Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2019

Tùng Duy Hi: Người Dắt Lạc Đà (Nguyễn Văn Thực dịch từ tiếng Hoa) (Kỳ cuối)

Người Dắt Lạc Đà

Tùng Duy Hi

*3*

Liễu cát

Từ sau khi ông mua con lạc đà già này, thì ông đã đốt trên mông lạc đà ba chữ ”Hồng Đức Chương” rõ lớn, thứ nhất ông ta sợ mất, thứ hai ông cảm thấy cuộc đời của ông ta và con lạc đà giống nhau ở chỗ cả hai cũng đều có cuộc đời của những con thú tải hàng nặng. Khi đi sau lạc đà, chuyện luôn luôn thấy được ba chữ ”Hồng Đức Chương” làm cho lòng ông sầu khổ bội phần. Do đó vừa đi gần được hai bước, ông ta lại chạy lòng vòng đến phía trước lạc đà. Nghiêng nghiêng cổ nhìn mặt trời, mặt trời đã lên cao một con sào; ngóng đầu nhìn Chùa Lạt Ma, lúc này khoảng cách cũng đã rút ngắn. Rõ ràng đây là cái cổng quái dị của vợ anh, ông chạy trước lạc đà, cố vứt đi khỏi tâm trí những chuyện ”lừa què” ”thớt xay bể” mà không vứt được. Đột nhiên ông giải thoát được muộn phiền: Vợ ông linh hiển! Vợ ông còn nằm bên cây liễu cát, vào lúc này, vợ ông đang nhìn chồng mình đang dẫn lạc đà tới, ông không rành lắm ngôn ngữ ký hiệu thì làm sao bây giờ!

”Anh sống một mình được lắm.”

”Cái con lạc đà già này đi với anh rất thân thiết.”

”Cái con lạc đà già này có cùng linh tính với em đó! Có một ngày, anh dẫn lạc đà đi ra ngoài lượm củi, nó chết sống gì cũng không muốn ra khỏi cổng. Anh cứ nghĩ nó bị mệt sao đó, anh tròng vào cổ nó sợi dây thừng, tay cầm một cái liềm, anh chỉ vừa mới ra khỏi cổng, nó đang nằm cuộn người dưới đất, nó trỗi dậy, dùng miệng cắn đứt hai chiếc nút trên bộ đồng phục bốn túi của anh. Anh chửi nó, bảo nó buông ra, thế là anh phải quay lại ổ rơm của anh mà đính lại mấy cái nút. Vào mùa này bão cát mù trời mù đất đã qua rồi. Em yêu, con lạc đà nó yêu anh thắm thiết y như em yêu anh vậy!”

”Em yêu, gom đủ tiền, anh sẽ dựng bia mộ cho em. Được không em?”

Hồng Đức Chương nghiêng cổ, nhìn về hướng có cây liễu cát nhánh khô thân kiệt lẩm bẩm. Ông cảm thấy đau đau nơi cần cổ, bèn ôm hai má, vặn qua vặn lại mấy cái, cúi lưng, cúi đầu xuống, vươn người lên, rồi dẫn lạc đà đi ra phía trước. 

Con đường dưới gót chân ông, ông vốn biết quá rõ. Nơi này trước kia chính là bờ sông mà ông đã bới móc cát, đá, đào xong một bận lại chuyển tới lán chung một bận, nếu ”Văn hoá đại cách mạng” không đóng cửa xưởng sản xuất đá sa thạch thì dám là phải đào cho tới tận chân trời lận! Năm đó đã đào đến thôn ổ trong sa mạc rồi, hồng vệ binh sợ hụt, đã nhanh chân đến trước móc cho được ”con chó sói” ra. Đồng thời một số đã dùng xe jeep chạy tới nguyên quán để vả mặt, để đấu tố gia đình nạn nhân; Hồng Đức Chương vốn không có thân nhân ở nguyên quán, nên họ tiến hành điều tra ông tại nơi ông trú ẩn trong sa mạc.

”Mày là cái thằng khốn nạn làm gián điệp cho đế quốc Mĩ!”

Hồng Đức Chương quỳ dưới đất không nói một lời nào –ông ta đã hơn chục năm nay là một gã câm. Vợ ông dạy ông dùng tay mà nói chuyện, cơ năng của miệng và lưỡi dần dần đã bị thoái hoá. 

”Cái thằng khốn nạn, mày có khai hay không khai đây này!” Dây trói da và gậy gộc đã chuẩn bị sẵn.

Hồng Đức Chương thì thào như tiếng muỗi bay: ”Tôi chỉ từng là một tù binh thôi mà.”

”Mày có tham gia tổ chức phản cách mạng nào không?”

Hồng Đức Chương lắc đầu nhè nhẹ, vẻ thoi thóp như như quả lắc đồng hồ sắp ngừng.

”Xăn tay áo lên!”

Hồng Đức Chương không thể ngờ rằng hồng vệ binh biết được cả cái bí mật trên cánh tay ông. Vào những lúc trời nóng như thiêu như đốt trên bãi sông đào đá, cả hơn mười năm ông không một lần mặc áo cụt tay. Vợ ông hiểu rõ mối đau khổ thầm kín của chồng mình, tại mỗi cổ tay áo của chiếc áo bó sát thân, chị đính một cái nút, phòng khi ống tay áo bị gió thổi bốc lên, tai hoạ sẽ ập tới. Năm 1963, người ta treo trên hai lán của chuồng ngựa khẩu hiệu: ”Mọi người không được quên cuộc đấu tranh giai cấp”, ngay cả trên những máng ngựa, người ta cũng gắn đầy những khẩu hiệu hoa hoè. Vào lúc này, có một lần Hồng Đức Chương gọi bà vợ câm của mình lại, biểu dùng than đang cháy đỏ rực thui cho tiệt hàng chữ ấy, người vợ không muốn xuống tay, Hồng Đức Chương chụp lấy cục than hồng đang cháy rực, gồng mình nghiến răng lăn cục than hồng trên cánh tay của mình, ông kêu lên: ”Ối!”, trên cánh tay làn khói như khói cháo cháy bốc lên thịt người ông. Hồng Đức Chương đau đến ngã xỉu xuống đất, khi tỉnh dậy, bà vợ câm, giống y như mèo liếm cháo, lấy đầu lưỡi liếm vết thương chồng mình; ông nhìn chằm vào cánh tay máu thịt tơi bời, một chữ bị cháy tiêu là chữ ”Phản”, cắn răng, với quyết tâm ”một là làm, hai là dẹp”, ông ép bà vợ gắp cục than hồng đốt luôn chữ thứ hai: ”cộng”, còn lại hai chữ ”đến cùng” thì chúng chẳng bao hàm ý nghĩa chính trị gì ráo, người vợ bất cần biết, bà nhất quyết không làm, ôm lấy chồng, lật qua lật lại một cánh tay nát như tương, rồi khóc mãi cho tới khi trời rạng đông. Thật là cái bọn gian ác.Cánh tay, không dùng một loại thuốc chống viêm nào, nhưng thật bất ngờ, dần dần phục hồi, chỉ còn lại hai lỗsẹo đen tối. Bây giờ, hồng vệ binh bắt ông xăn tay áo lên xong, ông tự biết khổ nạn của kiếp người sắp đến, chỉ biết phó cho Trời Đất, cho định mệnh, thế rồi ông chậm thật chậm vén cổ tay áo lên, cánh tay lộ ra.

“Chạy trời, chẳng khỏi nắng! Mày có nghĩ rằng mày có thể che giấu chuyện làm gián điệp của mày bằng cách lấp liếm hai từ phản cách mạng đó mà được à? Tao báo cho mày biết rằng cái tập hồ sơ của mày sẽ theo mày suốt đời. Nói đi! Mày đang hoạt động bí mật ở đây, mấy đã nhận nhiệm vụ gì?”

“Tránh võ dưa lại gặp vỏ dừa. Mày cứ nghĩ rằng mấy khoét hai cái chữ phản cách mạng ấy là mầy che giấu được cái bản mặt gián điệp của mày hay sao? Tao nói cho mày biết. Cái lý lịch của mày sẽ theo sát mày suốt đời. Khai mau! Mày mai phục ở đây, và cuối cùng mầy được giao cho nhiệm vụ gì?”

“Cho ngựa ăn.”

Gậy gộc, thắt lưng da túi bụi quất xuống. Hồng Đức Chương ngã chúi xuống đất.Ông mơ hồ nghe hồng vệ binh bàn bạc cần phải chặt một cánh tay của ông.Sau khi tỉnh dậy, ông thấy rằng mình nằm trên mặt đất,thân còn nguyên vẹn, mặc dù toàn thân ông đau đớn không chịu nổi, cánh tay vẫn còn đó trên cơ thể ông. Một người lái xe bò kéo đá sa thạch như ông, nói với ông ta rằng người đàn bà câm của Hồng Đức Chương đã giải thoát chồng mình khỏi hiểm nguy, đúng lúc những hồng vệ binh sắp sửa cắt gân cốt của ông thì bà ta tóc xoả như một con ma nữ đột nhập vào phòng thẩm vấn, “Đây này, đây này!”, khua tay khua chân một lượt, lôi trong túi ra một tờ giấy, trong đó viết là bà ta biết một số người phản cách mạng tối nay sẽ sử dụng chất nổ đánh sập tổng hành dinh của bộ chỉ huy chống tạo phản, hồng vệ binh vứt một Hồng Đức Chương ngất đi lúc nãy, bồng lấy người đàn bà câm nhét vào xe jeep rồi chạy vù trở lại thành phố.

Khi người đàn bà câm này trở lại ổ rơm của mình trong sa mạc, ống tay áo lẫn miệng, cả hai đầm đìa máu tươi vì hồng vệ binh đã trừng phạt bà, không phải dùng gậy gộc dùi cui đánh cho chết mà cắt đứt năm ngón tay viết được chữ của bàn tay phải, làm cho bà phải trở lại người đàn bà câm nguyên thuỷ, tàn phế lại làm cho tàn phế thêm, nhưng những cái gai của những bụi cây gai lạc đà, thật không ngờ, lại bảo toàn được thân xác bà, nhẫn nhục chịu đựng cái kết thúc của hồng vệ binh dành cho bà. Xưởng đá sa thạch giải tán doanh vụ. Ai có nơi nào để đi, thì đã đi rồi, còn lại là một số thợ đào đá an cư nơi những thôn ổ trong sa mạc.Hồng Đức Chương và người vợ câm bị cắt năm ngón tay vừa kết thúc cuộc sống lang thang năm này qua năm khác. Trong mắt của Hồng Đức Chương, người đàn bà câm ấy là hiện thân của một nữ bồ tát, chưa chi đã bỏ ông mà lên thiên đường. Tưởng không cần phải nói rằng sự đau buồn của Hồng Đức Chương, những người làm ăn chung với ông lúc trước ở thôn ổ sa mạc, lần đầu tiên là sau hơn một thập kỷ, đã tổ chức một lễ tang cho bà vợ ông. 

Vào ngày đưa đám tang, sa mạc tuyết lông ngỗng đổ dày. Họ kéo một chiếc xe có sàn phẳng mà họ dùng để chở đá lúc trước và đặt trên đó chiếc quan tài mỏng dính, Hồng Đức Chương kéo chiếc xe và những người bạn cũ kẻ kéo trước, người đẩy sau. Con đường sa mạc cát vàng xe khó lăn bánh, ẩm ướt, nhầy nhụa, lại dài gần cả chục dặm. Người đàn bà câm được kéo tới xưởng đá, nơi mà Hồng Đức Chương hồi ấy được giao cho công việc cho ngựa ăn trong một chuồng ngựa, và bà được chôn ở đó – Đó là nơi mà người đàn bà câm đã giao thân choHồng Đức Chương. Ở trong sa mạc không có hoa tươi đỏ thắm, cũng không có bờ cỏ xanh, cho nên sau đó một vài người bạn đã đào bứng một số cây gai lạc đà và chuyển tới trồng quanh mộ. Có một vài cây gai lạc đà vì không quen thuỷ thổ nên đã bị chết khô, có một vài cây sống sót được, tới mùa hạ thì mọc lan quanh ngôi mộ và chúm tay dâng những đoá hoa xanh lam nho nhỏ.

Hồng Đức Chương coi những đoá hoa xanh là hoá kiếp của linh hồn vợ mình, rồi ông còn mua một bộ đồng phục xanh lam công nhân mà mặc. Ông nghĩ bộ đồ cùng màu với những đoá hoa lạc đà gai, và đồng xương đồng lòng với vợ.

Chiếc chuông lạc đà bỗng nhiên bị vỡ. Con lạc đà, bỗng nhiên, chân cũng chững lại, làm cho Hồng Đức Chương, tay đang kéo cương con lạc đà, thân phải chúi lại phía sau. Ngẩng đầu lên nhìn, thì thấy bay lên trước mặt một con rồng khói vàng, và nó lượn theo con đường xưa cũ dẫn tới Chùa Lạt Ma, bay lướt theo cả bốn chiếc xe, biển màu trắng trên nóc xe. Ông đã đi qua nhiều phố thị ở Miền Tây Bắc, và ông biết rằng những chiếc xe này là xe tắc xi. Xe bị phủ một lớp bụi dày. Ông đoán chắc là trên những xe ấy hẳn có người Tây ngồi trong đó, vì những tay mục tử, cả già lẫn trẻ, đã thuê xe chở súc vật đến chợ phiên trước chùa để bán, xe họ không có biển cho thuê trên chóp xe. Có lẽ tại chợ phiên trước Chùa Lạt Ma, những may mắn trong quẻ sẽ được ứng nghiệm, và chuyện tốt đẹp như chuyện tiền tự trời rơi xuống ở cầu lớn Trương Gia Khẩu sẽ tái diễn.

Đoàn xe chạy ra xa và nhỏ dần như những hộp diêm. Hồng Đức Chương kéo con lạc đà và quẹo vào con đường xưa cũ. Nó bỗng rảo bước nhanh hơn trước nhiều. Ông bỗng nhớ tới ẩn dụ trong câu “Tương lai gậy, trượng mọc mầm”, và ông không hãm được sự xao xuyến, ông cứ sợ sẽ có một người dắt lạc đà thứ hai trong chợ phiên trước chùa, và kẻ ấy sẽ chộp, chộp khỏi ông cái gì đó – cái đó là cái gì thì ông cũng chưa được rõ. 

Cuối cùng như thuở còn trẻ phóng lên lưng ngựa, ông xoay người và nhảy lên lưng con lạc đà. Cái đà phóng nhẹ nhàng, đúng lúc và dáng dấp đang đi của một con lạc đà cổ đang rụt cổ, cả hai có một vẻ gì đó chõi nhau. Con lạc đà già rất trung thành với ông chủ, lúc đầu nó chạy chầm chập, lắc ít ít, rồi sau đó nó chạy như phóng. Bây giờ thì nó dồn hết cái sức già của nó, hào hển chạy bay tới bức tường đỏ. Hồng Đức Chương, ngồi trên lưng con lạc đà, vươn cổ hối hả ngóng nhìn: A di đà Phật, trên chợ phiên trước chùa không có người dắt lạc đà thứ hai nào.

*4*


Ông ta chậm rãi cho con lạc đà nằm xuống. 

Những người bu quanh ông đầu tiên là những người đến từ ba Châu từ Miền Nam: những người bán rong quần áo từ Ôn Châu, Phúc Châu, Quảng Châu. Có lẽ đây là lần đầu tiên bọn này thấy một con lạc đà cao phương bắc. Khi Hồng Đức Chương trèo khỏi con lạc đà xuống, bọn họ bắt đầu nhao nhao với ông: 

"Bác ơi, cho tôi mượn con lạc đà chụp hình được không vậy, bác.”

"Chụp một tấm thì ông cho tôi bao nhiêu tiền đây?” Hồng Đức Chương không nói quanh co. 

“Chà lão ngố này còn đòi tiền trao tráo múc nữa đấy. Cái lão già bần tiện này đang giở trò kiếm chác rồi đây.” Nam Man cười he he và chế diễu lão Bắc Quốc hai má lấm lem cát bụi. 

"Rồi sao! Thế các người không bôn ba hơn 8 ngàn dặm tới đây buôn bán thì không vì tiền là vì gì?” Hồng Đức Chương chỉ dám chửi thầm trong lòng. Để bù lại chuyện thua cơ, ông ta cười: “Vào lúc mà bố của tụi bay đây này phải vượt 18 ngàn dặm, ôm súng vượt sông ra trận, thì tụi bay ở nhà ôm đéo vợ người ta.”

“Này bố già ơi, đến đây mà mua một cái khăn trùm đầu cho vợ bố. Nhìn riết cát sa mạc, rồi có lúc cũng mờ mắt. Mở to mắt ra mà nhìn, đây là hàng Hồng Kông nghe bố!”

Hồng Đức Chương bỗng nổi nóng: "Lấy cái giẻ trải lưng ngựa mà nhét vào kẽ háng bà cố nội mầy!” Nói rồi, ông dắt lạc đà mà đi.

Một đám con phe từ phương Nam tới đây mà dám nói về người vợ quá cố của ông khơi khơi như vậy sao? Hay là vì Hồng Đức Chương, giữa những cái đầu của đám người tụ tập nhốn nháo này, không thể kiếm ra người có tóc vàng? Gì thì gì đi nữa, mặt ông mỗi lúc mỗi sa sầm, như đám mây đen leo lên bầu trời sa mạc. 

Bốn chiếc xe tắc xi với biển trắng trên vòm xe rõ ràng ràng đang đậu ở góc quảng trường. Ông dáo dác tìm, mà vẫn không tìm được người ngoại quốc mà ông muốn tìm. Thất vọng, ông bỗng thấy toàn thân kiệt sức và ông dắt con lạc đà tới một cây bách phía ngoài cửa chùa và cột ở đó. Ông dựa vào chân tường đỏ thắm, lôi một nhúm thuốc rê, cuộn một điếu, đưa lên miệng mà hút. 

Ông tự trách mình đêm qua lắc xăm mà lòng không thành. Ông nhớ rất rõ lúc đó ông vừa ngậm điếu thuốc rê trong miệng, vừa thầm lặng niệm kinh cầu xin trong lòng, nhưng không thành tâm. Lòng không thành, tất quẻ không linh, người mà trêu chọc với thần thánh, thần thánh sẽ trêu chọc lại người. Chuyện này người ta gọi là quả báo, đi 18 dặm đường cát bụi thì cũng là đáng đời. 

Thấy trời đã đứng bóng, ông vứt đi tàn thuốc, than lên một tiếng dài, vừa chỗi dậy, bỗng nhiên thấy từ phía trong cổng chùa đi ra một số nam nữ quần áo kỳ dị, màu mắt khác thường, A di đà Phật, có cả đầu tóc vàng, có cả đầu tóc đen, không biết đó là người ngoại quốc hay Hoa kiều trở về nước du lịch, máy chụp hình treo nơi cổ thòng xuống tới ngực, thần kinh của Hồng Đức Chương đang chùng liền căng lên cái một, từ chân bức tường, hét lên một tiếng rồi bật dậy, nghĩ là cứ chạy đến mà nói với họ một tiếng, nhưng rồi thiếu cái mặt dày của bọn “con phe”, ông bỗng nghĩ ra một kế, ông đưa tay hướng về cái cổ của con lạc đà, ông lắc leng keng leng keng cái chuông lạc đà 

Cái chiêu này thì thập phần linh nghiệm, nhóm du khách quay cổ lại và đi về phía con lạc đà. Hồng Đức Chương nắm ngay cơ hội, trước tiên chỉ vào con lạc đà, rồi giơ hai tay lên tầm lông mày, và làm một cử chỉ chụp hình; mấy người tóc vàng lẫn tóc đen quay về phía ông cười cười rồi chạy về phía con lạc đà. 

Đúng là thánh nhân đãi kẻ khù khờ. Phần dưới gốc của cây bách cổ thụ trồi ra một cục bướu to thiệt là to, dùng nó làm bệ để trèo lên lạc đà thiệt là tốt, trên có nhánh cây bách tươi xanh, hậu cảnh lại có bức tường đỏthắm của chùa, với một góc nhắm rộng, có thể chụp được cổng Chùa Lạt Ma lọt vào trong bối cảnh, cho nên nhóm du khách này trở thành khách hàng của Hồng Đức Chương. Du khách, kẻ trước người sau cởi máy chụp hình ra khỏi cổ, chuẩn bị chụp kỷ niệm một tấm với giống lạc đà sống phía bên kia Vạn Lý Trường Thành. Nhưng vì nhiều người mà lại ít lạc đà, một số du khách ngoại quốc ngỏ ý muốn chụp hình con lạc đà trước, nên cô hướng dẫn tóc dài xoả xuống vai đành phải đứng ra làm vai người “hướng dẫn chương trình trên sân khấu” : Cô dùng cái giọng ngọt ngào của cô trước tiên cho du khách trèo lên lạc đà theo thứ tự, sau đó nói với du khách chụp giùm để họ chụp.

Chuyện chụp hình lạc đà lại sinh ra tùm lum chuyện khác, khách cỡi trên lưng lạc đà trăm kiểu, nghìn cách, làm vỡ những tràng cười to hết cỡ. Hồng Đức Chương đứng bên cạnh như một cây khô bị sét đánh, mất cái niềm vui mời khách hàng. Những du khách biết điều, họ dúi vào lòng tay ông một tờ đồng nguyên họ đổi được hay ngoại tệ, ông hững hờ không nhìn vào tờ bạc để biết là bao nhiêu, mà nhét tiền vào túi một cách máy móc. Ông, thần sắc hoảng hốt, nhìn chăm vào một du khách Hoa kiều, vì cô hướng dẫn tóc dài ngang vai sắp xếp du khách cho có thứ tự xướng lên tên của một vị đáng kính gọi là Lý Quảng. Cái tên này vừa lạ vừa quen, trước hết nó làm cho tim ông run lên, rồi ông như chết sững.

Ông mở to hai con mắt khô kiệt của mình rồi cẩn thận nhìn chăm chú vào vị có đầu tóc hoa râm ấy. Nước da trắng và chiều cao trung bình, tất cả ăn khớp với con người cách đây 30 năm trước; chỉ khác cái bụng trong lớp tây phục kia, có hơi nhỉnh, trên má đã có nhiều đường nhăn, trên mũi lại đeo một cái kiếng gọng vàng. Con người, ai cũng phải già. Có thể nào đây là anh chàng đẹp trai ngày ấy đã chạy đến “Cửa Nam”?!

Ông du khách già chẳng biết là Hồng Đức Chương đang nhìn lén mình, ông đang đứng trên một ụ đất, vươn cổ như đang ngóng nhìn sa mạc bao la. Một lúc sau ông rút khăn mù soa lau tròng kiếng, nhìn chái cong của Chùa Lạt Ma. Chẳng bao lâu tới phiên ông leo lưng lạc đà, ông chậm rãi bước về phía Hồng Đức Chương. Hồng Đức Chương,theo bản năng,cúi đầu chào ông ta, và nói thầm trong miệng:Không phải là hắn ta, đây không phải là hắn ta, chắc chắn là vì con mắt ta vốn đã khô kiệt lại còn có mộng mà thôi. 

Một đôi giày bóng lộng, bước lên cục u tròn tròn trên thân cây, vừa khi ông ta xoay người để cỡi lạc đà, thì cũng là lúc bàn chân ông ta đột nhiên bíu chặt trên u cây, không động đậy. Hồng Đức Chương ngóc đầu nhìn nhìn, nói lắp bắp, nguyên lai là vì ông du khách già hai mắt cứ nhìn chăm vào hàng chữ đốt trên mông con lạc đà. Tim Hồng Đức Chương đập như trống đánh, đập thình thịch loạn cả lên. Ông già vỗ vỗ lên trán, như thể để nhớ lại điều chi đó mà ông quên đã lâu. Đôi má trắng ửng hồng lên, ông ta từ từ quay đầu lại. Ánh mắt phóng trên bộ đồng phục màu xanh lam, rồi lượn lờ trên đó, và với giọng khàn khàn hỏi:

“Lạc đà này là của ông?”

Hồng Đức Chương cảm thấy đầu căng ra như đang thi đấu:

“Lạc đà mượn.”

“Người chủ lạc đà ở đâu?” Trái cấm của ông già cứ chao lên chao xuống trên cổ. 

“Người chủ lạc đà là bạn của ông?”

Hồng Đức Chương nhìn xuống đôi giày đế mủ với mặt trên đã rách bươm, đồng thời hai chân cứ bối rối đổi qua đổi lại:

“Họ hàng.”

“Ồ!”

Trong khi Hồng Đức Chương ngẩng đầu lên và nhìn lén ông già, thì ông ta đã ngồi đâu vô đó trên lưng lạc đà. Ông ta gom lại mái tóc trắng bị gió thổi bay tơi bời, sửa dáng theo ống kiếng máy ảnh đang kéo ra cho thích hợp, rồi cười vui vẻ, thoái mái, an nhàn thôn dã, ông còn giật giật giây cương trong tay; rồi còn làm ra cái vẻ đang nhàn du trên lưng lạc đà. Du hành với những người bạn du lịch đầu vàng lẫn đầu đen, trận nói xôn xao, sóng cười cao vút. Mượn cơ hội này, Hồng Đức Chương nhìn chăm chú vào mu bàn tay của ông già đang nắm cương, lòng Hồng Đức Chương chìm xuống, chìm xuống trong mỗi trận cười, và trong một thoáng rơi xuống thung lũng sâu vạn trượng…

Ông cảm thấy trời xoay mòng mòng, đất sụm xống, rồi ông ngồi bệt dưới chân tường Chùa Lạt Ma, nghĩ ngợi âm thầm: Ông Trời Già có mắt mà không có tròng, vì cớ gì đã cho tôi, Hồng Đức Chương, được đến tận chỗ chợ phiên này, dắt lạc đà kiếm tiền, họ cỡi lạc đà họ cho tiền, rồi lại dính tới chuyện hàng chữ Hồng Đức Chương, chữ lớn, đốt trên mông lạc đà, lúc này đang bị ép dưới đít của lão già Hoa kiều kia. Ông muốn khóc to mà không nhỏ lệ, muốn hét nhưng khó mà thành tiếng, lục phủ ngũ tạng như đang bốc cháy, ông, từ trên xuống dưới, cảm thấy như thiêu như đốt, đau đớn không thể nào chịu đựng được nổi. Ông sợ tóc vàng lẫn bọn tóc đen, nhìn cái vẻ lạ lùng trên khuôn mặt ông ấy, ông cầm lấy mép mũ kéo xuống che lấy mi mắt, rồi như người bị đau tim, ông nằm co dưới chân bức tường của chùa, bất động.

“Tiền… tiền…”

Hồng Đức Chương không đưa bàn tay ra.

“Này chú dắt lạc đà, tôi có vài điều muốn nói với chú.” Ông già cúi cái vành bụng hơi nhỉnh của mình. “Chú có thể nói cho tôi biết người chủ con lạc đà ở chỗ nào được không?”

Hồng Đức Chương trơ như tượng đất.

“Xin lỗi chú, thế ông ấy công tác ở đơn vị nào vậy?”

Hồng Đức Chương, giòng nước mắt cay đắng bỗng trào ra khỏi hốc mắt, gục đầu mình vào giữa hai đầu gối.

Có tiếng nói ngọt ngào của cô hướng dẫn viên du lịch: 

"Này đồng chí dắt lạc đà, ông Lý ấy muốn hỏi ông điều gì đó! Đồng chí trả lời đi chứ, ông kiều bào này muốn gặp người chủ lạc đà ấy.” 

Hồng Đức Chương bị dồn vào chân tường trước chuỗi lời này. Đột nhiên ông lấy cổ tay áo che hốc mắt lại, từ chân tường nhảy dựng lên như một trái banh da, hét to tới khàn cả giọng: 

"Tôi là một kẻ mù…”

“Tôi là một thằng câm..."

Hồng Đức Chương kiệt sức, không chịu đựng được nữa, lại ngồi xuống chân bức tường của chùa. Tiếng ồn ào không đập vào tai nữa, mọi sự lại trở về trong thinh lặng. Đã lâu lắm rồi, ông mới nghe tiếng chim kêu phảng phất trong cây bách. Hồng Đức Chương mở mắt ra. Bóng cây đã nghiêng, chợ phiên cũng vừa vãn. Sau khi đã tỉnh giấc khỏi cõi hỗn độn nửa mơ nửa tỉnh, ông cảm thấy đói bụng. Nơi bức tường chùa, ông chống tay, loạng choạng đứng dậy, thấy quầy bán bánh rán vẫn chưa dọn, bèn tính mua hai cái để ăn, ông chỉ cần bước hai bước, mà ông vẫn đứng trơ ra đó. Nguyên do ông ta dựa vào bức tường là vì bị choáng váng, một ít tiền ông kiếm được và ngoại tệ mà du khách đã cho ông, tất cả đã bị “bọn móc túi” thọc vào túi ông lấy mất đi rồi. 

Ông to họng chửi lung tung một trận nơi đường chính.

Sau đó, ông lại tự chửi mình sao lại đến nơi này cho khổ. 

Khi ông cảm thấy miệng khô, lưỡi rộp, tới lúc đó ông mới nhớ con lạc đà đứng bên đường. Quay đầu nhìn qua, con lạc đà vẫn chưa bị dắt đi. Nó đứng nhìn vào bức tường, nhắm mắt, trơ như gỗ, không yêu, không ghét, không buồn, không vui, cũng như thế, nhìn bức tường thắm đỏ của chùa, chủ nó lặng thinh cầu nguyện… 

Tùng Duy Hi

sửa chữa xong 22 III 1988 

* Trong nguyên bản dùng chữ : tâm-điền: tấm lòng; không ăn nhập gì ở đây; có thể là lỗi đánh máy.

*Khi trao đổi tù binh, tù binh Trung Cộng được phép chọn “Cửa Bắc” về lại tổ quốc Trung Cộng, hoặc “Cửa Nam” về phía Phe Tự Do. 





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét