đến trong tình yêu cũng phải vậy cơ mà.

Hồi tôi làm Hình và bóng, Tố Hữu ghét lắm. Ông Thế Lữ gọi tôi lại, giải thích: ông Tố Hữu nhận ra ngay. Sao Nghi trẻ thế. Thưa anh, tôi không còn trẻ nữa, bốn mươi tuổi rồi. Thế vợ con ra sao. Cảm ơn anh bình thường. Thế nhưng phê phán Hình và bóng thì rất căng. Tôi cãi lại. Ông ấy không chịu. Báo cáo anh, tôi xin về. Ừ, Nghi về nhé. Cho hỏi thăm vợ con nhớ, lại tình cảm như thường. Sau HVB, tôi làm Âm mưu và tình yêu. Tôi chỉ muốn lưu ý trong đó cái nồng nàn của con người. Cái nồng nàn mà tôi thấy là ở ta, do hoàn cảnh chiến tranh, không có. Vở diễn cũng bị một ông phó bí thư tỉnh uỷ phản đối và phải nhờ ông Lê Văn Lương mới ra được. Ông Tố Hữu sẽ khen cho mà xem, sau khi chê, phải khen. Và quả nhiên, đúng vậy. Tôi đang hoá trang cho một diễn viên, thì một tay cán bộ Sở Văn hoá gọi. Làm cái gì mà ầm lên. Bỏ ngay, bỏ ngay, anh Tố Hữu gọi. Nhưng tôi còn cứ lần chần. Ông ấy đứng ở cạnh cầu thang để chờ. Ôm hôn thắm thiết lắm.

Tôi có một kinh nghiệm : đừng có sai về tổ chức là được. Các ông ấy sợ tổ chức. Còn như tư tưởng chả có gì là chắc chắn cả. Cãi lại rất dễ. Mà không cãi được, cứ im, cũng chẳng sao đâu.

Sân khấu, theo tôi, không có nhiệm vụ thay đổi hiện thực, hay giải hoá con người như thế nào. Sân khấu chỉ tồn tại ở chỗ đời sống như thế nào, thì nó hiện ra thế ấy.

Cái này có thể trông vào một ví dụ, cái phòng giành cho khán giả.

Nếu ngoài đời, người tốt sợ người xấu, người có học sợ kẻ vô học, thì trong phòng khán giả, mọi chuyện cũng tương tự.

Tại sao bây giờ mà diễn Hamlet, Macbet thì người ta lại kêu là cao quá, không ai xem. Thời Shakespeare cũng có bao nhiêu người thường xem, chứ đâu có phải chỉ quý tộc xem Macbet. Thế tại sao bây giờ Macbet vẫn khó đến vậy.

Thật ra, có thể nghĩ đơn giản hơn. Năm 76, tôi dựng Con cáo và chùm nho được hoan nghênh lắm. Mà bây giờ thì không ai xem và kêu là cao, tại sao?

Theo tôi, lý do là vì hiện thời trong sân khấu, đang thiếu một thứ công chúng chọn lọc, công chúng ưu tú, nó giúp đám công chúng bình thường vượt lên và tiếp cận với những giá trị bền vững.

A. Sokolov: Đâu là thế lợi của 50 năm sân khấu cách mạng. Và đâu là thất bại.

Nguyễn Đình Nghi: Tại đại hội sân khấu vừa qua, tôi có một tham luận, mà tôi cho là chua xương nhất, tức được nhiều người khen, mà khó thực hiện. 

Xuất phát của tôi là ở các nền sân khấu trung bình trở lên, đều có répertoire tức là những vở diễn, nó bắt đầu được dựng ở nhà hát ấy, rồi nó cứ mọc rễ ở đấy, có thể lâu lâu nó được dựng lại nhưng nó cứ còn ở đó, và nói đến nhà hát đó, là phải nói đến vở diễn đó. Ở ta, trong 50 năm vừa qua, cũng có những vở đứng được trong ký ức khán giả đương thời. Đó là Chị Hoà, là Đại đội trưởng của tôi, là 3 vở chèo của Tào Mạt. Nhưng không có nhà hát nào tồn tại với những vở của mình. Và bây giờ muốn xem những vở ấy, thì không biết xem ở đâu cả.

Châu Âu được cái gì -- cái viết. Một tác giả châu Âu có vài chục vở cả một nền sân khấu trước chúng ta tồn tại 200 năm nay, đếm được 10 vở chơi sang.

Cái mà ta được chính là cái diễn đó.

Ngay ở phương Tây (ví dụ ở Pháp) người ta có nhấn mạnh tính sân khấu của một vở diễn, thì cũng là một thứ tính sân khấu rất gần đời sống. Ca trù, trên nền cô đầu là gì. Nó là đoá sen trong bùn. Bởi lẽ là một nghệ thuật như thế, tiếc thay, lại phải cứ phục vụ ở cái chuyện mua bán thân xác người phụ nữ.

Cái gì là được của sân khấu 50 năm qua? Là nó bảo tồn được tuồng và chèo ở cái thời điểm nó có thể chết vì không cải cách.

Tại sao tôi không làm

Đặc tính của sân khấu dân tộc so với sân khấu mới tập thể // cá thể hoá; lặp lại // độc đáo; thành mô hình // không thành mô hình

- Một là tôi phá truyền thống tôi không đủ sức.

Hai là tôi đánh mất tôi. Một người như anh Tào Mạt, làm được nhiều lắm, nhưng vẫn chủ yếu là trên phương diện kịch bản.

Một nhà nghiên cứu nước ngoài nói sân khấu, đó là phương Đông.

Chỉ có phương Đông là biết diễn, còn ở phương Tây, là ý thức làm đúng như đời sống.

M. Marxô xem Thị Màu thích lắm, một sự tổng hợp nhuần nhị.

Họ bảo: Sân khấu truyền thống ta, xem rồi thì rất hiểu con người Việt Nam (còn xem kịch hiện đại, chẳng hiểu gì cả).

Như chèo, không những thấy độc đáo, mà còn thấy nó là nghệ thuật.

Nó chín trong cách của nó.

Nó chứng tỏ con người dân tộc này không thể ngồi yên mà phải động đậy phải thét lên, phải huy động sức lực để tồn tại nên hình ảnh của mình. (Còn tuồng, họ chê là lắm lời).

*

Về mối quan hệ của ông bố tôi với Xuân Diệu.

Khoảng 1982-83 gì đấy, khi Thế Lữ tuyển tập được in ra, nhân một cuộc họp ở Hội Nhà văn, ông Tuân mới bảo tôi:

- Này ông Nghi ạ, thì ra bây giờ ông Diệu ông ấy đã phải công nhận công lao của bố ông rồi đấy.

Chả là trong Thế Lữ tuyển tập có bài Xuân Diệu ghi hộ ít đoạn học ký của Thế Lữ, để đền đáp sự tận tình của Thế Lữ lúc Xuân Diệu mới bước vào văn đàn.

Nhưng mà hồi kháng chiến thì đâu có vậy.

Nét đặc biệt trong tính cách của Xuân Diệu là khi cần, rất tha thiết sau lại phủi tay ngay. Ngay từ trước 1945, ông ấy đã phủi tay với đám Tự Lực rồi cơ mà.

Thơ thơ lần đầu, do Đời Nay in, còn đề rõ Xuân Diệu trong Tự lực văn đoàn.

Đến 1943, tái bản, đã bỏ rồi (bản NXB Huy Xuân).

Xuân Diệu hay nói với mọi người rằng hồi ấy, Tự lực thế to quá nên mình phải làm thế, để có thể đến với văn học (Nhàn: xem Bùi Hiển trong cách mạng kháng chiến và đời sống văn học).

Nhưng một lần tôi nghe ông bố tôi nói với một người bạn

- Lúc vào nghề, Xuân Diệu quỵ luỵ với mình lắm.

Một lần họp ở Việt Bắc, Huy Cận phát biểu:

- Tự lực văn đoàn không hề có công trong việc đào tạo tài năng.

- Thế Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyên Hồng thì sao? - Bố tôi hỏi lại.

- À, trong câu hỏi của anh Thế Lữ đã có sẵn câu trả lời rồi- Huy Cận ứng đối ngay.

Tôi mới viết một bài về sân khấu dân tộc, đại ý là:

- Sân khấu dân tộc phải cảm ơn cách mạng lắm. Vì nhờ có cách mạng, sân khấu dân tộc mới được hồi sinh.

- Nhưng lạ một cái, sân khấu dân tộc là con nuôi thì còn, mà sân khấu cách mạng là con đẻ thì mất. Anh có nhận thấy, mấy chục năm nay, các vở của ta, được hoan nghênh một thời, rồi chết luôn. Không ai nghĩ lại mang những Bắc Sơn, Chị Hoà, Đại đội trưởng của tôi dựng lại thành kịch mục thường xuyên ở các nhà hát.

Thế thì tại sao?

Vì chúng ta coi sân khấu là công cụ.

Mà công cụ dùng xong thì bỏ đi. Đấy là sân khấu cách mạng.

Còn như sân khấu dân tộc ấy ư, lúc ta tiếp nhận nó, ta xem nó như gia tài của cha ông để lại.

Có lần, đầu 1973, cũng được mang sân khấu dân tộc đi Paris đấy chứ. Nhưng mang gì? Lưu Bình Dương Lễ ư? Vậy là dám nói rằng ở ta phổ biến chuyện vở cả vợ hai. Quan âm thị Kính ư? Phụ nữ ta toàn lẳng lơ như cô Màu? Không được.

Thế là sân khấu dân tộc ta thoát.

Một nhà nghiên cứu ở phương Tây đã bảo:

- Diễn kịch đó là phương Đông. Ở Phương Tây, chỉ có kịch bản.

Tôi thấy nước ngoài họ công bằng với ta, chứ không nói hão đâu.

Như bà Ba Lan Markoviwch, bà ấy kể:

- Lúc đầu các anh cho tôi đi xem Câu chuyện Iếc kút, tôi tởm lợm quá.

- Tôi tưởng cái đó là hay.

- Kịch bản hay, nhưng cách diễn của các anh làm tôi tởm.

Đến hôm đi xem Suý Vân tôi mới thấy được giải toả. Nó như gột sạch cái tởm lợm tôi bắt gặp, từ buổi xem Iếc kút.

Không thể quên được, sau khi Suý Vân chết, lại xuất hiện anh hề. Nghĩ kỹ ở đây mới thấy cái đó không phải vô lý, nó chứng tỏ ở đây xã hội dửng dưng với những bất hạnh của một con người như thế nào?

Vậy là họ nói thực lòng chứ gì.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét