Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2019

Tùng Duy Hi: Người Dắt Lạc Đà (Nguyễn Văn Thực dịch từ tiếng Hoa) (Kỳ 1)

Người Dắt Lạc Đà
牵骆驼的人


Tùng Duy Hi


LND: Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong Lời Nói Đầu của tập thơ Hạt Máu Thơ có viết: ”Sự tàn bạo man rợ của Cộng sản tôi hiểu. Thế mà khi đọc truyện ngắn ’Người dắt lạc đà’ của Tùng Duy Hi người Trung Quốc viết về Cách mạng Văn hoá, về tội ác của chế độ Mao, của Hồng vệ binh, tôi vã mồ hôi trán vì xúc động, vì phục tài người viết.” 
Cũng cần nói thêm, theo sự tìm tòi của người dịch, và nhờ sự chỉ dẫn của trưởng ban Hán, Hàn, Nhật, thuộc NXB Nhã Nam, thì truyện này chưa từng được dịch ra tiếng Việt. Điều này có nghĩa là Nguyễn Chí Thiện biết cả tiếng Hoa, biết thành thạo.  
Người dịch giữ lại lối chấm câu của tác giả. 

*1* 


Mồng 3 tháng 3, chùa mở cửa. 

Cái thị trấn nhỏ bị bụi, khói sa mạc bao phủ, đột nhiên trở nên sống động khác thường. Khách đến thắp hương vãn chùa chân nối chân, du khách, du khách lũ lượt. Người thổi kẹo đường, phướn trên đỉnh sào tre, người bán kẹo bông đường, những màn trò khỉ, trống thì thòm, những tay bán ma tuý rong, tất cả tụ tập trước sân Chùa Lạt Ma của thị trấn nhỏ. ”Con phe”từ phương Nam tới treo bán xung quanh sân chùa những cái áo khoác ngắn đủ màu, đồ lôcan cũng có, đồ nhập cũng có, đồ nửa lôcan nửa nhập cũng có luôn. Bán những đồ đại loại như thế mỗi năm một lần ở hội chợ chùa và đi lòng dòng trong đó, thì thiệt là không thích hợp với chốn tôn nghiêm, nhưng màu sắc và lạc thú của sức sống thì tràn trề và tuyệt vời. 

Mồng 3 tháng 3 Âm lịch, tức ngày 18 tháng 4 Dương lịch, phía bên kia Vạn Lý Trường Thành khói liễu đã mông lung, khó mà thấy được đầu ngọn của những hàng liễu cát, khói giống như một tấm vải dệt màu xanh pha màu vàng nhạt. Giống gai lạc đà trổ mầm trên lớp da đất hoang dại, khô cằn; đây là trang sức duy nhất của mùa xuân trên sa mạc mênh mông. Ngoài màu vàng rồi lại màu vàng, chỉ có những đụn cát tô son môi ngoài xa xăm – vầng mặt trời đã mọc nơi xa xăm ấy. 

Hồng Đức Chương là một người dắt lạc đà hai bướu, chạy nhanh xuyên qua khoảng cách 18 dặm (18,5 km) tới chợ phiên Chùa. Gà gáy canh hai, nhóm bếp; gà gáy canh ba, lên đường. Đường trên cát mềm như lót bông; thật khó cho một người chạy nhanh muốn vượt quá tốc độ. Hồng Đức Chương đã quen chạy lúp xúp với lạc đà, nay bước theo nhịp cố định, không vội, không chậm, thật ung dung. 

Đây là một con lạc đà già sống bên kia Trường Thành. Trên cần cổ có túi thịt, lông lạc đà mọc dựng đứng, trên lưng có hai bướu, một cao, một thấp, hói như ngọn núi một tấc cỏ cũng không mọc được, phô ra lớp da sần sùi nâu xanh giống như màu đá. Đó là vì những gánh nặng trên đường dài bất tận, những vết tích của cuộc đời, còn lưu lại. 

Mặc dầu con lạc đà già đã tới tuổi mừng kim khánh, ngọc khánh, nhưng, với trang sức trên mình, vẻ quyến rũ của nó vẫn còn đó. Dây cương bằng ny lông, vải trùm đầu làm bằng len dệt màu xanh lam, giữa miếng trùm đầu có treo một giải lụa màu đỏ, giống như màu cao lương đỏ rực. Ở bên kia Vạn Lý Trường Thành người ta gọi giống lạc đà này là ”thuyền sa mạc”, nó gần như chỉ làm công việc nặng nhọc, nhàm chán, và cũng chẳng phải là con lạc đà ”dẫn đường”. Hồng Đức Chương có sáng kiến trang sức cho nó thành nàng ”Hoa Đán” (một nhân vật nữ trong tuồngcổ Trung Quốc), thậm chí cái chuông treo thòng nơi cổ cũng khác những con lạc đà khác, những con lạc đà này chỉ có một chuông đơn nơi cổ, còn nó được đeo chuông đôi. Chuông làm bằng đồng thau sáng bóng, tiếng chuông thật trong, thật ngọt. Một bước, một lắc, một tiếng chuông…. tiếng chuông, tiếng hát từng chuỗi lan xa tới nhưng con đường cổ xưa trong sa mạc, tạo thêm một chút niềm vui cho những chuyến lữ hành cô đơn. 

Người chủ của con lạc đà Hồng Đức Chương và con lạc đà già trông giống nhau. Ông ta, tay nắm dây mũi đi trước con lạc đà, và mắt thì khi nhắm khi mở; thỉnh thoảng ông kéo dây mũi thúc con lạc đà đi cho nhanh. Đi được một lúc, ông ta lại lấy một tay che một mắt, ngóng nhìn bức tường màu đỏ thắm của Chùa Lạt Ma mờ mờ ảo ảo, rồi đỡ lấy cái lưng cong như cây cung của mình, vươn thẳng lên một chút, và dường như có một chút hi vọng nào đó nơi chợ phiên ở chùa, đôi môi ông run rẩy, như đang tụng thầm trong lòng một loại kinh nào đó, niệm đi niệm lại: 

Quá khứ xa vàng mất sắc 
Tương lai gậy, trượng mọc mầm 
Vàng trăng tốt thiệt nào sai 
Tiền tài vào nhà rầm rầm 

(Viễn khứ hoàng kim thất sắc 
Thái lai bổng, chuỷ xuất nha 
Nguyệt kim cực hảo vô sai 
Chiêu tài tiến bảo phát gia) 

Ông ta không biết giờ nào của năm nào, không biết mạng ông và quẻ kim tiền sẽ tương hợp với nhau hay không. Mỗi khi ông ta dắt con lạc đà ra khỏi nơi trú ẩn trong sa mạc, ông ta gieo 3 đồng tiền cắc loại 2 hào lăn tròn trên đất 6 lần. Chiều tối hôm qua ông ta lôi mạnh con lạc đà trở lại Trương Gia Khẩu, người buồn ngủ, lạc đà mệt, nhưng nghĩ tới ngày mai là ngày mồng 3 tháng 3, ngày chợ phiên chùa, ông ta lại lấy tiền cắc thay vì tiền cổ, gieo 64 quẻ thì trúng quẻ thứ 60, quẻ tượng Trung Thiên đoán định là ngày 3 tháng 3 là ngày hoàng đạo, ngày tốt, bèn dắt lạc đà đạp cát chạy băng băng tới Chùa Lạt Ma. 

Đi mua gì vậy? Không mua gì hết. 

Đi mua gì vậy? Không mua gì hết. 

Hồng Đức Chương đi qua sa mạc đến Trương Gia Khẩu, nơi một thời ông từng là phu dắt lạc đà một công ty ở thị trấn chuyên buôn bán da thuộc, trong khi thay phiên làm việc ở Trương Gia Khẩu mới đây, đầu cầu của trung tâm thị trấn, ông đã có lần gặp một đám nam nữ người tây phương tóc vàng, tròng mắt xanh đứng chặn đường, ông đứng chết trân, không biết phải xử ra sao. Người thông dịch nói cho ông ta biết là mấy người Tây này không có ý xấu, họ chỉ muốn luân phiên chụp hình cùng ông ta và con lạc đà ở Cầu Lớn. Hồng Đức Chương, thực lòng mà nói, không biết là người ta muốn chụp hình màu ông ta và con lạc đà, ông ta không lắc đầu từ chối, cũng không gật đầu đồng ý, ông chỉ là một chút ”gia vị” trong một tấm ảnh chụp làng Hồ, xứ Hồ, cách cách một tiếng, có một cô gái ngoại quốc rất đẹp đang đứng, lúc đó chưa chi mà từ trong máy ảnh cô ta cầm trên tay đã chạy ra một tấm ảnh và tặng ông tấm ảnh ấy. Thoạt đầu tấm ảnh còn lờ mờ; nhìn lại lần nữa ông ta và con lạc đà cả hai chầm chậm phô ra. Ông ta vội vàng móc túi, lấy ra hai đồng tiền cắc, tiền ăn đi đường, người thông dịch không nói gì, cầm lấy tiền ấy và nhét vào túi lại cho ông ta, ông người Tây lúc nãy ngáng đường ông, ép ông nhận một tờ giấy bạc có in đầu một ông Tây. Cho tới khi đến quán bán đồ da, ông hỏi dòng dòng, lúc đó ông mới biết đó là một tờ mỹ kim 10 đồng. 

Khi về tới được nhà, lòng cứ như hủ ngũ vị: chua, ngọt, đắng, cay, mặn bị đổ: sợ sợ, mừng mừng, mừng mừng, sợ sợ. Ông nhìn vào tấm ảnh màu chụp ông và con lạc đà, đôi môi khô héo thoang thoảng một nụ cười, vì trong phạm vi gần như trong vòng mười dặm (5 km), có 10 người dắt lạc đà, không có lấy một người dắt lạc đà tải hàng hoá làm cái nghề như vậy; lại nhìn cái tờ giấy bạc 10 mỹ kim, vành môi nở một nụ cười lúc nãy, giờ mím lại thành chữ nhất (一). Thứ tiền này ông đã gặp khi đi lính ở Triều Tiên, chúng cùng mấy anh chàng Tom nước Mĩ đều đã trở thành chiến lợi phẩm và được chuyển lên cho cấp trên. 

Những chuyện này đã xảy ra lâu lắm rồi, đã giống như những vì sao mờ mờ mà ta đứng dưới đất nhìn lên bầu trời: năm ấy ông vừa mới ngoài đôi mươi, lúc đó đang biểu diễn trò ”cỡi ngựa bắt dê”, được đại đội trưởng trong đồn yêu mến, nhập ngũ chưa được nửa năm, rồi hát bài ”lòng anh dũng, chí hiên ngang” qua cầu, vượt sông Áp Lục. Hồng Đức Chương tới nay vẫn còn nhớ ngày ấy là ngày 25.10.1950. Anh công tác ở ban hậu cần. Mỗi ngày anh dắt lừa, ngựa mang lò bếp, dụng cụ nấu ăn, tiến quân theo toán bộ đội đi đầu. Ngày đó cũng không đến nỗi nào: vừa hồi hộp vừa thoả chí, vượt sông rồi, chưa quá ba tháng, súng chưa bắn một phát thì bộ đội đã đến được Hán Thành. Sau đó, anh và các chiến hữu gặp chuyện không may, khi rút lui khỏi Hán Thành bộ đội và hậu cần chạy thoát thân trước tiên, các toán xe tăng của Mỹ cắt ngang con đường rút lui, nhiều chí nguyện quân bị bắt làm tù binh. 

Bị nhốt tại trại tù binh chằng chịt hàng rào điện. Nhập vào Triều Tiên đã mấy tháng, anh vẫn chưa bắn súng lần nào; bị bắt làm tù binh anh ta trở thành một con ngựa non bất kham, háu đá, hung hăng. Vào đêm lạnh, trời tối thui, gió lớn, chàng ta đã hai lần trốn trại tù, cả hai lần đều bị bắt lại. Thế rồi lính canh tù, để phòng ngừa chàng ta trốn tù lần nữa, bèn tìm cách thử xem chàng ta có làm gì được nữa không: Họ dùng thuốc mê gây mê chàng ta, và dùng kim bằng thép nhúng vào thuốc có hoá chất châm trên cánh tay trái chàng ta bốn chữ: ”反共到底: Phản Cộng Đáo Để: Chống Cộng Tận Cùng”. Khi anh ta tỉnh dậy, hành động phản đối thứ nhất là tuyệt thực một tuần, sau đó lén lút kiếm một mảnh đá miếng làm dao nhọn, như chuyện Quan Vân Trường cho phép thần y Hoa Đà vì mình mà nạo xương trị độc, chàng ta kêu các chiến hữu của mình dùng miếng đá nhọn nạo cho mất vết sỉ nhục trên cánh tay mình. Chàng ta cắn chặt răng, không rên, không la, cái chỗ bị nạo đó máu thịt bị thối. Chăn đắp bị nhuộm đỏ. Nhưng điều làm chàng ta thất vọng là sau khi vảy vết thương tróc ra, cái hàng chữ chàng ta căm thù trong tận xương tuỷ, cái hàng chữ ấy vẫn nằm chần dần trong da thịt anh như cũ. 

Chàng ta la . 

Chàng ta hét. 

Chàng nhảy choi choi chửi bọn lính Mỹ coi tù. 

Một khi chàng ta hoàn toàn không thể xả được những phẫn nộ trong lòng như thế, anh ta cảm thấy là mình bị tà hoả và anh thích được ở tù mà bị tà hoả như thế – Lý Quảng, thông dịch viên cao ráo, đẹp trai nhìn chằm chằm vào hai vết tát còn in dấu rõ ràng ràng trên má của Hồng Đức Chương. Thế là cái anh chàng đẹp trai này lợi dụng giờ tù binh được ra ngoài hóng mát, và nhân gặp được Hồng Đức Chương tại cầu tiêu, thì lấy cái giọng tử tế khuyên anh ta phải coi chừng, đừng ách giữa đàng mà quàng vào cổ... 

Ký ức chết đã lâu, chuyện ông nắm trong lòng bàn tay tờ mỹ kim lại hiện lên trong trí. Ông ta, vốn bị bệnh hay quên, mí mắt khô làm thốn cả mắt... Trong những ngày ấy ông ta từng gặp các chiến hữu lấy đô la làm đích bắn cho súng, hay cuốn làm điếu thuốc lá. Cái ông lớn trên tờ giấy bạc để cho người ta đội tóc giả đó là ai, giờ lại theo điếu thuốc lá thành tro tàn? Cả trong giấc mộng Nam Kha hơn 30 năm,chưa thấy Hồng Đức Chương với vết tát và anh thông dịch viên đẹp trai hội ngộ với nhau một lần. Theo như lời của người ở trạm mua bán hàng da nói cho ông, thì cái tờ bạc đó, đổi chợ đen thì cũng được ít nhất 5 đồng “đại đoàn kết”, thế rồi có một tiểu sư phụ trẻ tuổi giộng quầy một cái rầm và đưa ra 50 đồng, Hồng Đức Chương không muốn mất đi một món hời, chụp ngay tờ giấy bạc 50 đồng ấy và bỏ vào túi áo, hoàn thành cuộc đổi chác một cách bạo dạn không ngờ. 

Ông ta là một con ma cô độc trong mồ, cũng có cái ăn cái mặc. Giữa thập niên 50, có người đàn bà câm ưng ông ta, một anh chàng đã quá 30, đến năm 1984, thì xuống suối vàng trước ông ta, nằm xuống trong sa mạc và làm bạn với gai lạc đà, chỉ còn con lạc đà già đó là bầu bạn với ông ta, kẻ bị ngã gục và bị bỏ mặc, muốn làm gì thì làm trong nơi heo hút. Người ta không biết rằng Hồng Đức Chương cũng đã đi kiếm nơi gởi gắm tình cảm của mình, vì tại nơi đầu cầu Trương Gia Khẩu, mộng ước vẫn còn đó, và dù gì đi nữa thì vợ ôngcũng đã chết, ông ta dùng hết tinh lực mà trang sức cho con lạc đà già, chải bờm, chải đuôi cho nó, mua vải trùm đầu, cột chuông nhỏ. Nhưng điều làm cho ông chán nản đó là chuyện xảy ra ở đầu cầu Trương Gia Khẩu, du khách không còn đến thăm nữa. Hạn lâu, không mưa, đồng* khô cỏ cháy, cho nên ông ta đành phải dắt lạc đà tới chợ phiên trước chùa Lạt Ma. 

Hết phần 1. Còn tiếp 3 kỳ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét