Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2019

Mai Loan: Di Dân Lậu

Khó khăn để giải quyết nạn di dân lậu, hay là chính sách “cây gậy, củ cà-rốt và hàng rào biên giới”? 

Lời Tòa Soạn.- Một trong những câu chuyện thời sự đang sôi nổi tại nước Mỹ hiện nay là vấn đề di dân lậu và ý định xây dựng bức tường trên biên giới Hoa Kỳ và Mexico của TT Trump. 
Mời độc giả xem lại một bài viết tuy cách đây đã 13 năm về đề tài này của tác giả Mai Loan, để thấy vấn đề di dân lậu không phải là mới đối với đất nước này. Tuy bài viết có phân tích những chuyện thời sự cũ của chính giới Hoa Kỳ vào thời bấy giờ, nhưng cốt lõi của toàn bài vẫn cung cấp cho người đọc ngày hôm nay những kiến thức cơ bản của vấn đề. 


Nếu ai có hỏi các nhà báo hay các giới chức lãnh đạo rằng Hoa Kỳ sẽ phải lo đối phó với những đề tài đối ngoại quan trọng nào thì thường sẽ được nghe trả lời với những chủ đề quen thuộc như là cuộc chiến Iraq, vấn đề khủng bố toàn cầu, mối hoạ phổ biến hạch tâm v.v. . . Thế nhưng nếu như đặt cùng câu hỏi với đại đa số người dân Hoa Kỳ thì câu trả lời có lẽ hoàn toàn khác hẳn, bởi vì chính sách di dân (hay đúng hơn là vấn đề giải quyết khối di dân lậu) mới chính là mối bận tâm đáng kể đối với nhiều người, cho dù ở cả hai mặt bênh cũng như chống. Đối với phần đông độc giả Việt Nam, đề tài này cũng không làm bận tâm nhiều người vì có thể nói, đến gần như tuyệt đại đa số người Việt đến định cư ở Hoa Kỳ đều theo ngả chính thức với chiếu khán nhập cảnh cho dù là đoạn đường trải qua trước đó cũng có thể có lắm gian truân hay nguy hiểm. Vì phần đông đều không trải qua tình trạng nhập cư bất hợp pháp nên không hiểu rõ tâm trạng của người di dân ở lậu cũng như không mấy để ý hay quan tâm lắm đến đề tài này. Tuy nhiên, đây là một chủ đề khá nóng bỏng hiện nay trên chính trường Hoa Kỳ, nhất là trong bối cảnh của cuộc bầu cử toàn quốc sẽ xảy ra vào đầu tháng 11 năm nay, và xuyên qua những cuộc xuống đường biểu tình khá quy mô và rầm rộ một cách hết sức bất ngờ (có đến khoảng 500 ngàn người tụ tập để biểu dương khí thế chỉ riêng ở Los Angeles) tại nhiều thành phố lớn nhỏ trên toàn quốc. Trong khi đó, cho dù là cuộc chiến ở Iraq đã mất chính nghĩa và sự ủng hộ của đa số dân Mỹ đã tụt nhanh xuống, cho đến nay vẫn chưa có những cuộc xuống đường với số lượng đông đảo người tham dự cho bằng những vụ biểu tình của khối di dân Hispanic trong những tuần lễ qua. Do đó người viết bài này xin phép được lạm bàn vài điều trong đề tài này. 

Đây là một chủ đề gây nhiều tranh cãi bởi vì hai luận cứ bênh cũng như chống đều có những lý do chính đáng để biện minh cho lập luận của nó. Về phía chống, luận cứ xác đáng đầu tiên cho rằng Hoa Kỳ là một quốc gia tôn trọng tinh thần dân chủ pháp trị, do đó những người nào vi phạm luật pháp hiện hành – mà những người di dân lậu tức là đã vi phạm luật lệ rồi – chắc chắn sẽ phải trả giá cho tội trạng này, dù nặng hay nhẹ. 

Về mặt kinh tế, nhóm di dân lậu, mà phần đông là khối người Hispanic (nói tiếng Tây Ban Nha) và trong đó đa số lại là dân đến từ Mễ Tây Cơ, lân bang ngay sát nách ở miền nam Hoa Kỳ, thường là nghèo khổ nên trở thành gánh nặng cho công quỹ của các chính quyền tiểu bang hay địa phương trong các chi phí y tế và giáo dục. Hệ thống cung cấp các dịch vụ dân sinh này tương đối khá nhân bản ở Hoa Kỳ không cho phép các bệnh viện công cũng như các trung tâm y tế công cộng từ chối săn sóc hay chữa bệnh cho những người di dân lậu nếu như họ bị thương hay đau ốm mà không có bảo hiểm sức khoẻ hay đủ tiền để đi bác sĩ tư. Truyền thống cưỡng bách giáo dục phổ thông từ cấp mẫu giáo đến trung học ở Hoa Kỳ có tính cách khuyến khích và giúp đỡ mọi người đưa con em đến trường mà không phải sợ tốn kém vì đã có ngân quỹ của chính quyền (đại diện qua các khu học chính địa phương) đài thọ học phí kể cả tiền ăn sáng và ăn trưa ở trong trường và cung cấp luôn cả phương tiện chuyên chở bằng xe buýt miễn phí cho các em học sinh. Do đó khó có thể từ chối việc giáo dục các con em của những người di dân lậu nếu như họ muốn đến ghi tên học ở các trường công lập. Dĩ nhiên, những chi phí để tạo nên ngân sách của các khu học chính là do sự đóng góp của mọi cư dân trong vùng dưới dạng tiền thuế thổ trạch và tài sản (property tax). Vì đa số các di dân lậu nghèo khó nên phần đóng thuế của họ rất thấp nên cái gánh nặng mà đa số cư dân hợp pháp phải è cổ ra chi cho các con em này kể ra cũng là điều không công bằng. 

Về mặt xã hội, cũng bởi do nguồn gốc di dân lậu xuất thân từ những giai tầng nghèo khổ bần cùng nên khối người này trong giai đoạn đầu không thể nào đem lại một sinh khí lành mạnh hay tươi sáng cho xã hội mà họ mới nhập vào, nếu không muốn nói là chỉ tạo thêm những “khu ổ chuột” (ghettos) mới với những tệ đoan xã hội như băng đảng, trộm cướp v.v... 

Nhưng về phía ủng hộ, lập luận bênh vực của họ cũng xác đáng, dựa trên những sự thực diễn ra trong đời sống hàng ngày tại Hoa Kỳ. Nếu không có khối lượng khá lớn di dân lậu (ước lượng từ 11 đến 12 triệu người), liệu Hoa Kỳ và nền kinh tế nước Mỹ có thể nào vận hành êm ả để tiếp tục sinh hoạt thoải mái với cái giá vừa phải làm cho đa số hài lòng? Chỉ cần quan sát một vòng sinh hoạt hàng ngày ở nước Mỹ, người ta sẽ tự hỏi: Ai sẽ đi quét nhà, nhặt rác ở các khu thương mại? Ai sẽ làm những công việc nặng nhọc như rửa chén bát trong nhà hàng? Ai sẽ cắt cỏ để cho các sân trước và sau nhà sạch sẽ, gọn gàng tươi đẹp? Ai sẽ đi làm các công việc nặng nhọc ở các nông trại để hái trái cây hay thu nhặt rau quả để cung cấp cho các chợ búa và nhà hàng tiêu thụ? Hoặc trong các ngành xây dựng, ai sẽ làm các công việc nặng nề như khuân vác gạch, cuốc đất đẩy xe ở các công trường xây cất hay lợp mái nhà dưới khí hậu nóng như thiêu đốt ở miền nam? Phe này cho rằng đó là những công việc cần thiết cho đời sống hàng ngày mà, với đồng lương rẻ mạt càng ngày càng có ít người dân trong nước, kể cả thành phần Mỹ đen nghèo khó, chịu chấp nhận đi làm. Sự có mặt của khối lượng lớn di dân lậu này đã cung cấp và thoả mãn đúng nhu cầu cần thiết của nhiều cơ xưởng, thương vụ, nông trại và người dân trong nước. Hơn thế nữa, tuy là di dân lậu không có tính cách nhập cư hợp pháp, số người lao động này vẫn phải đóng thuế đầy đủ mà lại không được hưởng những quyền lợi sau này như tiền trợ cấp thất nghiệp hay tiền hưu hoặc các phụ cấp về thuế lợi tức giành cho các gia đình nghèo. Đã đành là nếu không có khối lượng lao động siêng năng và chịu làm với giá rẻ mạt này, thì các thương vụ hay cơ xưởng cũng sẽ tìm ra số nhân công khác để thay thế, theo quy luật cung cầu tự nhiên trong xã hội, nhưng chắc chắn là với cái giá phải trả là đồng lương sẽ cao hơn, và do đó giá thành cũng cao theo, có thể ảnh hưởng không ít đến mức sinh hoạt kinh tế trong nước. 

Về mặt xã hội, phía bênh vực cho khối di dân lậu cho rằng Hoa Kỳ là một nước được thành lập từ những nhóm người di dân và lớn mạnh dần nhờ ở sự đóng góp của nhiều khối di dân khác nhau trải dọc trong suốt lịch sử ngắn ngủi của quốc gia này. Những người di dân lậu, tuy nhập cư bất hợp pháp nhưng lại là thành phần công dân lương thiện, lúc nào cũng lo chí thú làm ăn, lao động vất vả không từ nan bất cứ công việc khó nhọc nào để cố gắng làm ra tiền và gửi về nước để giúp đỡ thân nhân và vợ con nghèo khó còn ở lại, hoặc nếu may mắn có vợ con đoàn tụ đông đủ ở Hoa Kỳ thường sống tụ tập thành những gia đình hiền hoà, ngoan đạo, siêng năng đi lễ nhà thờ vào ngày cuối tuần. Do đó sự có mặt và lớn mạnh của khối di dân này sẽ củng cố cho truyền thống bảo thủ và giá trị xã hội tốt đẹp cho nước Mỹ, trước những suy đồi theo trào lưu cấp tiến hay phóng túng như đồng tính luyến ái v.v... Giáo hội Công Giáo Hoa Kỳ là lực lượng ủng hộ mạnh mẽ nhất cho khối di dân này vì trong thực tế, tại nhiều địa phận hay giáo phận, số con chiên ngoan đạo siêng đi lễ hàng tuần đa số thường là thành phần dân gốc Mễ. 

Hơn thế nữa, Hoa Kỳ là nước có truyền thống đón nhận nhiều khối di dân khác nhau, nếu như nay tỏ ra khó khăn với khối di dân từ Nam Mỹ nhập vào thì hoá ra đang thực hiện một chính sách kỳ thị, một hành động không được luật pháp cho phép cũng như không thể chấp nhận hay ủng hộ với truyền thống tự do dân chủ lâu đời ở quốc gia này. Từ khởi thuỷ, sau các đợt nhập cư của khối dân đa đen được mua về từ Phi Châu để làm những công việc nô lệ, nhóm di dân đầu tiên đến đất Mỹ là từ Âu Châu sang, một phần là để trốn tránh xã hội kềm kẹp ở Anh Quốc hay các quốc gia Âu Châu khác. Một số khác, vì lý do tôn giáo, cũng muốn chối bỏ những ràng buộc của các giáo hội đương thời như Công Giáo, Chính Thống Giáo, nên phải rời bỏ Âu Châu để sang lập nghiệp ở Mỹ Châu. Phần đông khối di dân này theo đạo Tin Lành. 

Trong thế kỷ 19, vì nhu cầu mở mang thương vụ cũng như khai phá những vùng đất mới, giới chủ nhân ở Mỹ nhiều khi đã không ngần ngại trả phí tổn chuyên chở cho các di dân đến từ khắp nơi để làm những công việc nặng nhọc. Do đó, ngoài lực lượng lao động chính từ khối dân da đen vừa mới thoát khỏi ách nô lệ, Hoa Kỳ còn có thêm số đông dân Âu Châu và cả người Trung Hoa, một số lớn làm lao động trong các công trường hoả xa. Đến thập niên 1910, tinh thần hạn chế di dân bắt đầu manh nha trong nhiều tầng lớp quần chúng nên quốc hội Mỹ mới bắt đầu thông qua những đạo luật hạn chế nhập cảnh di dân hơn, bằng cách đòi hỏi những người mới muốn đến định cư phải qua những thử thách như biết đọc và viết tiếng Anh. Và vì muốn bảo vệ đa số theo đạo Tin Lành, quốc hội Mỹ trong thập niên 1920 đã tìm cách giới hạn những di dân đến từ các nước theo Công Giáo hay Chính Thống Giáo như Ý, Ba Lan, Hy Lạp v.v... Con số người di dân gốc Ý trong năm 1921 vào khoảng 220 ngàn đã phải tụt nhanh xuống chỉ còn có 6 ngàn vào năm 1925. Những giống dân Á Châu như Trung Hoa, Nhật Bản còn bị hạn chế gắt gao hơn, thậm chí còn bị đối xử bất công và kềm kẹp như dân gốc Nhật đã bị giam giữ trong thời Đệ Nhị Thế Chiến vì bị tình nghi là có thể làm gián điệp để ủng hộ cho phe Nhật trong thời chiến lúc bấy giờ. Mãi đến năm 1965 thì tiêu chuẩn giới hạn di dân theo chủng tộc mới được bãi bỏ. 


NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ 


Những giải pháp để giải quyết vấn đề di dân lậu đang được bàn cãi rất sôi nổi và gay gắt với những dự luật đề nghị hết sức đối chọi và xem chừng như rất khó tìm được sự đồng thuận do bởi nhu cầu chính trị khác nhau của các chính trị gia hay các vị dân cử tuỳ theo quan điểm hay lựa chọn của đa số cử tri ủng hộ của mỗi vị. Thậm chí hai viện của quốc hội cũng có hai khuynh hướng khác nhau, cho dù đôi bên vẫn thuộc về quyền đa số của đảng Cộng Hoà. Và đó là lý do tại sao vấn đề di dân có thể là yếu tố gây chia rẽ nặng nề ảnh hưởng nhiều đến sự đoàn kết và thắng lợi chính trị của đảng Cộng Hoà trong kỳ bầu cử vào tháng 11 sắp tới. 

Tại Hạ Viện, một dự luật – dưới sự bảo trợ của dân biểu James Sensenbrenner, chủ tịch Uỷ ban Tư Pháp Hạ Viện – đã được thông qua vào cuối năm ngoái với sự ủng hộ của đa số dân biểu Cộng Hoà và chống đối của gần như toàn thể dân biểu đối lập của đảng Dân Chủ. Dự luật này rất cứng rắn với khối di dân lậu, nhấn mạnh đến việc tăng cường việc kiểm soát ở biên giới bằng cách đề nghị việc thiết lập một bờ tường cao làm hàng rào kiên cố dài khoảng 700 dặm ở phía nam với kinh phí 2,2 tỷ Mỹ-kim để ngăn chặn bớt làn sóng dân gốc Mễ mỗi năm cứ tìm cách trốn sang biên giới bằng bất cứ phương tiện nào và trong bất cứ hoàn cảnh khắc nghiệt và nguy hiểm nào như khí hậu nắng cháy giữa sa mạc. Dự luật này còn quy định buộc tội những người di dân lậu là đã phạm tội hình (felony) và đòi trừng phạt gắt gao các thương chủ thuê mướn các di dân lậu (phạt 50,000 Mỹ-kim cho một lần vi phạm khi mướn một người di dân lậu). Không những thế, dự luật này còn đòi trừng phạt luôn tất cả mọi người hay các tổ chức đang giúp đỡ những di dân này, cho dù đó là các hành động từ thiện như săn sóc y tế, trợ giúp giấy tờ hay nhà cửa v.v... Cho đến nay, luật pháp tại Hoa Kỳ không quy định việc định cư bất hợp pháp tại Mỹ là một tội hình mà chỉ là một vi phạm vệ hộ luật (civil offense), không phải bị đóng phạt tiền hay tù tuy không được quyền hưởng các quyền lợi chính thức. Quan trọng hơn nữa là trong việc áp dụng luật pháp trong xã hội hàng ngày, việc điều tra hay bắt giữ những người di dân lậu không nằm trong trách nhiệm của các cơ quan công lực địa phương như cảnh sát mà là nhiệm vụ và thẩm quyền của chính phủ liên bang, trực thuộc Tổng Nha Di Trú, lúc trước nằm dưới quyền của Bộ Tư Pháp nhưng nay thuộc về Bộ Nội An. Tức là trong sinh hoạt thường nhật, nếu như cảnh sát gặp những người di dân lậu, họ không có quyền đòi hỏi xem xét giấy tờ để biết người đó có là di dân hợp pháp hay không, cũng như không có quyền bắt giữ họ chỉ vì cái tội duy nhất này. Chỉ có nhân viên công lực liên bang của Tổng Nha Di Trú mới có thẩm quyền này, thường là trong các chiến dịch truy lùng ở những nơi tình nghi thuê mướn số đông nhân công là thành phần di dân lậu. Bởi thế cho nên trong thực tế, khối di dân lậu, một khi đã lọt được vào trong nội địa nước Mỹ, thường không bị khó dễ gì nhiều, và nếu như chí thú làm ăn lương thiện, sẽ dễ dàng hội nhập và có đầy đủ cơ hội để thăng tiến dần dần. Trong thực tế, việc chấp hành những biện pháp trong dự luật ở Hạ Viện rất khó thực hiện, nếu không muốn nói là không thể làm được, như một thứ “mission impossible.” Làm sao có đủ nhà tù và nhân viên để bắt giữ toàn bộ hơn 11 triệu di dân lậu và tiến hành các thủ tục để trục xuất họ về cố quốc? Hơn nữa, tất cả những bạn bè, thân nhân hay nhân viên tại các trường học, văn phòng hay trung tâm y tế hay bệnh viện đang chăm sóc hay giúp đỡ các di dân lậu này cũng sẽ bị buộc tội luôn, và như thế thì con số này sẽ lên đến hàng chục triệu khác vì gần như sẽ bao gồm toàn thể mọi người trong nhiều giai tầng ở xã hội. Chẳng thế mà sự chống đối dự luật này đã lên rất mạnh, và chính Tổng Giám Mục Roger Mahony tại Los Angeles cũng đã lên tiếng chính thức nói rằng Giáo Hội Công Giáo sẽ chống đối và không tuân thủ dự luật này cho dù có được thông qua hay không. 

Tại Thượng Viện, hiện đang tranh cãi về đề tài này trong vòng hai tuần lễ nay, khuynh hướng ôn hoà hơn so với tinh thần của dự luật đã thông qua ở Hạ Viện dường như có phần nắm đa số, xuyên qua quyết định mới đây trong Uỷ Ban Tư Pháp ở viện này với biểu quyết 12-6 chấp thuận một giải pháp đồng bảo trợ bởi hai nghị sĩ Ted Kennedy (Dân Chủ) và John McCain (Cộng Hoà). Dự luật này cũng đòi hỏi tăng thêm nhân sự của Tổng Nha Biên Phòng (Border Patrol) để chặn bắt những người trốn lậu qua biên giới nhưng lại tỏ ra tương đối thân thiện hơn với khối di dân lậu với một quan niệm gần như chấp nhận sự hiện hữu của khối người đông đảo này và không coi đó là một tội phạm về hình luật, mà cho phép họ được đóng tiền phạt, và tuỳ theo thời gian cư ngụ lâu năm ở Mỹ (sáu năm trở lên) với công ăn việc làm đàng hoàng và không có tiền án, có thể bắt đầu nộp đơn xin hợp thức hoá để trở thành cư trú nhân thường trực (tức là có thẻ xanh), để rồi từ đó có thể trở thành công dân Hoa Kỳ trong tương lai gần. Dự luật này cũng tạo ra một chương trình đón nhận một số “nhân công khách” (guest workers), tức là những người được cho nhập cư trong một thời gian ngắn hạn chỉ để làm một số công việc và sau đó trở về lại cố quốc. Thời gian nhập cư tạm này có thể kéo dài hơn (từ tám tháng lên thành ba năm), và sau đó có thể gia hạn thêm ba năm để rồi sau đó khi trở về cố quốc, những người này có thể nộp đơn để xin định cư chính thức sau khi đã qua được một số thử thách đòi hỏi khác. Mục đích của chương trình “công nhân khách” này là để khuyến khích cho giới lao động tại Mễ tham gia một cách đông đảo và hợp pháp có lợi cho chính quyền hai bên vừa dễ kiểm soát vừa đỡ tốn kém, và với chiếu khán định cư tương đối dài (có thể kéo đến sáu năm) có thể sẽ khiến cho một số đông dân lao động không thấy cần thiết phải tìm cách chui lọt qua biên giới một cách bất hợp pháp và nguy hiểm. 

Quyết định đa số (với bốn trong số mười nghị sĩ Cộng Hoà xé rào để ủng hộ khối nghị sĩ Dân Chủ) cho dự luật này chưa chắc sẽ được sự ủng hộ của đa số khi đem ra biểu quyết của toàn thể Thượng Viện vì những nhu cầu và mưu toan chính trị của nhiều lãnh tụ tại đây với những tham vọng to lớn khác như sẽ tranh cử tổng thống vào năm 2008. Người thứ nhất là nghị sĩ Bill Frist, chủ tịch Thượng Viện, ôm mộng ra tranh cử TT và đang nhắm tới khối cử tri bảo thủ cực hữu vốn thường rất tích cực trong các kỳ bầu cử sơ bộ. Những người khác cũng có ôm mộng lớn vào cái ghế tổng thống từ phía Cộng Hoà, ngoài ông John Mc Cain, còn có các ông Chuck Hagel, George Allen, và về phía Dân Chủ có bà Hillary Clinton; tất cả đều cùng quan tâm đến đề tài này để mong tạo thêm hậu thuẫn cho mình, và cũng tuỳ theo nhu cầu chiến thuật của từng giai đoạn. Thật vậy, trong sinh hoạt bầu cử tại Hoa Kỳ, trước khi được đại diện chính thức cho hai đảng lớn để ra tranh giành vào cuộc bầu cử vào tháng 11, các ứng viên này phải tranh loại lẫn nhau trong các vòng bầu cử sơ bộ, vốn thường chỉ có các đảng viên và cử tri trung kiên nhất hăng hái tham dự và bỏ phiếu. Do đó trong nhiều trường hợp, có nhiều ứng viên quá khích về một khuynh hướng lại thường được sự ủng hộ khá đông đảo của thành phần cử tri, như trường hợp của ông Howard Dean với lập trường phản chiến cực đoan được sự ủng hộ mạnh mẽ trong các vòng bầu cử sơ bộ năm 2004 bên đảng Dân Chủ. Trường hợp này có thể xảy đến cho ông Bill Frist lần này, vì với tên tuổi và uy tín vẫn chưa có gì sáng giá, ông cần phải tìm một hậu thuẫn mạnh mẽ từ khối cử tri bảo thủ cực hữu để mong tạo được thế đứng vững mạnh cho mình trong các vòng bầu cử sơ bộ vào đầu năm 2008. Đối với thành phần cử tri bảo thủ này, đề tài an ninh sẽ là chủ đề ăn khách nhất, và do đó lập trường của ông Frist nhiều phần sẽ nghiêng về lập trường cứng rắn theo tinh thần của dự luật ở Hạ Viện. Tuy nhiên, nếu có lập trường quá cứng rắn thì đến vòng bầu cử chung cuộc toàn quốc vào tháng 11, những ứng viên này sẽ mất sự ủng hộ của số lớn thành phần cử tri trung dung hay ôn hoà và do đó khó có hy vọng giành được thắng lợi sau cùng. Đó là trường hợp và cũng là chiến lược của hai vị nghị sĩ nặng ký và nhiều triển vọng hiện nay ở cả hai bên là ông Mc Cain và bà Clinton, cho dù có hơi khác trong đề tài tranh đấu. Đối với ông Mc Cain của đảng Cộng Hoà, hình ảnh ôn hoà của ông có thể được sự ủng hộ của đa số cử tri trung dung hay độc lập là một lợi thế trong cuộc bầu cử chính nhưng ông lại bị khối cử tri cực hữu nghi ngờ nên ít ủng hộ, và do đó ông chỉ cần lọt qua được vòng sơ bộ tức là tạo được sự hậu thuẫn (hay đúng ra là bớt sự chống đối) của khối cử tri cực kỳ bảo thủ bỏ phiếu trong những giai đoạn đầu. Ngược lại, bà Clinton chắc chắn sẽ là lá bài sáng giá nhất với sự ủng hộ mạnh mẽ của khối đông cử tri khuynh tả bên đảng Dân Chủ trong vòng bầu cử sơ bộ. Tuy nhiên, hình ảnh cấp tiến (progressive) hay phóng túng (liberal) mà phe hữu muốn chụp mũ lên bà có thể sẽ ảnh hưởng đến một số đông cử tri bảo thủ trong kỳ bầu cử chung kết. Do đó nếu muốn có khả năng thắng cử, bà phải tạo ra một hình ảnh bớt cấp tiến hơn để có thể lôi kéo được (hay ít ra là bớt sự chống đối mạnh mẽ) của khối cử tri bảo thủ này, và vì thế đã có những quyết định để chứng tỏ sự thay đổi dần dần sang chiều hướng bảo thủ trong một số đề tài an ninh quốc phòng (mạnh mẽ ủng hộ cuộc chiến Iraq) và xã hội (dám lên tiếng chỉ trích một số hành động và quyết định phá thai). Hiện nay các nghị sĩ đang tìm cách điều đình để mong đạt được một dự luật thoả hiệp, cho dù chưa chắc sẽ được thoả hiệp với những đòi hỏi gắt gao hơn của dự luật ở Hạ Viện, nhưng vẫn còn gặp nhiều trở ngại vì không bên nào muốn tỏ ra nhượng bộ vì sợ mất tiếng hay mang hình ảnh thua cuộc trong bối cảnh cuộc bầu cử toàn quốc sắp xảy ra trong thời gian tới. 

Trong thực tế, chính sách của dự luật ở Thượng Viện, và nhiều phần là ở bất cứ dự luật nào sau này sẽ được thoả hiệp và thông qua bởi cả hai viện, sẽ gần như phải chấp nhận giải pháp ân xá cho khối lượng lớn di dân lậu (những thành phần đã định cư lâu năm và có công ăn việc làm hợp pháp và tốt) cho dù không muốn dùng đến từ ngữ “ân xá” (amnesty) vì tạo ra hình ảnh nhượng bộ hay bất lực. Thật vậy, đạo luật cải tổ quan trọng về di dân lậu có chính sách ân xá đã được ban hành dưới thời TT Reagan vào năm 1986, cho phép những người đã ở Mỹ lâu năm được nộp đơn để điều chỉnh tình trạng định cư hợp pháp và có thể tiến sang giai đoạn được thẻ xanh và nhập tịch Mỹ sau này. Tác giả bài viết này cũng là một người được hưởng ân huệ này, tuy không băng qua sa mạc ở biên giới để vào Mỹ mà là một người đến từ Âu Châu qua chiếu khán du lịch rồi sau đó quyết định ở lại luôn, tức là cũng rơi vào tình trạng định cư bất hợp pháp. Đạo luật này cũng quy định trừng phạt gắt gao giới chủ nhân ông nếu như thuê mướn nhân công thuộc thành phần di dân lậu. Tuy nhiên, thực tế sau đó cho thấy rằng đạo luật này đã tỏ ra không hiệu nghiệm. Vào thời điểm đó, con số người di dân lậu ở Hoa Kỳ được ước lượng vào khoảng hơn ba triệu. Nhưng con số đã tăng vọt dữ dội trong vòng hai thập niên qua để giờ đây đã lên đến con số hơn 11 triệu người. 

Và người đứng giữa hiện nay là Tổng Thống Bush, đứng giữa hai lằn đạn không thể nào xoay hẳn theo một chiều nào và chắc chắn sẽ không làm hài lòng cho bất cứ bên nào, với cái giá phải trả cho bất cứ sự chọn lựa nào. Đứng về phía lập trường cố hữu của đảng Cộng Hoà, ông Bush bắt buộc phải ủng hộ giải pháp cứng rắn để tiếp tục lưu giữ hình ảnh bảo vệ nền an ninh đất nước. Tuy nhiên, ông cũng biết về thực tế hiện hữu với con số hơn 11 triệu di dân lậu (với hàng chục triệu di dân Hispanic khác ít nhiều cũng có liên hệ với khối di dân lậu này), những biện pháp cứng rắn để trừng phạt chắc chắn sẽ làm phật lòng khối cử tri gốc Mễ và sẽ càng tiếp tục đẩy họ vào hàng ngũ của đảng Dân Chủ (vốn đã chiếm đa số cử tri bình dân trong khối này). Do đó ông cũng mong muốn đẩy mạnh một chính sách mở rộng để đón tiếp khối lao động này qua chính sách “nhân công khách” để vừa giảm bớt gánh nặng giải quyết di dân lậu vừa đáp ứng nhu cầu thương mại và kinh tế của nhiều ngành nghề trong nước. Hơn thế nữa, tuy là nghiêng đa số về phe Dân Chủ, một số cử tri thuộc khối Hispanic cũng dần dần bắt đầu có thiện cảm với một vài quan điểm bảo thủ của đảng Cộng Hoà, nhất là trong địa hạt bảo vệ hay cổ xuý cho các giá trị gia đình. Khác hẳn với khối cử tri da đen, vốn trung kiên gần như tuyệt đại đa số với đảng Dân Chủ, khối cử tri gốc Mễ tương đối có thể làm đối tượng để tranh thủ nhân tâm hầu nghiêng dần về phía đảng Cộng Hoà, có thể trong tương lai gần, hoặc ít ra là không còn nghiêng đa số lớn về phe Dân Chủ. Đó cũng là chiến lược của cố vấn chính trị tối cao của ông là Karl Rove đã nhắm tới từ lâu, sau khi đã củng cố và kiện toàn được hàng ngũ cử tri da trắng và bảo thủ kiên trì với lập trường của đảng. Ông Rove và các chiến lược gia bên đảng Cộng Hoà từ lâu đã tìm nhiều cách để khai thác những vụ xé rào từ một số thành viên gốc thiểu số (như Mỹ đen, gốc Mễ hay gốc Á) để mong tạo ra hình ảnh đa nguyên trong đảng Cộng Hoà hầu phá tan hình ảnh một đảng bảo thủ của dân nhà giầu và da trắng. Tuy nhiên những cố gắng len lỏi vào cộng đồng thiểu số của đảng Cộng Hoà trong những năm qua vẫn chưa đạt được thành quả bền vững nào, chưa kể là có thể đã hoàn toàn tiêu tan sau vụ thất bại thê thảm dịp bão Katrina ở New Orleans trong năm 2005 với sự làm ăn tắc trách và thiếu trách nhiệm của chính quyền Bush trước nỗi thống khổ của dân nghèo gốc thiểu số. Do đó ông Rove và đảng Cộng Hoà đã nhắm tới khối cử tri Hispanic (trong thực tế đã đông dân hơn khối Mỹ đen tuy vẫn còn yếu kém hơn về thực lực chính trị). 

Lần này, nếu như những biện pháp cứng rắn của phe bảo thủ (điển hình bằng những quyết định theo dự luật ở Hạ Viện) được thông qua, chắc chắn sẽ tạo nên một phản ứng chống đối khá dữ dội, tuy rằng có thể đem lại nhiều phiếu hơn cho khối cử tri bảo thủ tại những đơn vị da trắng nhà giầu, nhưng sẽ ảnh hưởng tai hại nhiều hơn trên toàn quốc với số lượng đông đảo cử tri gốc Hispanic hiện nay sinh sống tại nhiều nơi khác nhau chứ không chỉ đơn thuần ở những tiểu bang miền nam sát ranh giới với Mễ Tây Cơ. 

Trong trường kỳ, cả hai đảng đều không muốn làm phật lòng khối cử tri này vốn càng ngày càng gia tăng số lượng và không chóng thì chầy cũng sẽ bắt đầu biểu dương sức mạnh chính trị của mình, điển hình như trường hợp của bà Loretta Sanchez đánh bại một cột trụ bảo thủ của đảng Cộng Hoà là Bob Dornan ngay giữa thành trì của đảng này là Orange County ở California, và mới đây nhất là sự đắc cử của ông Villaraigosa vào chức vụ thị trưởng Los Angeles, thành phố lớn đông dân thứ hai trên nước Mỹ. Tuy vậy, hiện nay khối cử tri này chỉ chiếm một phần nhỏ khoảng 14% cử tri toàn quốc, nhưng chắc chắn có chiều hướng đi lên nữa. Với hai khuynh hướng trái ngược, bảo thủ trong các đề tài xã hội như ủng hộ gia đình và luân lý nhưng cấp tiến và tự do hơn trong các đề tài kinh tế như mong được hưởng trợ cấp hoặc nâng đỡ giảm thuế (thay vì chỉ giành nhiều cho giới nhà giầu), khối cử tri này chắc chắn sẽ tiếp tục lôi kéo sự ủng hộ của cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà không muốn có một sơ hở nào để có thể gánh lấy thất bại, như trường hợp của đảng Cộng Hoà tại California đã gặp sau năm 1994 khi đề luật 187 đã được thông qua giới hạn việc cung cấp y tế và giáo dục cho con em các thành phần di dân lậu. Tuy rằng đã được 57% cử tri trong toàn tiểu bang bỏ phiếu thông qua, nhưng sau đó bị xét là vi hiến bởi ngành tư pháp nên không có hiệu lực, nhưng việc Thống đốc Pete Wilson của đảng Cộng Hoà lúc bấy giờ lên tiếng ủng hộ đề luật này, phản ứng giận dữ trả đũa của khối cử tri Hispanic đã đem lại thất bại cho đảng Cộng Hoà tại tiểu bang đông dân nhất trong suốt cả thập niên sau đó. 

Houston, Texas 04-2006

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét