Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2019

Lý Đợi: Phỏng Vấn Nhà Văn Cung Tích Biền (Kỳ cuối)

“Đành lòng sống trong Phòng đợi của lịch sử”
Kỳ II


Lý Đợi: Thưa nhà văn, chừng như ông chung thân bất mãn. Hai chế độ từng sống không chế độ nào là lý tưởng đối với ông. Ông bằng lòng đi dưới hai làn đạn?

Cung Tích Biền: Quả đúng như thế. Đây là một bất hạnh. Nhưng không riêng tôi chịu loại bất hạnh này. 

Từ khi được gọi là thành niên tới ngày hôm nay, tôi đã sống 21 năm trong nước Việt Nam Cộng hoà, 31 năm trong Xã hội chủ nghĩa. Cộng lại hơn nửa thế kỷ. Tôi chưa từng dùng ngòi bút ca ngợi bất cứ một chế độ đương quyền nào. 

Theo tôi, một chế độ chân chính lương thiện, thì đây là việc bình thường trong vai trò trị nước. Không có chi phải ca ngợi. Mà lãnh tụ loại xịn này không cần ai bồi bút. 

Một chế độ cưỡng chế tư tưởng, rào chắn dân chủ, xem nhẹ nhân quyền, tham ô, mãi lộ, thì dân chúng có quyền lên tiếng góp ý, phản đối, đối lập, thậm chí nổi dậy, cũng là sự thường. Sự phản kháng trong trường hợp này là biểu tỏ của lương tri, là tôn trọng danh dự giống nòi.

Nếu chúng ta xem cái “Sống của một đời người” là chỉ cuộc ký gởi vào một Cõi Tạm, thì Miền Nam Cộng Hòa mà tôi sống là miền đất đã cho tôi tạm (tôi nhấn mạnh là tạm) đầy đủ ý nghĩa con người. 

Ở đây, từ 1955, tôi được đến trường học sau chín năm ở trong vùng Kháng chiến chống Pháp thiếu sách vở, thiếu thầy, thiếu trường, không được học hành gì cho ra cái học. Tôi không nói cái Ăn, mà tôi trọng cái Học, cái Đọc. Trong một xã hội thiếu tự do tư tưởng - trong đó có tự do in ấn, phổ biển, lưu hành tác phẩm ở nhiều lĩnh vực - là Thiếu Tất Cả. 

Ngoài những tác phẩm bình thường, ở Miền Nam, tôi muốn đọc bất cứ gì cũng được, kể cảTư bản luận; cùng những tác phẩm khác thuộc dòng triết học và chính trị, văn chương học thuật của hệ tư tưởng cộng sản. Miền Nam thuở ấy in ấn lưu hành, thậm chí đưa vào chương trình giảng dạy tại học đường, phần lớn các tác phẩm - sáng tác trước 1945 - của các tác gia từng nay là cán bộ văn nghệ cao cấp, trụ cột của chế độ Hà Nội như Huy Cận, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Xuân Diệu, Nguyễn Bính… 

Tại Miền Nam tự do chúng tôi có dịp biết rõ Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán…những người đang sống dưới chế độ cộng sản viết gì. Trong cùng thời gian này Hà Nội đóng cửa tư tưởng, cấm phát biểu, in ấn, trích dịch, lưu hành bất cứ văn bản, báo chí, sách vở, tác phẩm nào không phù hợp với chủ nghĩa cộng sản, và đường lối cai trị của Đảng Cộng sản hiện hành. 

Với nhiều tự do trong việc xuất nhập văn hóa phẩm, sách, báo chí, năm 1973 tại Miền Nam đã bày bán công khai - trên đường Tự Do - sách của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về cuộc chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm, sách tư tưởng Mao Trạch Đông - bản tiếng Anh, tiếng Pháp. 

Trong tự do lựa chọn, tôi được cầm bút, tự do biểu tỏ tư tưởng, được thoải mái thổ lộ tâm tình. Tác phẩm - tuy có kiểm duyệt sơ sài - nhưng được in ấn phát hành rộng rãi. 

Ở miền Nam, tôi có bị đánh đập hành hạ, bị chỉ định cư trú, nhưng có định chế, pháp luật rạch ròi, cư xử minh bạch, không bị theo dõi lén lút, quy chụp vu cáo hèn hạ. Nói chung là còn trong tính/tình người. 

Về tổ chức chính trị, Miền Nam có đa nguyên, tam đầu chế, một số quyền cơ bản của con người tạm gọi, tôi gọi là tạm, được thực thi. Về kinh tế, là phồn vinh. Văn hoá giáo dục có nền tảng, trật tự, tầm cao. 

Nói chung Việt Nam Cộng Hoà, một mô hình mà bây giờ những người Cộng sản - đã chiến thắng, xưa kia muốn triệt tiêu ngay nó – nay lại đưa lên là chủ trương hàng đầu, phục dựng. Để làm sao cho Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay giống y chang một trăm phần trăm cái Việt Nam Cộng Hoà ngày trước, cái chủ nghĩa tư bản ngày xưa, y chang Sài-gòn cũ, trừ độc đảng và độc tôn tư tưởng. 

Nhưng ngoài cái Được, Việt Nam Cộng Hoà cũng có cái sai lầm chết người, thuở ban đầu, ngay khi Tổng thống Ngô Đình Diệm vừa nắm chính quyền. Về sau, có chỉnh lại những sai lầm, nhưng đã quá muộn màng. Có dịp tôi sẽ nói sau. Chính sai lầm này, rồi dẫn tới trùng điệp sai lầm, đưa Miền Nam Cộng Hòa vào con đường tự hủy diệt. 

Miền Nam chết cái Chết Marilyn Monroe. 

Tôi nói thêm được chớ? Đại ca. 

Lý Đợi: Dạ, mời Đại huynh tiếp tục.

Cung Tích Biền: 1975, dù điều kiện dễ ra đi, nhưng tôi không đi Mỹ. Tôi chọn thử thách. Ba mươi mốt năm tôi sống bổng trầm chứa chan nơi này. Có sông có núi có sắp hàng chờ chia nửa lít nước mắm sau nhiều ngày ăn toàn nước muối. Có bị đau ruột thừa quằn quại [1978] mà ông bác sĩ Khang xã hội chủ nghĩa phường 11 quận Tân Bình chẩn đoán là tôi bị sạn thận không cho nhập viện. Mãi hơn hai ngày tôi bị vỡ ruột thừa nhiễm trùng, nằm chết quay lơ mới kịp rửa ruột tại bệnh viện Phúc Kiến. Thoát chết sau một cuộc ám sát hụt [vô tình] của ngài Khang.

1975 tôi mất nhà cửa vì bị tịch thu - duyên cớ là chúng tôi ở nhờ nhà chị vợ, chị đi Mỹ, nhân thể tịch thu, người ta hốt ráo bất luận của ai ra ai. Nghèo khó ra đi, vợ tôi ra tới cửa nhào vô lấy cái nôi của đứa con thơ, bị cậu quận đội Tân Bình ngăn lại không cho. Con cái tôi ra nằm trần trên nền đất lề đường. Sau, ở nhờ nhà Nhà thơ Đoàn Minh Hải. 

Tôi cũng như hằng triệu người Miền Nam thất sủng, đói khát bươn chải đủ thứ nghề, chạy xe ba gác, xe ôm chỗ Ngã Ba Ông Tạ. Đi làm thợ mây tre lá tuốt bên quận Tư cùng Chu Vương Miện và các thầy chùa ăn mặn, xướt máu bàn tay. Ra tận Bình Dương học nghề sơn mài bị sơn ăn sưng da phù mỏ. Năm 1975 đã ra đầu đường bán sách cũ cùng Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Đạt, Thu Mai. Dọn vỉa hè bán cà-phê bò kho như ca sĩ Ngọc Long, tu sĩ Thanh Tuệ, Huy Tưởng. Thu gom ve chai cùng Nguyễn Ước, Phù Hư, Trần Dạ Lữ… Năm 1976 xuống tận Cà Mau làm cu ly xây trại nuôi heo cùng Thế Phong, Nguyễn Thuỵ Long… Cực khổ lắm, nhưng tôi chịu đựng ngon lành, không xi nhê chi. “Gặp thời thế, thế thời phải thế”. Bình thường thôi. 

Ông Lý ơi, nhưng cái này mới là tận cùng dơ dáy tởm lợm. Cái này mới buồn nôn kinh niên: 

Thế này, anh có kinh hoàng không khi một đại bộ phận những người cộng sản gọi rằng kẻ chiến thắng - đương nhiên tôi không vơ đũa cả nắm - sau ngày 30 tháng 4/1975 bọn này đã tức tốc hiện hình những tên bốc phét, tự mãn, dốt nát, tham nhũng, thèm ăn, vơ vét. Bao nhiêu năm thanh bần kiên trung đấu tranh cho tư tưởngriêng chúng, nayđã nhanh chóng trở thành một bè lũ đê tiện, tranh giành nhau quyền lợi đến chi ly vật chất, hèn mạt đến không còn chỗ hèn mạt hơn

Dưới bóng trời Sài-gòn,
một bầy rận đã lúc nhúc,
một bầy lợn ủn ỉn kêu ăn. 

Lại thật đáng rùng mình, muôn năm buồn nôn, khi tận hôm nay, sau ba mươi năm ròng, xã hội chủ nghĩa này vẫn mở rộng cửa cho một bọn vô lại, vẫn có phòng máy lạnh, lận lưng con dấu đỏ, ngự trên xe hơi. Nghĩa là, chế độ này còn đương nhiên hợp pháp hoá cho một Bọn Cướp Ngày.

Do lương tâm đánh mất, do cơ chế quản lý non kém, do tha thứ nhau trong tình nghĩa đồng chí, do ảnh hưởng dây chuyền “cỡ anh Ba anh Sáu mà cũng xực thì tụi em dại gì mà không xơi”; do chính hối lộ hiện nay là nhu cầu chính đáng của dân đen, hay nhân dân đỏ; có tiền là có tất cả, có thể án tử hình trở thành án chung thân, có thể ba năm tù giam chỉ còn ba năm tù treo, có thể chở hàng lậu qua nghìn cây số, thậm chí có tiền là có tiến sĩ, thạc sĩ. 

Trên mọi nẻo đường từ rừng vàng tới biển bạc quê hương hôm nay, không cần la bàn, không cần luật pháp, vì đã có đồng tiền hối lộ dẫn đường mở lối là xong tất. 

Do chỗ vô cương này, nên một đàn sâu mọt đã kết tụ hang ổ. Kiên cố và rất chi dài dặt. Sống trong một môi trường như thế con người rất dễ bị lưu manh hoá. Rồi thành bản chất. Thậm chí thiếu cái lưu manh, có người bỗng thấy bứt rứt, lạc lõng, thiếu sức sống. 

Lý Đợi: Ông nói từng sống chín năm trong vùng kháng chiến? Anh ruột là một đảng viên Cộng sản? Và sự nghiệp Quốc gia của ông?

Cung Tích Biền: Tôi từ bé đã chín năm sống trong vùng Liên khu V. Vừa khổ cực, vừa mơ màng như trong một cơn mộng. Tôi là một thiếu niên. Tôi được tập đàn tập hát, vũ múa. Năm 12 tuổi đã theo các anh các chị đi diễn kịch, đàn ca tận Cẩm Khê, Tam Kỳ, Sông Vệ… Những đêm trắng của chợ đêm, của đào hầm bí mật. Những khói lửa chiều khi máy bay Pháp ném bom Kế Xuyên, Hà Lam, Tam Kỳ… Đêm đốt đuốc đưa ma là những bà con chết bom chết đói. Năm 1952 một trận đói kinh hoàng, củ chuối không còn mà ăn. 

Gia đình tôi thành phần phú nông. Anh ruột tôi (Trần Ngọc Biền) theo lệnh tổng động viên vào bộ đội, rồi đảng viên, rồi chết vùng Nghĩa Đàn Nghệ An năm 1969, cho tới ngày hôm nay chưa tìm ra được mồ mả, dù nhiều chục năm tận lực tìm kiếm, nhờ vả cả các nhà ngoại cảm. 

Năm 1954 tôi ở lại miền Nam. 

Anh em bà con ruột thịt, bạn bè, đã lên đường tập kết ra Bắc. 

Thật ra, Miền Nam Cộng Hòa là một mô hình chính trị khá lý tưởng như tôi đã nói ở trên. Nhưng chế độ Ngô Đình Diệm đã bắt đầu những sai lầm, như một tội ác. 

Sau hiệp định Genève 1954, Tổng thống Ngô Đình Diệm - đã có một nửa nước ở phương Nam để bình trị - không đặt ra chủ trương chiêu hồi, mở lòng hoà hợp, mà nâng ngay chủ trương Tố Cộng [sản] lên hàng đầu. Diệt Cộng [sản] đã trở thành quốc sách.

Chín năm kháng chiến máu lửa (1945-1954), toàn dân khắp nước không chỉ một mục tiêu chống Pháp giành độc lập; mà nội dung chính, hàng đầu và tử sinh, là cuộc chiến một mất một còn về ý thức hệ chính trị giữa Quốc gia và Cộng sản. 

Quốc gia và Cộng sản không đội trời chung. Truy sát và tiêu diệt tàn khốc lẫn nhau. Bao nhiêu là nợ máu ngay giữa anh em họ hàng. Vì thế những vùng kháng chiến - chín năm thuộc cộng sản - khi lực lượng Quốc gia đến tiếp thu đã đầy những hố thẳm. 

Dưới chiến dịch diệt cộng sản, được thực hiện đại trà đồng bộ, chính quyền Miền Nam không thể kiểm soát nỗi sự thanh trừng, trả thù của tầng lớp cán bộ ở mỗi địa phương. Nên địa ngục từ đây. Nhiều công chức, cán bộ quốc gia, ở hạ tầng xã quận, trình độ học vấn kém, hiểu biết lờ mờ về chủ nghĩa cộng sản nhưng trong cao trào Diệt Cộng, cùng chung với trả thù riêng, lại trở nên tàn ác, hung thần. 

Ban ngày ban mặt những người dính líu đến kháng chiến, những đảng viên cộng sản bị hành hình, tối đến lại bỏ rọ thủ tiêu. Không có tòa án, không pháp luật, chỉ là Quốc gia trả thù Cộng sản, chỉ là giết quách, sạch. 

Tôi đã chứng kiến những cuộc tra khảo kinh hoàng bằng đủ hình thức man rợ ngay bờ giếng, kho lúa cạnh vườn nhà tôi. Anh em họ hàng tôi không thiếu người bị cụt cả các ngón tay ngón chân vì bị tra điện như người con ông bác tôi là anh Trần Ngọc Bính [anh ruột Đại tá công an Trần Ngọc Long, hiện hưu trí và sống tại Buôn Mê Thuột] hoặc bị thủ tiêu như cậu tôi, Vũ Duy Bình, nguyên cấp tỉnh ủy, đến nay chưa biết xác vùi chôn nơi nào trong bãi cát Vân Ly. 

Tôi, 18 tuổi cũng là một nạn nhân, bị bắt ra nhà lao Hà Lam tra khảo - thời này Phan Vĩ làm Quận trưởng quận Thăng Bình. Tôi bị ăn đòn bằng những khúc tre tươi. Chúng vừa uống rượu vừa đánh thẳng tay vào bất cứ nơi nào trên người. Đánh vỡ đầu, suýt bị phèo óc, có phải vậy mà tôi mở mắt ra, sau trở thành nhà văn? Đánh, khi khúc tre nát ra tua tủa như tăm xỉa răng, lại thay khúc khác. 

Trong phòng tra tấn đầy những roi mây, roi sắt, kềm búa, cưa, máy quay điện, dây thừng treo cổ, bàn là ủi phỏng vào bắp vế, chỗ kín phụ nữ, và máu, thịt người vung vãi, tiếng la thét, tiếng rên rỉ, những xác người bất động chờ chôn vùi không cần áo quan. Rất may, tôi mới tép riu, chỉ là ở trong vùng kháng chiến, chưa phải thành phần cộng sản nguy hiểm cần treo ngược lên xà nhà, tra điện, hay bó rọ thả sông. 

Tổng thống Ngô Đình Diệm và những người cai trị quên rằng 1954, khi đất nước chia đôi, hòa bình được lập lại, không phải ai từng sống trong vùng cộng sản kháng chiến trước đó cũng đều là cộng sản, hay thân cộng. Mà chính họ cũng là nạn nhân của Cộng sản, họ mới là những con người từ lâu thèm khát tự do, khao khát hoà bình và mong một cuộc sống có cơm ăn áo mặc, được chia sẻ công bằng. Lẽ ra TT Diệm phải thấy điều này, phải an ủi và giúp đỡ họ tái dựng một đời sống mới. 

Điều này giống như 1975, sau cái ngày gọi là “giải phóng Miền Nam”, không phải cứ người miền Bắc nào cũng thảy đều là cộng sản. Mà đây mới chính là những con người lương thiện, những nạn nhân bấy lâu sống thiếu quyền làm người trong vòng lửa kiềm tỏa của một chế độ độc tài Đảng trị.

Nay họ mới thấy Sàigòn, mới hiểu ra “Miền Nam nó đẹp, người Sàigòn nó tình cảm thế này ư?” Họ có dịp nhìn lại, nhận rõ trắng đen bấy nay làm phận người trên đất Bắc. Từ đây họ biết rùng mình, không phải vì cái lạnh của thời tiết.

Lý Đợi: Thưa ông, và cuộc phong trần nhiều thập kỷ qua?

Cung Tích Biền: Đó là sai lầm của một bên. Còn một bên nữa thì sao?

Mồ chôn tập thể trong Tết Mậu Thân 1968, tại Huế có là một sự thật? Lại không tòa án theo đúng nghĩa tòa án, không luật pháp, không quy chế tù binh, chỉ là trả thù, giết quách cho xong. 

Bao nhiêu năm trường kỳ của chủ nghĩa, là bao gia đình tan gia bại sản vì đấu tố, bao nhiêu điêu linh giữa mùa thanh trừng trí thức địa chủ phú hào, đánh tư sản, dưới chế độ Miền Bắc. Bao nhiêu văn nghệ sĩ đấu tranh cho tự do, nhân quyền, cho tư tưởng bị trù dập đến thân tàn ma dại, đến con cái bơ vơ. 

Những trại tù dưới danh nghĩa trại cải tạo sau 1975 dành cho sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, chế độ này có áp dụng quy chế tù binh theo luật quốc tế? Có là nơi nhân quyền được tôn trọng? Có được đối xử trong tối thiểu tình anh em, cùng giống nòi?

Nơi đây người cộng sản gọi rằng kẻ chiến thắng không có mảy may tính cao thượng, cái tối thiểu văn minh của kẻ chiến thắng. 

Người Cộng sản đã đặt cái Chủ nghĩa Chính trị lên trên cái Trình tự Dân tộc.

Tôi cũng đã đi học tập cải tạo - cùng tổ với Mai Bá Trác và Nguyễn Quốc Chính - tôi hiểu rõ điều này. 

Anh ruột tôi, Trần Ngọc Tấn, Quận trấn trưởng tỉnh Quảng Ngãi kiêm Quận trưởng quận Sơn Tịnh, chết ngay trong trại tù cải tạo. Một con người - được quản lý chặt chẽ trong vòng kẽm gai - khi đã chết, ngươi nhà đến hỏi ban Cai tù, bọn họ trả lời tỉnh queo: “ Không nhớ đã chôn nơi nào”. Đến nay gia đình hương khói đi tìm bắc chí nam không hề biết tông tích mồ mả của các anh ruột tôi. 

Anh là Cộng sản chết không mồ, em là Quốc gia chết không tìm ra xác.

Rồi hằng trăm nghìn gia đình, thân nhân liên hệ với kẻ chiến bại đã bị cư xử tàn tệ sau tháng 4/1975. Bị tịch thu gia sản vô tội vạ đến nay chính quyền này lặn luôn chưa hề trả lại tài sản nhà cửa đất đai, tiền vàng riêng một đời lao nhọc trong ngân hàng, các cở sở kinh doanh, cho bất cứ một ai. 

Bị cướp đoạt quyền sống đến tận cùng; mẹ, chị, bị đuổi việc ngang xương, con em không được vào trường học. Bao nhiêu tuổi trẻ lỡ thời lỡ vận. Rồi bao vạn sinh linh đi tìm tự do chết chìm ngoài biển cả. 

Những đau thương tận mây, thiệt thòi tới đáy này, tới nay không hề được chế độ Cộng sản hiện hành có mảy may đền bù. Hay ít ra một lời xin lỗi. Xin lỗi lịch sử là một biểu hiện của lương tri. Hay ít ra dành cho việc tổ chức một nghi lễ, một tiếng chuông gọi hồncho bao kẻ bị hàm oan.

Chúng ta sống trong một bãi lầy miên viễn. Lương tri đã hoá bùn.

Chúng ta hiểu rằng là con dân trong một đất nước phải biết chịu đựng rủi ro, biết tha thứ phần nào những sai lầm của chế độ. Chúng ta không sống trên mặt trăng. Nhưng những điều tôi nêu ra trên đây của mỗi bên, Quốc gia hay Cộng sản, đều mang nội dung là tội ác.

Bây giờ chắc anh hiểu vì sao tôi đi dưới hai làn đạn. 

Lý Đợi: Thưa ông, Giải phóng, Hợp lưu, Phân lưu, Thống nhất, Hoà hợp…ông nghĩ gì về những khái niệm này trong thực tế những năm sau 1975?

Cung Tích Biền: Phân lưu mãi mãi. Còn những khái niệm kia hiện nay còn nằm trong mỗi bên não trạng rất ư thù nghịch, cả Hà Nội lẫn Calif- thủ đô Hải ngoại Thế giới - Việt Nam Cộng Hòa 

Nếu giải phóng một phùa nữa? Cha ơi, biến nó thành hiện thực cho đúng nghĩa trên xứ sở này, thì phải tái lập một cơn biển máu. Nếu rành rọt, đâu ra đó sẽ đưa tới hệ quả: một bên này nhiệt liệt khui vốt-ka hoặc rượu mao đài, một bên kia lột dênh, lo sao cho đủ quan tài tống táng bố mẹ anh em con dâu thằng rể bạn bè cháu chắt. 

Hoà hợp hoà giải, những cái từ nghe ra hiền như ma-xơ này, phải nương tựa vào cái dài dặt trong tàn phai. Nghĩa là, làm chủ Vận mệnh cho một Việt Nam đa nguyên an bình, đó là cái quyền của Thời gian. 

Lý Đợi: Vừa rồi ông có nói “làm chủ Vận mệnh Việt Nam là Thời gian”?

Cung Tích Biền: Đúng như thế. Từ đầu cuộc phỏng vấn này tôi đã nói là tôi xin được nghiêng mình kính phục những nhà ái quốc, những con người can cường hiện xả thân đấu tranh cho một Việt Nam có trọn vẹn Tự do, Dân chủ, Nhân quyền. Riêng tôi, là kẻ hèn, tôi xin được phép ngồi ung dung trong Phòng Đợi.

Tôi nhâm nhi đời mình như một miếng cá sapa nướng trong giấy bạc với vài giọt mao đài. Vừa trang nhã vừa ứa máu. 

Tôi vận dụng cách ngẫu nghĩ bi tráng của nhà Phật là thế này: 

Không bao lâu xa nữa những trí thức, những chuyên gia, những nhà lãnh đạo hiện nay từng tốt nghiệp ở Liên Xô, Đông Âu, nói chung là trong văn hoá xã hội chủ nghĩa sẽ tiêu tán đường. 

Lớp con cháu Cộng sản đi du học ở Mỹ, Anh, Pháp, Úc… sẽ thay thế. Chúng nhìn ra, thấy Socrates, Platon, Heidegger, Nietzsche… quay về Cõi Đông lại gặp Thích Ca, Lão, Trang, Lý Bạch, Tản Đà... chúng ngao du vào Huyền tẫn, Không Không, những bước Thập mục ngưu đồ, để hiểu ra chỗ “Nhân ngưu câu vong”…

Chúng - con cháu các nhà cộng sản cốt khỉ hôm nay, bây giờ đấy – lúc ấy đã giỏi khoa học kỹ thuật, tin học. Chúng rất giàu mộng mơ nhưng không hề mê muội. Không hề có thời giờ, và chẳng đam mê gì việc nghiên cứu Mác-Lê. Nếu có, cũng chỉ đọc qua, bình thường như hằng đọc qua hàng bao triết thuyết.

Chúng được mở rộng, có hằng triệu sách, không hề nhọc công chọn ra một tập sách nào để gối đầu giường. Thụ hưởng sách rồi cỡi trên sách mà đi, đi tìm cái mới, cái diệu ẩn nhân văn. Không hề làm nô lệ, thân trâu ngựa cho bất cứ một chủ thuyết nào. 

Và, cũng không bao lâu nữa lớp “Cộng hoà cũ” chúng tôi đây, trong nước cũng như ở hải ngoại, cũng đi bán muối hết - tức là “đay”, là tiêu tán đường, là giao cái tham vọng cái tư tưởng cho sâu bọ dòi kiến nó xơi. 

Lớp con cháu chúng tôi lớn lên nếu ở Mỹ, Úc, Pháp, Đức… có thể quên dần tiếng Việt, nhưng không quên mình là giống nòi Việt, và đương nhiên chúng không cần biết cộng sản là ai. 

Trên thế giới bấy giờ hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa từ khuya tiêu tán đường - là bán muối, là đay, là sâu bọ hóa. 

Ngày ấy chỉ còn một vài nước gọi rằng xã-hội-chủ-nghĩa-pê-đê, lẻ loi lai căng trên địa cầu, chỉ là đứa tôi đòi, con rơi bất đắc dĩ của ông Mác ông Lê. Chúng đi giao cấu công khai với con đĩ tư bản, qua thằng cò mồi mối lái mang tên kinh tế thị trường.

Cộng sản tuyệt chủng. Ngày xa xăm trong tương lai ấy, nhà khảo cổ muốn nghiên cứu Cộng sản là gì, thì dùng ống nghiệm phối ngẫu từ cái tinh trùng đông lạnh của ông Engels với cái “trứng” của cô thiếu nữ tươi thắm Cuba tư bản kinh tế thị trường

Hồi ấy cô cháu gái xinh đẹp năm đời của một ngài ủy viên cỡ bự hôm nay rủi gặp thằng nhóc bảnh trai gọi tôi bằng ông Cao tổ, chỉ có tụi điên lúc nam thanh nữ tú gặp nhau mới nói “Tôi thù cộng sản”, hoặc “Tôi ghét anh vì ông tổ sáu đời của anh là nguỵ quân nguỵ quyền”. 

Rồi đương nhiên chúng có thể cùng bước một nhịp tango tình ái, chứ chẳng thể cùng nhau vỗ tay hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Khuya rồi. 

Thế thôi. Nói cho lắm tắm cũng ở truồng. 

Lý Đợi: Theo ông sự khác nhau và giống nhau của văn học Sàigòn trước và sau 1975 là gì?

Cung Tích Biền: Trước? Sau? Khác nhau như một anh đủ hai mắt và một anh chột. Giống nhau vì cả hai đều phải dùng mắt để nhìn. 

Lý Đợi: Tự do và ràng buộc của Việt Nam Cộng hoà? Nếu phải so với nhà nước và chính quyền đương nhiệm hiện nay?

Cung Tích Biền: Tự do đâu có nhiều như hàng hoá trong siêu thị, để mà so sánh. Xưa và Nay? 

Nhưng xưa vẫn hơn nay một vài trời, một trăm vực. 

Nói chơi thì tôi có chuyện này kể ông nghe. Hồi chế độ Cộng hoà cũng có kiểm duyệt. Đôi khi cũng ma giáo trú ẩn dưới cái tên mùi mẫn là Sở Phối hợp Nghệ thuật. 

Hồi ấy, nhà xuất bản Trí Dũng, 1969, in truyện Hoà bình Nàng tình rỗng của tôi đã bị kiểm duyệt phải cắt bỏ hai chữ Hoà bình. Lý do vì đang có Nghị hoà ở Paris giữa Bắc Nam. Không hiểu mất ông mất cha chi, hội nghị vận động ngưng chíến mà lại kỵ cái từ “hoà bình”. Tôi nói với ông chủ nhà xuất bản Trí Dũng rằng: “ Kiểm duyệt như rứa thì xé mẹ sách đi in ấn mần chi”. 

Nhưng dân kinh doanh người ta khôn ngoan lắm. Để vừa lọt cổng kiểm duyệt, đẹp lòng nhà văn, vừa không phải mất vốn vì sách đã sắp chữ, chủ xuất bản bèn bỏ hai chữ Hoà bình ở ngoài bìa sách – bìa do hoạ sĩ Hồ Thành Đức trình bày - còn trong ruột in y chang bản thảo. Sách được phát hành trót lọt. Sở kiểm duyệt thấy “chúng nó” ngoan ngoãn bỏ hai chữ Hòa bình ngoài bìa là chơi đẹp rồi. 

Còn chuyện giỡn chơi này nữa. Thời Cộng hoà có kiểm duyệt nhưng dành cho người bị kiểm duyệt cái quyền ghi rõ ràng phần bị kiểm duyệt. Nghĩa là, sách in ra tôi có quyền để trống (giấy trắng) đoạn văn, hay bài báo tương ứng với phần bị lệnh cắt bỏ. Và in ngay vào đó dòng chữ : “Bị kiểm duyệt năm dòng”, hay “Bị đục bỏ một trăm chữ” chẳng hạn. Sòng phẳng. Không lấp liếm. 

Chính nạn nhân bị kiểm duyệt đục bỏ, đã lợi dụng sự kiểm duyệt mà lăng xê sách báo, tên tuổi mình, rằng tôi đối lập, có chống chính phủ. Dân chúng thời nào lại chẳng khinh ghét bọn chóp bu, cho nên hễ nghe báo nào sách nào dám chửi cha chính quyền thì tìm mua, lén đọc. Sách báo đó bán chạy như tôm tươi. 

Lý Đợi: Rồi cả sự tu học của nhà văn nữa chứ? Ông và tác phẩm của ông thể hiện rõ bề dày về văn hoá. Ông “xoay xở” như thế nào trong hoàn cảnh ngày ấy?

Cung Tích Biền: Câu hỏi này khá thú vị. Học như thế nào? Nghĩa nào? Học để có bằng tiến sĩ ? Học để trở thành một nhà văn hoàn chỉnh hơn?

Nhưng tôi xin nói trước cái Học tôi bàn đây là nghiêm chỉnh nhưng không có gì phải gồng mình cho là nghiêm trọng. Cũng chỉ là cách chơi, ngao du cùng chữ nghĩa thôi. 

Một ông tiến sĩ có học vị rồi, có thể cả đời không cần học gì thêm, vẫn tiến sĩ. Một nhà văn, khi được bắt đầu gọi tên, nếu không học thêm, mãi, là một tai họa chính mình. 

Cái chết người là huyênh hoang ở dạng năng khiếu, hương nguyện, lưu trú và cực thỏa mãn trong cái tổ ấm thi văn đoàn, cái thẻ hội viên được gọi rằng hội nhà văn. 

Con đường sáng tạo, cái “Còn Lại” là rất khắt khe. Nó không ưu đãi cho một ai. Nó không có từ tâm cứu vớt một ai rơi rớt dọc con đường nghệ thuật. Vì “Nó” là sự công bình của người đọc, kẻ thưởng ngoạn, trong tiến trình luôn thử thách, tiến hoá. Sự đào thải trong văn chương nghệ thuật là đầy rẫy, muôn trùng. 

Hành trang mang đi bền vững của một nhà văn là, tài năng, độ uyên bác, cộng với lao động triền miên. Nhưng nó không là cái bao tải có sẵn, cố định. Đầy không có nghĩa là đủ. Phải thu nhặt suốt hành trình bằng tìm tòi, tự huỷ, minh triết.

Đọc từng ngày. 
Viết từng giờ. 
Sống từng giây. 

Cái Học ở đây có dấu cộng mật thiết với sự Hàm dưỡng, sự Đi và sự Đọc. Văn hoá là chiếc Bóng, không thể thiếu ánh sáng mà có nó được. Cả ánh sáng tôn giáo, ánh sáng tự do. 

Học trong trường, rồi “đốt” trường trại đi. Học cái không-có-chữ, ngoài Chữ. Đạt tới cái Học này không chỉ một đời người. Một đời may ra, chỉ đi một “nửa dặm” trong muôn dặm Học.

Biểu trưng của Rồng, quẻ Càn gồm ba nét, quẻ Bát thuần càn có sáunét, cả thảy những nétnày được vẽ ra, biểu thị cho “Cái thấy”, nên tạm gọi là “thực”? Đúng là như vậy. Nhưng là Chưa Đủ.Vì, hãy còn một nét ảo trên cùng. Chính Rồng-không-đầu // Long-vô-thủ này hình thành Cõi Mới. 

Lý Đợi: Nói như thế theo ông, viết văn tất yếu là cần phải học? Nếu không đó sẽ là thứ văn chương và thứ nhà văn?

Cung Tích Biền: Thực tế, ở một số môi trường xã hội, có một số người không cần học hành gì ráo, bỏ cái cán cuốc cầm ngay cái cán bút, vẫn làm thơ viết văn;vẫn được chính quyền hoan hỉ tài trợ, vẫn nổi tiếng;có thể hội viên, có thể ban chấp hành;vẫn bao nhiêu nhà xuất bản hợp đồng in ấn;lại đi dạy người ta viết văn, được quan chức mời đi ăn nhậu mệt nghỉ. 

Đây là chuyện bình thường trong một xã hội văn hoá đạo đức bị phá sản, giáo dục suy đồi, tư tưởng bị cưỡng chế, cái bao thư tiền đè chết ngộp cái Chữ. Người làm văn chương nghệ thuật bị bọn cai trị xem ngang tầm hữu ích như chó giữ nhà, lừa ngựa trước xe.

Ông Lý ạ, con tằm phải được ăn lá dâu mới nhả kén. Ăn rau lang nghị quyết, no bụng chỉ thị, thì tằm thánh mới cho được tơ. 

Lý Đợi: Địa vị chữ Hán trong văn hoá, văn minh, và văn học Việt Nam? Việc học chữ Hán với ông (ngoài vốn tiếng Anh, tiếng Pháp) và giới trẻ hôm nay?

Cung Tích Biền: Nếu ngắn gọn thì tôi trả lời thế này: "Những ai bị cái văn hoá văn minh văn học quấy rầy thì nên học chữ Hán”.Nên nhớ, tôi nói đây là học chữ Hán [Hán tự] để viết, đọc, và hiểu được những văn bản chữ Hán [Nho] theo âm hán-việt, chứ không phải học Hoa ngữ [tiếng Trung Hoa] để biết viết, đọc, nói và nghe trực tiếp với họ. Thành thạo chữ Hán, khi gặp một người Tàu, hai người chỉ có thể viết ra trên giấy những điều cần đối đáp, mới hiểu ra nhau, ấy gọi là bút đàm.

Còn nếu trả lời dài dòng một chút, dù cố gắng khái lược, để cho rõ hà cớ nguồn cơn, thì tôi cần thiết giãi bàynhư vầy:

Trước khi chữ Quốc ngữ được chúng ta dùng chính thức như hiện nay, ông bà chúng ta đã toàn bộ dùng chữ Hán - không đề cập đến chữ Nôm - trong mọi sinh hoạt Dùng-Chữ đã trên nghìn năm. 

Theo lẽ bình thường, một người biết chữ Hán càng tốt, không biết cũng không sao. Vì, hiện nay phần lớn chữ Hán âm Việt, trong dân gian, đã được dùng quen, không cần giải thích cái nghĩa xuất xứ. Ví dụ, thiên địa, thủy hỏa,phụ mẫu, huynh đệ, quốc gia… chẳng hạn, biết ngay là trời đất, nước lửa, cha mẹ, anh em, nước nhà, v.v… 

Một số từ khác (hoặc cụm từ) khó hiểu hơn, dân gian khi dùng cũng chẳng cần giải thích gì. Hơi lờ mờ ngữ nghĩa một chút, nhưng hiểu vậy vậy, biết rứa rứa cũng đủ rồi. Ví dụ: nhân chi sơ tính bản thiện / thất thập cổ lai hy / bách niên giai lão / vạn thọ vô cương / địa địa giai Mịch La… 

Một số từ Hán - Việt cao cấp phải đủ trình độ mới rõ ngữ nghĩa, thì ít phổ biến trong sinh hoạt dân gian có ngữ cảnh thông thường. 

Tuy nhiên, những ai có dính dấp đến các lãnh vực ngôn ngữ, văn chương, văn học nghệ thuật, văn hoá giáo dục, triết học, sử học, khảo cổ, tôn giáo, du lịch… thì nhất thiết phải biết chữ Hán. Tôi nói, cần/nhất thiết, chứ không phải biết hay không cũng được. 

Một từ đồng âm, quốc ngữ chỉ viết một chữ, nhưng chữ Hán thì từ ấy gồm nhiều chữ viết hoàn toàn khác nhau, lại rất nhiều nghĩa, có khi nghĩa đối nghịch nhau. Một nhà văn, một thầy giáo chẳng hạn, không tỏ tường ngữ nghĩa là một điều không nên. 

Vì không rõ nguyên nghĩa chữ Hán có thầy giáo giải thích cho học trò “tân khổ” là “nỗi khổ mới”, cái ám ảnh chưa tan, (nhầm chữ “tân” này là “mới”, và “khổ” là “nỗi khổ”) trong khi “tân khổ” là “cay đắng”. 

Chúng ta nay đã có một nền văn hiến văn hóa riêng nhưng trong quá khứ chúng ta có rất nhiều mối liên hệ với văn hoá ngôn ngữ Hoa Hạ, trong đó lệ thuộc rõ ràng nhất là Hán tự, mà âm đọc Hán Việt có lẽ gốc rễ từ thuở Đại Đường. 

Chữ Hán vẫn còn giữ một địa vị rất quan trọng - tuy âm thầm hôm nay - trong đời sống ngôn ngữ, văn học, văn hoá và văn minh Việt Nam. Tâm thức của đại chúng nay hãy còn âm hưởng một cách lâu dài thời đại mà cha ông chúng ta dùng chữ Hán trong triều đình, thi cử, sách vở, thơ phú, kinh điển, nói chung. Chúng ta chưa thoát khỏi ký ức lịch sử văn hóa, văn học chữ Hán còn ẩn tàng bàng bạc trong mọi sinh hoạt.

Hãy còn một kho tàng kinh điển, văn bản, thi phú, sách sử cùng thư mục, bản đồ, mộ bia, gia phả, trích lục… ở dạng nguyên bản chữ Hán. Mà kho tàng này có thể nói là rất to lớn, chỉ kể từ Lý Trần tới đầu thế kỷ XX, lúc chế độ khoa cử chữ Hán đã chấm dứt ở miền Bắc năm 1915, ở miền Trung năm 1918. Thi Hội thì mỗi miền chấm dứt sau đó một năm. Chưa kể kho tàng kinh sách có từ Trung Quốc ở trăm lĩnh vực, mà nền văn hoá chúng ta hiện tình vẫn còn ảnh hưởng sâu nặng, không thể không tham khảo tới. 

Nếu biết chữ Hán chúng ta không thua thiệt khi tiếp cận văn học Lý Trần, các áng thơ văn của văn thi nhân sáng tác bằng chữ Hán qua nhiều triều đại về sau. 

Chúng ta cũng khó thể nắm lưu, đàn hồi cái ý nghĩa uyên áo, tâm thức ẩn mật, các điển tích, ngay cả khi đọc những tác phẩm sáng tác bằng chữ Nôm rất giàu âm Hán-Việt như Cung oán ngâm khúc(Nguyễn Gia Thiều), Truyện Kiều(Nguyễn Du), hay Chinh phụ ngâm(bản dịch nôm của Đoàn Thị Điểm). 

Học chữ Hán còn có nhiều điều thú vị. Ngồi thù tạc với bạn bè, đọc được bài thơ cổ trên chén trà, viết tặng bạn một bài thơ Đường, ngày xuân viết vài câu đối làm vui. Vào Văn miếu đọc các văn bia. Đến nhà thờ đọc vài câu đối liễn, đọc giảng cho bà con tông họ cuốn gia phả. Giảng giải cho mọi người những điển cố, những sử tích, những ngữ nghĩa của không biết bao liên hệ với văn hoá văn minh cổ mà sinh hoạt trong dân gian hiện hành vẫn còn cần biết. 

Về thư pháp, trong nhơn loại cổ kim, từ Âu sang Á, không có một loại chữ nào mà bạn viết thư pháp có thể rồng bay phượng múa, như tranh, như lưu thủy, đa dạng, như hành vân, nhiều thể : Khải, Triện, Lệ, Hành, Thảo… như chữ Hán. Viết như vẽ tranh mà nhìn vẫn ra chữ. Khởi nguyên Hán tự là một loại chữ tượng hình.

Qua Thư pháp, duy nhất chữ Hán, mỗi người lộ bày cái thần thái, cái tài hoa, vẽ ngự lạc, nỗi ký hoài, riêng trong mỗi thủ pháp. Là cách chơi, cách định thần. Là Thiền. 

Có thể tôi phủ dụ cái điều chưa mấy tin. Tôi xin tạ lỗi. Ngày nay, muốn sinh tồn, chúng ta phải cực lực chống lại sự “xâm lăng mọi mặt” của bọn cường khấu phương Băc, nhưng xem lại, việc bài trừ chữ Hán có phải là điều kiện ắc có và đủ, trong cách hành xử. 

Tôi khuyên, các nhà văn trẻ nếu vị nào bỏ ít thì giờ học chữ Hán - đương nhiên ngoài những ngoại ngữ cấp dụng như Anh ngữ, Pháp ngữ - là điều tốt đẹp. Học chữ Hán, nếu thông minh, trí nhớ tốt - cường trí - và biết cách học, chỉ qua sáu tháng đổ lên một năm, là thông thạo, tức là có thể đọc/hiểu Đường thi, cả tiểu thuyết như bộ Tam Quốc chí, chẳng hạn.

Lý Đợi: Ông nghĩ gì về tình hình giáo dục trong mấy thập kỷ qua? Cái gì thiếu? Cái gì thừa?

Cung Tích Biền: Tôi đề nghị đại ca nên gởi câu hỏi này đến Ngài đương kim Bộ trưởng Giáo dục hoặc một vị nào đó sắp cho con vào trường mẫu giáo. Trong một xã hội tương chao, một nền giáo dục mà các nhà trị nước đang cố thực hiện chính sách ngu dân, gây trăm điều rối răm ngặt nghèo cho tụi nhỏ, thì chỉ cóhai người nàymới hiểu rõ nhau. Một,đang cai trị nền giáo dục Việt Nam chắc là nắm vững cái Dáo để Giục, và, một đang phải nghiên cứu kỹ lưỡng “con khủng long” mà chính đứa con bé bỏng của mình sắp phải trường kỳ chí mạng đương đầu tại trường học. 

Lý Đợi: Tôi nghĩ ông có những ý cần nói thêm?

Cung Tích Biền: Nếu cần nói thêm, chiều mai Ta mời ông ra quán nhậu, có tôm cua rùa rắn, Ta nói thêm vài ba nghìn năm nữa, chắc gì xong. 

Lý Đợi: "Môi trường” của nhà văn, theo ông, thế nào là một môi trường lý tưởng? Như ở ta hiện nay nhiều người nói người cầm bút dễ trở thành kẻ bồi bút, ông có chia sẻ được quan điểm này? Hay là ông có một suy nghĩ khác về đời sống và về môi trường này, hỡi ông nhà văn?

Cung Tích Biền: Môi trường lý tưởng? Tôi đã nói qua ở câu 2. 

Tôi không quan tâm lắm đến quý vị bồi bút. Cũng có cái quyền, lẫn quyền lợi, được làm bồi bút. Bất cứ chính thể nào, thời đại nào cũng cần, phải có nhu cầu bồi bút, nhiều hay ít thôi. 

Nhiều ngài hy sinh tận mạng cho nền bồi bút, cả đời tôi tớ bợ liếm đến hơi thở cuối cùng. Rồi tên cũng được đặt tên đường phố, lưu d[m]anh muôn thuở.

Lý Đợi: Thời nào cũng có cái gọi là văn nghệ xuyên tạc và tuyên truyền. Nhưng theo ông, từ 1975 đến nay, trình độ “xuyên tạc, truyên truyền ở mức độ đẳng cấp nào”?

Cung Tích Biền: Phát âm theo giọng nước “Quảng Nam Dân chủ Cộng hoà” của tôi,thì “tuyên truyền, xuyên tạc”phải là “Tiên triền và Xiên toạc”. Nghĩa là trước tiên rêu rao, sau đâm toạt sự thật. 

Thưa sư huynh, “tiên triền và xiên toạc” từ 1975 đến nay? Ôi, nó là thượng thừa cao thủ. Đẳng cấp sư phụ nhơn loại. Nó thể hiện vĩ đại nhất cái dối trá, bịa chuyện là trong môn sử học. 

Lý Đợi: Thưa ông, ông có đọc tác phẩm của các nhà văn trẻ bây giờ không? Nghĩ gì về vấn đề trong tác phẩm họ đặt ra? Chuyện hàm dưỡng trong suy nghĩ và tư tưởng của họ?

Cung Tích Biền: Không những đọc mà tôi yêu, thích gần gũi với giới trẻ, không riêng nhà văn. Đơn giản là tôi cần được tiếp sức. Tôi có nhu cầu trẻ.

Một lần ngồi uống rượu với một vài nhà văn thơ trẻ, nhà văn họ Trần hỏi tôi: “Anh Cung Tích Biền, là người đi trước, có kinh nghiệm văn chương cả kinh nghiệm sống, anh truyền đạt gì cho tuổi trẻ?” Tôi cười, trả lời: “Không có chi phải truyền đạt. Nếu không muốn nói có những cái của thế hệ 'ta đây' các huynh cần thiết vất vào sọt rác. Cái sống là cái muôn trùng. Học cái-đã-qua là phần nhỏ. Cái-Sẽ-Tới mới là cái cần học. Chính các huynh, tuổi trẻ là thầy tôi”. 

Nói về tài năng, tuổi trẻ hôm nay nhiều quá, như nấm. Vì thế nhậu nấm có khi cũng ngộ độc. Viết hăng (cả hung hăng) hàng hàng lớp lớp. Cũng rất nhiều rẻ rúng, tào lao. Cũng khá nhiều cái không hề, và không thể gọi là văn chuơng. Tuy nhiên số ít còn lại là tinh tuý, tôi nhận ra chỗ công phá hữu ích, dữ dội, rất mới, rất tư tưởng, và thú vị. 

Về loại hạng, có nhiều loại tuổi trẻ. Thứ nhất, tuổi trẻ Lừa. Khôn mà vẫn bị lừa bởi guồng máy, hoặc do ngây thơ đã thành lừa chánh hiệu. Một ít trong số này thông minh, có tài, có nhân cách, đã nhận ra số phận, nhưng cũng đành. Đã chịu thiến giái, sớm trở thành những hiền nhân bất đắc dĩ tuổi ba mươi. Nhậu, và liệt tuần tự từ dương sang âm, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Một tuổi trẻ khác, trong nước, là những Ngựa không yên cương. Tôi cực yêu quý đám chịu chơi, rất chi vong mạng này. Tôi không nói ngựa bất kham mà là “ngựa không cần yên cương”. Họ ở ngoài luồng lẫn chuồng. Nhưng chưa gặp thảo nguyên hạnh phúc. Những tuấn mã - mã cái càng cà tưng dữ dội - này đẹp, bừng sức, ngoan cường. Đáng khen và đáng phục là bọn này một mình dung ruổi, không có, không cần cái gọi là bầy đàn. Chiến đấu không áo giáp. Nhưng cũng có cái đau, là thiếu chiến trường để phi nước đại. Nên thiếu chất tung bay, hí lộng.

Nhà văn trẻ hải ngoại, phần lớn có điều kiện chữ nghĩa, may mắn sống trong thế giới tự do, tiếp cận một xã hội đa văn hoá, nhiều nền văn minh. Họ tài hoa, viết dễ dàng, khơi mở, tươi tắn, và trên hết là họ nhiều tự trọng. 

Nhưng mất tự do thì lẩn quẩn, tự do quá cũng bối rối. Ánh sáng nhòe nhạt trong địa đạo thì chỉ đủ thấy mỗi Ta đây, cùng giun dế. Đèn nghìn watt ở siêu lộ thì thấy người sáng rõ hơn thấy chính mình. Cái khó khăn là sự hoà điệu. Theo tôi, đóng góp của các nhà văn, nhà thơ trẻ hải ngoại là không nhỏ cho văn học, văn hoá Việt. Thẩm định này là của mai sau. 

Về cái “Viết”, trong cũng như ngoài, họ “Nói” tới cái Hôm nay nhiều quá. Đọc văn chương của họ tôi thấy trần trụi quá, thực quá; chỉ nói về mình và gần chung quanh mình; thiếu vắng chất u mặc, ẩn dụ, huyền hoá, mật mã. Cạn ước mơ. Tuổi trẻ, chưa dày quá khứ? Đã đành. Mà thiếu cả bóng dáng vị lai. 

Các nhà văn trẻ quá thông minh, mẫn cảm. Nhưng bị cái hiện thực này nó hành, bị cột chặt trong bủa vây thường tình, làm cho họ bận rộn không đáng với những đìều nhỏ nhoi. Khí hậu trong tác phẩm ngắnvà hẹp. Tôi nói là Khí hậu. Và, thay vì những tài năng này tung bay, lại thu tầm, thật đáng tiếc. 

Có nên bỏ qua phần nào, không cần thiết để cập tới, như cái cay nồng lặt vặt của hành tỏi thời sự, hôm nay? cái tanh tưởi của lăng mộ lịch sử? 

Một số người cầm but trẻ khác, là Việt Nam, mà xa cách quá xa với triết học và văn hóa Đông phương. Xa cách ngay với một nền văn học đi trước, nhất là văn học hệ chữ Hán và chữ Nôm của tiền nhân. Nên nảy ra cái cách phê phán thiếu sang trọng, khập khiễng, mất gốc trong kiến thức, thiếu bề dày học thuật, của một số các nhà văn nhà thơ trẻ. 

Một điều đáng tiếc nữa, không ít nhà văn trẻ thoạt viết, đã có chỗ đứng vững vàng, chắc trong tay viết, lay động chỗ người đọc, rồi bỗng dưng mất tiêu, ví chừng chưa đủ “túi thơ bầu rượu” cho sức vóc Đường trường. 

Lý Đợi: Thưa, chất lượng văn chương, việc thẩm thấu và cảm thụ văn chương, theo cách nhìn của ông?

Cung Tích Biền: Đang trong một thế giới đa cực, văn minh số, chất sống tính từng phút giây, cho nên sự thưởng ngoạn thẩm định cũng đa chiều. Sự cảm thụ và thẩm thấu văn chương lại đa tầng. Tuỳ thuộc vào loại độc giả có bộ não màu vàng, đen, xanh, trắng, hay Đỏ. Văn chương nghệ thuật đích thực thì không chủ tâm pha màu để hợp khẩu vị vàng đen trắng đỏ. Lại một phần lệ thuộc vào tâm thức chung của thời đại, vì thế phần nào văn chương nghệ thuật hôm nay, đôi khi bị hạ thấp trong quảng cáo đại trà. 

Thời đại, thời lưu, thời thượng chỉ là mạng/internet. Người đọc, thay vì là bạn với quyển sách thơm mùi giấy, con dao rọc sách, nay là bạn với màn hình nhấp nháy, con chuột.

Giấy và màn thuỷ tinh lỏng. Con dao và con chuột. Mùi thơm mực in mùi giấy nay là “mùi” vô tri của số. Đọc sách mỏi mắt bạn rời sách nhìn con chim bay, lá rụng ngoài không. Nhưng lên mạng, vào truyện vài trăm dòng, bạn lại cờ-lít, lướt mạng một thôi cho thoả cái đói tin, đánh vài ván cờ tướng với một đối thủ vô hình qua mạng, lại chát một phát, meo một thư. Ngần ấy đủ dịch chuyển bạn ra ngoài ta bà thế giới chớ không phải thế giới chủ đề có biên cương như trong truyện mùi giấy. Trong cái lợi ích lớn lao không hề thiếu vắng cái hại, dù nhỏ, hiện ẩn. Ngần ấy đã thay đổi phần nào cách tiếp cận, cảm quan, cùng độ khơi hoạt hoặc sâu lắng của Hồn Chữ. 

Lý Đợi: Thưa ông, bảo tàng, bảo tồn và thư viện, tác phẩm đã xuất bản của ông trước 1975 nay được đối xử như thế nào?

Cung Tích Biền: Ngay sau ngày 30 tháng 4 /1975 nhà nước Cộng sản đã có lệnh cấm (bằng văn bản pháp quy, có danh sách rõ ràng từng tên tác giả, tên tác phẩm) là cấm lưu hành, in ấn, tàng trữ bất cứ dưới hình thức nào hầu hết tác phẩm dưới thời Miền Nam Cộng Hoà. 

Toàn bộ tác phẩm của tôi cũng nằm trong lệnh cấm này. Một lệnh cấm mang tính an ninh triệt để. Vi phạm là phản động, đi tù không cần tuyên án.

Để yểm trợ cho lệnh cấm này có hiệu quả tuyệt đối đã có những đơn vị xung kích đi từng nhà, từng khu phố thu gom sách. Đốt. 

Tháng 8/2005 - ba mươi năm sau - theo sự chỉ dẫn của một nhà văn (vì anh đã được cho phép sao lục tác phẩm cũ) tôi đến một thư viện tại Sài-gòn để xin sao lục những sáng tác của tôi trước 1975, nay với tôi là tuyệt bản. Tại đây, Thư viện Khoa học Tổng hợp, bảo tôi về làm đơn xin phép nhà nước. 

Đơn viết xong, nhờ vợ tôi ra phường ký xác nhận. Nộp đơn vào thư viện, lại phải viết tiếp một đơn khác xin sao lục, vì đơn ở phường mới chỉ có giá trị chứng cư trú. 

Đơn xin sao lục được chấp nhận lại phải làm phiếu đăng ký xin sao lục những gì, trên báo, tạp chí nào tháng năm nào. Phiếu đăng ký nộp vô, bị gạch bỏ một số không được sao lục, số được phép thì do nhân viên thư viện chụp hình in ra đĩa CD. 

Thư viện có một chiếc máy rất cũ, làm việc rất chậm. Tôi không được quyền mang máy ảnh, quay phim tư liệu vào thư viện để tự thực hiện, cho nhanh. Đóng tiền trước ba trăm nghìn đồng. 

Đúng một tháng sau, y hẹn, tôi đến thư viện. Đĩa CD làm xong nhưng tôi được lệnh là không cho phép nhận mang về. Lý do: “Truyện phản động, không được phép sao lục, chưa có phép lưu hành.” 

Từ đây có một cuộc phản kháng. Tôi nói với cô H. cán bộ thư viện là “Tác phẩm của tôi, tài sản tinh thần của tôi, tôi có quyền sao lục. Tác giả sao lục tác phẩm chính mình sao lại gọi là lưu hành. Mà dù tôi chống lại lệnh cấm, tôi lưu hành là quyền của tôi, sẽ do pháp luật can thiệp, bỏ tù tôi chịu. Thư viện giam giữ đã ba mươi năm tác phẩm của tôi mà không cho tôi sao lục là một hình thức chiếm đoạt tài sản.” 

Hôm sau tôi được mời tới. Tiếp tôi là ông Bùi Tấn Đ.lãnh đạo. Ông ta còn trẻ, khá từ tốn. Ông đặt một quyển sách tổ bự như quyển tự điển mà tác giả là một “Một cán bộ tuyên huấn”.

Ông Đức nói: “Thưa bác, trong sách này có lệnh cấm sách của bác”. Cùng lúc ông Đức cầm quyển sách lật tìm cái trang có lệnh cấm. Tôi nói: 

“ Ông ạ tôi chẳng cần xem, không cần biết trong ngữ ấy nói cái quái gì.”

Lúc này tôi chợt hiểu là không cần tranh luận gì thêm. Quyển sách cấm này xem như là quyển Hiến pháp Văn nghệ của nước CHXHCNVN. Tôi chỉ nói:

“Vào được đây tôi phải làm đơn xin sao lục, có chính quyền chứng nhận. Vậy nay cấm sao lục, thì anh phải cho tôi cái lệnh cấm của thư viện, phải có chữ ký đàng hoàng của người có trách nhiệm ký, và có đóng con dấu của nhà nước. Tôi chỉ cần ngần ấy thôi. Chớ lời nói gió bay, sau này tôi có chửi toáng lên thì các ông bảo rằng đâu có cấm, thì tôi phải đi tù vì tội vu cáo.” 

Ông Đ.hứa là sẽ có giấy và sẽ mời tôi trở lại nhận giấy. Đã hơn một năm trôi qua tôi chẳng thấy ai thực hiện một cách sòng phẳng, đúng luật chơi là ký, và trao cho tôi cái giấy, là một lệnh cấm đó cả. Ba trăm nghìn đồng tôi ứng trước nay vẫn còn nằm trong thư viện. Hơn một năm tôi chưa hề nhận được cái giấy mời hay một cú điện thoại đến trả lời dứt khoát, như lời viên phó thủ trưởngđã hứa.

Tôi rất ung dung tự tại. Không hề buồn hay uất mần chi chuyện vặt này. Hơn ba mươi năm kinh nghiệm dạy cho tôi cung cách “nàm nụng” tại “lơi lày”. Rằng thì là lánh, lãng, lơ, lì, lừa, luồn lách, lật lọng, lờ, lâu…. rồi quên.

Vả lại cấm bằng miệng thì gió bay đi, quỵt được, lại không bằng chứng ghi âm tại chỗ, chớ xấn vô cái trang giấy một con dấu đỏ thì phải chịu trách nhiệm rõ ràng, khó thể lật lọng. Mà trách nhiệm à? Nhân dân là nhân dân chung chung. Cán bộ là cán bộ chung chung. Có cán bộ nào rõ ràng là một “đích thực con người” tạm có chút liêm sỉ và lương thiện đứng ra để nhận trách nhiệm đâu. Đã có con ma vô hình là tập thể chung chung nhận trách nhiệm rồi. 

Tác giả sao lục tác phẩm của mình ngay tại “Phòng đọc hạn chế” mà bị cấm. Tự do ở đây quả là người ta đã ướp và chôn theo xác chết trong lăng mộ kỹ càng. 

Lý Đợi: Các tạp chí, các nhà xuất bản, trong cũng như ngoài nước lâu nay in ấn nhiều tác phẩm của ông người ta có trả nhuận bút sòng phẳng, cũng như xin phép in ấn theo luật tác quyền?

Cung Tích Biền: Anh em ở nước ngoài do liên hệ khó khăn nên thỉnh thoảng đăng truyện của tôi - thường là đăng lại - không có thông báo trước. Nhưng chỗ quen biết, sau đó có mail, thư, một chút tiền gọi tình, và tặng số báo có đăng truyện. Nói chung là tạm đàng hoàng. 

Một số nhà xuất bản nước ngoài thì trước khi in truyện người ta làm thủ tục xin phép bằng văn bản như Tập san Văn chương Le Serpent A Plumes, Paris. Nhà xuất bản Philippe Picquier xuất bản tập truyện En Traversant Le Fleuve, trong đó có truyện Qua Sông của tôi - Dịch giả Phan Huy Đường chuyển ngữ - đã gởi bản hợp đồng, ứng tiền trước. 

Tháng 4/2005 thông qua nhà văn Nguyên Hương, tôi được một email xin phép đăng truyện “Bạch Hoá” trên tập san văn học Amerasia của University of California, Los Angeless. Thời gian này tôi nằm bệnh viện không mở máy. Qua ba lần mail, không nhận được hồi âm đồng ý, thì người ta không đăng “Bạch Hoá”.

Tôi dài dòng thế này là để cảm tạ cái văn hóa ứng xử. 

Trong nước, xin đơn cử một chuyện (trong nhiều chuyện) làm vui. Nhà xuất bản Văn học đã lấy truyện Không thể là hiện thực của tôi in trong tuyển tập Đêm bướm ma [truyện này của tôi đã đăng trên Hợp Lưu (Mỹ) 1998, và Tập san Văn Chương (đăng lại năm 1999)]. Nhà “Văng học” không hề xin phép tôi, hoặc thông báo đã in truyện, dù một cú phôn. 

Mà truyện Không thể là hiện thực của tôi nội dung có ma cỏ gì đâu. Chỉ là nó rủi ro gặp lũ Ma Lưu chôm chỉa trên cõi đời. 

Lý Đợi: Một chút về tiểu sử văn học của ông?

Cung Tích Biền: Hình như tôi đã lai rai đề cập một phần tiểu sử cùng một số hà cớ tạo ra tác phẩm trong những câu hỏi trên. Thấp thoáng? Vậy đủ rồi!

Lý Đợi: Châm ngôn sống của ông?

Cung Tích Biền: Châm ngôn sống? Có đấy. Nhưng quá đát, cũ xì rồi. Nói ra các bạn cười. Chỉ còn là Chôn-Ngâm. Chôn trong dặm dài bóng tối và Ngâm trong kinh nước đen quê nhà. 

Tôi tặng ông một câu thơ tự trào cà chớn: 

Châm ngôn. Chồn ngấm. Chấm ngồm.
“Good bye” chẳng đặng “Go home” trễ tràng” 

Lý Đợi: Những ý mở rộng, dẫn dắt mà ông thấy cần nói thêm cho lần phỏng vấn này?

Cung Tích Biền: Hồi tôi lớn lên ở thôn quê thân ái ngày xưa, đồng thì xanh, trời trong, trẻ em thường dắt dẫn những con trâu già đi ngao du gặm cỏ. Con cò con vạc, bầy vịt trời tự nhiên qua về như mây. Hình ảnh này là thẩm mỹ một quê hương. 

Bây giờ bọn trâu già sừng mọc ngay mông, đi thụt lùi bờ cỏ. Thay vì bọn trẻ xã hội chủ nghĩa theo hướng sừng, dắt trâu tới, bỗng thụt lùi theo trâu. Cho nên muốn nghĩ đến tương lai, anh hãy nhìn lui xa xa lẫn xa xăm, thì thấy tương lai trong quá khứ dặm ngàn. 

Tôi đọc thử câu thơ này của Người Trăm năm cũ anh nghe còn hợp thời trang không:

“Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng mục tử lại cô thôn.” 

Hình bóng xưa đã vụt mất. Hôm nay treo lơ lửng trên trời quê hương là cái lưỡi liềm như thể trăng non vàng nhạt. Lưỡi liềm trên một nền hoàng hôn ráng chiều in máu. Và mây đen xây thành bức tranh mây chó. 

“Vân cẩu hề thế gian ư cừu ngục.”

Thơ chữ Hán của tại hạ đó.

Lý Đợi: Vậy thật lòng thì ông nghĩ gì khi trả lời bài phỏng vấn này?

Cung Tích Biền:

Thú vị.
Nhưng buồn.
Một triệu cái Nhưng. 

Lý Đợi: Từng đọc một số truyện của Hoàng Thị Kim trên Khởi Hành, Trình Bày,… một giọng văn có bản lĩnh. Từ ngày lấy ông, vợ ông có còn viết văn không? Ông nghĩ gì về vợ mình?

Cung Tích Biền: Vợ tôi nhỏ hơn tôi 15 tuổi. Người Quảng Trị. Bên nội họ Hoàng. Bên ngoại Lê. Hồi trung học, học trường Đồng Khánh, Huế. Vào Sàigònhọc tiếp, ở nhà người cậu ruột là luật sư Lê Nguyên Phu– ông này là Tổng Giám đốc Hiến binh thời Cộng Hòa, về sau ngồi ghế Công tố ủy viên xét xử vụ án Phật giáo và trí thức chống chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963. Luật sư Lê Nguyên Phu cũng là người ký lệnh mời Nhà văn Nhất Linh ra hầu tòa. Nhà văn Nhất linh đã tuẫn tiết, không hầu tòa.

Tốt nghiệp khoaTriết,Văn khoa Sàigòn, cô có viết một số truyện ngắn đăng trên vài tập san văn chương, bút hiệu Hoàng Thị Kim. Rồi lấy chồng, sinh con, bỏ viết. Tôi không biết vì sao, mà cũng không hề hỏi han do hà cớ chi mà không viết nữa. 

Người Quảng Trị chịu lao lung, bao dung, âm thầm số một. Lấy nhau suốt 35 năm, lúc đủ ăn, lúc cơ cực nợ nần, phải cầm cố nhà cửa vì nợ, vợ tôi chưa bao giờ mè nheo về tiền nong. Chưa bao giờ ép tôi phải viết thế này thế nọ. Không bao giờ hỏi tôi tiền nhuận bút. Đọc của tôi từ khi chưa cưới nhau nhưng không phê phán khen chê. Nhưng rất âm thầm chia sẻ nỗi đau của chồng, và chăm sóc, tôn trọng sự lựa chọn lý tưởng của chồng. 

Người là Mẹ của tôi, vì đến hôm nay vẫn còn chăm sóc cho tôi viên thuốc uống, tấm áo giặt xong, ủi thẳng, cái kem đánh răng, khăn lau mặt, đôi vớ, thay bao gối ra giường, lau dọn bàn viết. Cơm tới bữa lên mâm, “Này con, hai giờ chiều rồi, ngưng viết, lo ăn cơm đi con”. Nhiều năm nay Hoàng Thị ăn chay trường. Thuộc nhiều kinh Phật, nghiên cứu kinh Dịch, rất giỏi phong thủy. Sớm mai thường trực tụng kinh. Chiều chiều đi chùa. 

Nói chung, tôi xin cảm ơn Phật Bà Quán Thế âm. 

Lý Đợi: Vắng bóng trên thập kỷ rồi. Ông sẽ xuất hiện lại chứ. Ẩn danh mãi sao ông nhà văn?

Cung Tích Biền: Danh đâu mà ẩn. Chỉ là tìm chỗ trốn cái gió tanh mưa bụi. 

Tôi có một kho tàng sống qua mấy thời kỳ. Chỗ giáp ranh của thực hư, chính tà. Nửa tỉnh nửa điên. Thuộc Pháp, chống Pháp, nội chiến, hoà bình, rồi“định hướng xã hộichủ nghĩa” để rồi tuyệt đối mất phương hướng. Nửa đời trước của tôi, Cộng hòa ấy mà, tự do quá mạng kể cả tự do chửi bới ỉa mửa. Một nửa đời còn lại, thì…“Công lý một chiều, Tự Do giới hạn”.

Tôi là trập trùng kỷ niệm. Vô cùng linh tinh, vô cùng đáng khóc cười chuyện cỏ hoa vật dụng. Trong xa vắng, tôi thương xót con trâu Đụng kéo cày cho gia đình tôi hồi kháng chiến. Hơn năm mươi năm sau, bây giờ, không dám ăn thịt trâu. Chẳng lẽ xực thịt mình. 

Tôi nhớ con chó Bô, nó đau ốm năm sáu ngày, vợ chồng tôi ôm nó đi chạy chữa phòng thú y hai ba nơi, hôm nó chết tôi ngồi khóc ròng ở nhà hoạ sĩ Thanh Tùng. Họa sĩ Hồ.H.Th hỏi, “Người thân yêu nào qua đời mà tiếc thương úa vậy?:. Tôi nói, Con chó Bô nhà tôi nó “chuyển sang từ trần”.

Một thằng Người chết ướp, có khi mình không độc địa cũng rủa thầm chết mẹ mày cho xong nợ; sao con Bô thôi thở, tôi lại xót thương, Sao mày đi sớm quá vầy Bô. 

Không viết thì tôi điên. Tôi viết nhiều, viết mịt mùng. Tôi phải có chỗ mà trải ra chớ. Cho nên, ông sẽ không ngạc nhiên gì khi tôi lại, sẽ, có bài đăng, trong nước, hải ngoại, lên mạng, ra sách. Nghĩ cho cùng, không mảnh đất nào là không thể cắm dùi. 

Xong nợ với ông rồi. Tôi đi khiêu vũ, uống rượu đây ông Lý Đợi. 

Lý Đợi: Trước khi đi uống rượu, qua bài phỏng vấn này, ông có muốn thỉnh cầu một điều gì không?

Cung Tích Biền: Nhân đây tôi có một thỉnh cầu (không phải kêu xin, vì nếu làm đơn xin thì 30 năm nay tôi đã làm rồi) với Nhà nước CHXHCN Việt Nam như sau: 

CHỈ GIÙM TÔI NƠI CHÔN CẤT HAI NGƯỜI ANH RUỘT CỦA TÔI. 

Người thứ nhất: Ông Trần Ngọc Biền, vào bộ đội năm 1952, sĩ quan, chết năm 1969, tại vùng núi Nghĩa Đàn, Nghệ An. Anh có nhiều huy chương và bằng khen thưởng, có cả chữ ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp… 

Người thứ hai: Ông Trần Ngọc Tấn, sĩ quan cấp tá quân lực VNCH. Có đi trình diện sau tháng 4-1975, đi học tập và chết trong trại cải tạo. Gia đình chỉ được thông báo cái chết từ năm 1978 mà không biết nơi chôn cất. 

Tôi, Trần Ngọc Thao, năm nay,2007, cũng đã ở tuổi cổ lai hy, nếu được quy kết mộ hai ông anh ruột cũng là một thỏa lòng. Nhà nước giúp tôi việc này cũng là phù hợp với Đạo lý Việt Nam. 

**

-Ghi chú của người phỏng vấn:

Theo file thông tin còn lưu giữ trong máy vi tính, lần đầu tiên tôi đề nghị thực hiện phỏng vấn trực tiếp nhà văn Cung Tích Biền là ngày 28-11-2003, nhưng do một vài lý do khách và chủ quan, lần đó bất thành. Lần thứ hai, tôi đề nghị và được ông đồng ý để thực hiện trực tiếp là ngày 28-10-2006 và bài phỏng vấn này sơ kết câu hỏi cuối cùng vào ngày 22-01-2007, hoàn tất ngày 28-01-2007.

© 2007 talawas

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét