Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2019

Ngô Nguyên Dũng: Tuyết trong những giấc mộng tôi vô sắc



Đầu tháng mười một tôi dọn tới trọ chung nhà Chính. Mùa đông năm ấy tới sớm. Nơi thung lũng Winterhof, ngoại ô thị trấn Hemer, tuyết bắt đầu rơi từ vài hôm trước. Lần đầu tiên trong đời, tôi tận mắt chiêm ngưỡng và cảm nhận được tuyết. Vẻ đẹp băng giá, kiêu kỳ của tuyết đầu mùa đắp chiếc mặt nạ kiêu kỳ, quyến rũ lên quang cảnh núi đồi, gợi trong tôi một nỗi rạo rực kỳ lạ, như thể dục cảm. Đã bao nhiêu lần trước đó, ở quê nhà, tôi hằng mơ tưởng tới một ngày, thực sự được thấy, được sờ nắm những nụ tuyết phất phới? 

Chính sang đây trước tôi nửa năm, tương đối rành rẽ đường đi nước bước nơi đất lạ. Anh hướng dẫn và ân cần giúp đỡ tôi trong thời gian đầu bỡ ngỡ. Sau hai khoá học tiếng bản xứ, tôi tìm được một chỗ thực tập cho chương trình đại học, cùng lúc tôi phải tìm một chỗ trọ khác. Tôi hỏi Chính, và anh đồng ý cho tôi tới chia nhà, sau khi xin phép bà chủ. Chính không ngớt ca tụng, bà Geck là một bà cụ vô cùng tốt bụng. 

Nhà trọ hai gian, có cửa kéo ngăn đôi, trang bị đầy đủ. Một góc nhà, cạnh cửa sổ, là chỗ nấu nướng. Phòng vệ sinh nằm ngoài hành lang. Nhà mướn không có chỗ tắm. Mỗi tuần hai lần, chúng tôi tới nhà tắm thành phố công cộng tắm gội. Lần đầu thấy lò sưởi than đốt xây gạch tráng men kiểu cổ, tôi rất mực thích thú. Dần dà tôi nghiệm ra, cách sưởi ấm này không thực tiễn như tôi tưởng, nhất là mỗi khi chúng tôi vắng nhà dăm ba hôm, hoặc mua than đốt không kịp lúc.

Ngay trong tối đầu tiên sau khi dọn tới, Chính dẫn tôi sang giới thiệu với bà chủ nhà. Bà cụ đâu khoảng bảy mươi, goá bụa, sống chung với người con gái cùng hoàn cảnh. Tóc bà vấn khéo, mặc bộ áo, váy màu vải sợi tự nhiên, tuy đã lỗi thời nhưng rất trang nhã. Trong lúc chuyện vãn bà chăm chú nhìn chúng tôi, màu mắt trong xanh, khoé cười thường trực điểm trên môi, hé lộ hàm răng trắng sáng, có lẽ giả. Giọng bà lun run, chẩm rãi, và thường kết thúc bằng phương ngữ "vậy đó" theo thói quen. Tôi nhớ lúc đó, phần vì bản tính rụt rè phần vì chưa thông thạo ngôn ngữ bản xứ, ít khi tôi dự phần vào câu chuyện, lâu lâu lén mắt ngắm cách bày trí phòng khách. Ghế bàn, sa-lông, đèn chụp kiểu cổ. Nhưng, đập vào mắt tôi là nhiều bức tranh hoa sơn dầu rực rỡ, đóng khung cầu kỳ treo trên tường, ký tên L. Geck. 

"Bà có nhiều bức tranh đẹp và quý giá quá!" tôi khẽ buông tiếng, cố gắng phát âm ngôn ngữ lạ.

Bà Geck nhoẻn cười bối rối, gương mặt ửng hồng:

"Chỉ có cái khung là đáng giá, không phải tấm tranh! Vậy đó!" 

Sang tháng giêng, tiết đông mới thật sự khắc nghiệt. Cơn cảm lạnh ghì siết lấy tôi, trói tôi liệt giường nhiều ngày liên tiếp. Chiếc ghế nệm kéo ra làm giường là chỗ tôi ngủ, kê cạnh lò sưởi. Một sáng nọ, sau khi Chính tới hãng thực tập, tôi vẫn còn mệt lả trong giường, tấm chăn dầy đắp tới cổ, trong căn phòng nhá nhem, dần dà mất hơi ấm. Khoảnh khắc ấy, những giấc chiêm bao kỳ lạ xô tới. Có lúc vẳng lại tiếng ve mùa nắng ra rả buồn chán trong công viên nhiệt đới thời thơ ấu, khi tôi soi mắt ngắm điệu múa bầy nòng nọc trong ao nước bẩn thỉu. Lúc khác là cảm giác những đợt sóng đại dương mơn trớn da thịt tôi mềm mại trong một chủ nhật du ngoạn. Có điều lạ, trong mỗi khắc giây mộng mị ấy, tôi có thể bắt được hương sầu riêng ngọt nồng và nếm được mùi vị những trang sách cấm kỵ tuổi dậy thì ở quê nhà. Cảm xúc ấy càng sắc nét tại một xứ lạ, trong nỗi quạnh quẽ trần trụi một sáng đông lạnh. Cái lạnh vụn vỡ, lan rộng se sắt, làm cổ họng tôi khô khốc. Dội âm gần gũi, thân quen những giấc mộng trong thính giác tôi lẫn với tiếng lách cách, như thể ai đó đang chậm chạp tra chìa khoá vào ổ. Qua rãnh mắt hé trong cơn mê ám chập chờn, tôi dõi thấy dáng người trong bộ áo màu sáng loay hoay dè dặt cạnh lò sưởi. Bà Geck. Bà đang châm lửa sưởi, gắng nương tay để không đánh thức tôi. Tôi giả vờ nhắm mắt như thể say ngủ, và chỉ có thể hình dung động tác của bà qua chuỗi tiếng động. Tôi bắt được tiếng giấy và gỗ mồi lửa sột soạt đặt vào lò, rồi tiếng diêm xoẹt, nối theo là tiếng lửa bùng lên thiêu huỷ, bốc thoảng mùi nhựa cây khen khét. Hơi ấm cổ tích tràn dâng hồi ức tôi về một ấu thời vô tư, hạnh phúc, hoàn toàn không khớp nhịp cùng thảm hoạ cùng cực của cuộc chiến đang xảy ra trên quê hương tôi. Lát sau vang lên âm thanh loạt soạt lúc than hòn được xúc vào lò. Khoảnh khắc ấy, không hiểu sao, bắt tôi liên tưởng những cột khói từ đám cháy một xóm lao động cuộn lên trong lần tổng công kích đầu năm mới vài năm trước. Từ từ tôi cảm nhận hơi nóng. Mồ hôi trộn lẫn những thương tích tươi máu đẫm ướt và xé rách bóng tối thành muôn mảnh nhoè nhoẹt trong vòm mắt tôi nhắm kín. Tiếng chân khe khẽ xa dần. Chỉ còn lại tiếng lò sưởi than van cay nghiệt. Tôi bừng mắt, ánh lửa in bóng bàn ghế nhấp nháy trên mặt vách đối diện. Tôi rời giường. Lúc kéo màn sáo, tôi thảng thốt chiêm ngưỡng nắng đầu ngày trải thảm rực rỡ lên mảnh vườn phủ tuyết tươi rói. 

Trong bữa điểm tâm tôi tìm thấy mảnh giấy dằn dưới gạt tàn thuốc lá được lau chùi sạch sẽ.

"Chào ông Nguyễn,

tôi đã mạn phép vào nhà ông, để nhóm lửa sưởi ấm, vì sáng nay tôi không thấy ống khói lò sưởi tuôn khói. Tôi không biết, ông ở nhà hôm nay.

Xin ông thứ lỗi cho hành vi đường đột này.

Tôi cầm theo mớ quần áo dơ, đem về giặt.

Chủ nhà trọ,

L. Geck"

Chữ viết của bà Geck theo lối gô-tíc tuyệt đẹp. Tôi đọc lại lần nữa mấy dòng ghi lại và xúc động tới độ tôi đã biên thư thuật lại cho nhà biết. Ba má tôi mừng rỡ, khi biết tôi may mắn gặp được bà chủ nhà tốt bụng. Kể từ hôm ấy, những khi chúng tôi vắng nhà, bà Geck tự động qua phòng trọ chúng tôi, gom góp quần áo dơ đem về nhà giặt ủi, sau đó gấp lại phẳng phiu, rồi trả lại, không yêu cầu trả công. Bà còn ân cần vá giùm chúng tôi những chiếc vớ thủng, quần áo lót sút chỉ. Mỗi lần như vậy, Chính là người nói sõi tiếng Đức lại đích thân sang nhà bà, ngỏ lời cám ơn.

Mối liên hệ giữa bà Geck và chúng tôi, sau đó, càng thêm gắn bó. Bà, người con gái và một bà hàng xóm đa sự nhưng cởi mở đã có lần được chúng tôi mời sang nhà ăn tối. Tôi nấu món miến gà, Chính làm chả trứng thịt bằm ăn với cơm, được mấy bà khách khen "đẹp miệng". Trong dịp bà Geck mời trả lễ, tôi hiểu được loáng thoáng bà kể chuyện chồng và người con trai đã tử trận trong thế chiến thứ hai.

"Một khoảng thời gian bạo lực khủng khiếp, giống như cuộc chiến hiện giờ tại xứ sở anh, vậy đó", bà Geck lắc đầu nói.

Chúng tôi hiếm khi đá động tới chuyện chiến tranh. Bà Geck cũng không hỏi. Tôi không rõ, vì bà tế nhị, không muốn làm chúng tôi buồn lòng, hay vì bà cũng không thích hồi tưởng những thảm cảnh nghiệt ngã mà chính bà đã trải qua? 

Căn nhà trọ hai gian của bà Geck có khi chứa chấp một lũ bốn, năm gã thanh niên tha hương lạc loài, chưa đủ điều kiện tóm vén một cuộc sống tự lập. Những cuối tuần thức khuya và dậy muộn. Chúng tôi hút thuốc lá, nhả khói mờ mịt phòng, vặn nhạc thời thượng Anh Mỹ ồn ào, vất quần áo dơ bừa bãi nệm ghế, chén dĩa ăn xong chất ngập bồn, cho tới lúc không còn cái nào sạch, mới chịu rửa. 

Sau khi kết thúc chương trình thực tập, vào một cuối hè tôi dọn sang thành phố khác để bắt đầu lục cá nguyệt mùa đông. Suốt khoảng thời gian này bà Geck và tôi vẫn thường xuyên liên lạc thư tín với nhau. Bà bắt đầu gọi tôi là "con", ngược lại tôi gọi bà bằng "má". Tôi viết thư báo tin cho cha mẹ ở Sài gòn, bắt đầu từ đây tôi có tới hai người mẹ, một ruột và một nuôi, và luôn luôn nhắc tới bà Geck bằng danh hiệu "má Đức". Rất nhiều khi tôi cảm nhận mình là người diễm phúc nhất thế gian. Điều làm tôi đặc biệt thích thú, không phải là tờ giấy hai mươi Đức mã kèm theo trong mỗi phong thư, mà là những chuyện kể của bà, hay chính xác hơn, là những giấc mộng. Đã có lần bà tỏ bày cùng tôi, bà có khả năng mơ thấy những người thân quen, kể cả tôi, và hậu vận của họ cũng như của tôi. Bà bắt tôi thỉnh thoảng nghĩ ngợi, không hiểu những giấc mộng của bà có thể báo trước chuyện gì, nhưng ngại ngần, không dám hỏi. 

Trong khoảng thời gian trọ học ở Krefeld, tôi vướng phải hội chứng suy tâm lý, vì vậy tôi sợ biết trước những điềm báo mộng sẽ có ngày linh ứng. Tôi gặp nhiều khó khăn trong chuyện học vấn và bạn hữu. Tôi thường xuyên thiếu hụt tài chính. Tôi bỏ giờ giảng vì ngủ quên. Điều làm tôi bực dọc nhất là những cơn mộng rối rắm, nhưng vô cùng sống thực trong giấc ngủ nán, sau khi chuông đồng hồ réo thức. Những giấc mộng mọc ra vô số bàn tay sống sượng cào sướt hồi ức tôi. Tôi thấy lại một tối mùa đông ở Winterhof, sau khi tuyết ngừng rơi, chúng tôi chạy ra sân chơi ném tuyết, tở mở nặn hình người tuyết, lấy hai hòn than làm mắt, cắm thanh củi làm mũi. Bà Geck, bà Wagner nghe động, mở cửa sổ trông xuống, cất tiếng chào hỏi. Mấy đứa con nhỏ của bà Wagner cũng chạy ra nô đùa cùng chúng tôi. Tôi thấy lại một cuối tuần băng giá, ao nước cạn bên kia nhà bà Geck đóng đá. Trẻ con hàng xóm tụ tập trượt băng, cười đùa tíu tít. Chính cũng xỏ giày trượt băng, chạy ra nhập bọn, thỉnh thoảng lại té bổ ngửa, đám con nít được dịp cười rộ lên. Có ông phóng viên nhật báo địa phương tình cờ đi ngang, dừng lại chụp ảnh. Ngày hôm sau, ảnh Chính và đám trẻ con trượt băng được in trang trong với hàng tít nhỏ: "Một ngày băng lạnh đẹp trời ở Winterhof". Tôi nghe lại rập rềnh những giai điệu hợp thính Chính, lặp đi lặp lại, "Don’t Let Me Be Misunderstood" với The Animals hay "No Milk Today" với Herman’s Hermits. Tôi xúc động tưởng lại giọng hát của Karen Carpenter thì thầm chuyện thanh xuân: "We’ve only just begun to live. White lace and promises… Before the rising sun we fly. So many roads to choose…"(*)

Để khỏi quên, sau khi thức giấc, tôi lập tức ghi lại bằng tiếng mẹ đẻ những chuyện mộng mị trong quyển nhật ký mộng. Thuở ấy có một điều tôi chưa rõ, những giấc mộng của tôi nhuốm màu sắc hay vỏn vẹn đen trắng. 

Cho tới ngày nọ, tôi tìm ra câu trả lời trong một đoạn thư của bà Geck.

"Hẳn con còn nhớ bà Wagner, người hàng xóm của má. Có lần má nằm mơ, gặp bà ngoài hành lang. Bà trao cho má phong thư vừa được người phát thư đưa cho. Má lập tức nhận ra tuồng chữ quen thuộc của con. Bà Wagner hỏi má, giọng bà nghe sao lạ lùng, như thể của ai khác, con có khoẻ không? Má ngẩng nhìn. Một dòng lệ đỏ lăn dài trên gò má bà, nhỏ xuống, hoen máu lốm đốm lên bì thư. Khủng khiếp quá! Sau đó không lâu má hay tin, bà Wagner bị mổ mắt vì chứng cườm nước, dẫu vậy vẫn không khỏi, giờ đây bà chỉ có thể nhìn thấy cảnh vật lờ mờ như bị sương mù bao phủ."

Kể từ đó tôi biết, người ta có thể mơ thấy màu sắc, và những giấc mộng của bà Geck sẽ có lúc trở thành sự thật. Má Đức của tôi kể chuyện mộng không bàn luận, khơi khơi như để vơi bớt những ứ đọng thực tại và gánh nặng quá khứ. Tôi thầm hỏi, không biết bà Geck có ý thức ra nghĩa lý những giấc mơ. Có lẽ không, vì hiếm khi bà nhắc lại mộng sự lần thứ hai. 

Sau đó, vì một lý do nào đó không rõ, tôi lướt mắt tránh đọc những đoạn thư bà Geck thuật lại những giấc mộng siêu hình.

Mùa thu năm ấy, vài hôm trước sinh nhật, tôi được bà gởi biếu một bức tranh sơn dầu đóng khung cầu kỳ như tôi hằng mong ước. Bà chỉ vẽ tranh hoa. Lần này là dăm ba cành hướng dương tươi sắc cắm trong lọ màu xanh nước biển. Qua nét cọ mềm mại, như thể ve vuốt, tôi nhận ra bản sắc đậm đà mẫn cảm của bà. Bà Geck, cùng những giấc mộng nối tiếp và cõi hội hoạ của bà, đã có lúc trở thành đối ảnh của tôi, là động lực đẩy tôi tiến tới trong một xã hội thừa mứa vật chất, dè xẻn giao tiếp và cung cấp cho tôi thực phẩm tinh thần cần thiết. Tôi là kẻ lạ không đúng thời, sai chỗ, tại một nơi có không khí khác mùi, thức ăn khác vị, con người khác diện mạo, tiếng nói khác ngôn ngữ và mùa màng khác cảm xúc. Theo thời gian và thường nhật trong một thành phố lớn, cảnh tuyết tuyệt vời trong mùa đông đầu tiên ở thung lũng Winterhof hoá thành một khối thực tế lầy lội, nhem nhuốc và phiền nhiễu. Hơn thế nữa, tuyết còn lấn sâu không mời mọc, trơ trẽn xuống đáy tiềm thức mộng mị tôi. 

*

"Tôi dạo bước cô quạnh trong cánh rừng ngập tuyết và khuân theo một bức tranh lớn, nặng nề vẽ cảnh ba chiều một xứ nhiệt đới với những hàng dừa, nhà tranh, đồng lúa và bầy trâu. Tôi còn nghe cả tiếng sáo diều trong trẻo từ thinh không vọng xuống. Một nỗi xao động dâng trong lòng tôi. Phải, tôi đang trên đường đi tới chỗ hẹn. Với ai, là một bí ẩn lớn, ai đó đã tiết lộ như vậy. Lẽ đó tôi tiếp tục dấn bước, mà không nhận ra nhịp tim tôi đang trở chậm, chậm hơn, cho tới khi tôi dừng chân tại bìa rừng, tia mắt đầy kinh ngạc. Từ khu rừng tuyết trắng, tôi nhìn sang cánh đồng mùa xuân bên kia lạch nước ốm. Nơi đó đang có người đứng đợi, bà Geck trong bộ áo, váy quen thuộc mặc trong nhà, khoé cười dịu dàng, thân thiết nở trên môi và tay cầm một bó hướng dương. Tôi muốn chạy tới cạnh bà, nhưng không thể, vì hai chân tôi bỗng dưng tê cóng. Tôi lê cặp chân đóng băng tiến lại, hai cánh tay mỏi nhừ kịp thời nhấc cao hoạ phẩm vẽ cảnh quê nhà cho bà Geck xem, tựa như động tác kêu cứu của một nạn nhân đắm tàu. Bằng một cử chỉ nhanh nhẹn và thuần thục, bà Geck ném cho tôi những cành hướng dương, được tôi giơ khung tranh hứng lấy. Khoảnh khắc ấy tôi cảm nhận có nguồn sinh lực từ những ngón tay bà truyền sang, toả ấm và sáng rực những trụ điểm tâm linh toàn thân tôi. Rồi bà vẫy tay chào tôi, xoay lưng và tan biến lặng lẽ như làn gió ấm thổi sạch bóng ảnh mờ hơi nước trong gương."

Qua đoạn ghi chép mộng sự gặp gỡ bà Geck ở trên, tôi không ngần ngại xác tín, tôi cũng có thể mơ thấy màu sắc. Tôi tin tưởng rằng, chính bà đã tiêm nhiễm vào tiềm thức tôi khả năng thần giao cách cảm và siêu nghiệm ấy. 

Lúc treo tranh lên tường, tôi tìm thấy một phong bì kèm theo mẩu giấy dán băng keo ở lưng tranh, vắn tắt vài hàng: "Con yêu quý, bao giờ tới sinh nhật, con hãy mở đọc lá thư này. Má của con."

Và "vậy đó", mùa màng luân phiên tới đi theo chu kỳ thời tiết. Hè năm ấy, bà Geck miễn cưỡng theo người con gái dọn về ngôi nhà nghỉ mùa hè của gia đình tại Partschins ở miền núi Südtirol. Một ngày thứ bảy, trước ngày đi, tôi tới thăm bà. Bà ngỏ ý tặng tôi trọn bộ sưu tập tượng men Meissner quý giá, nhưng tôi từ khước. Tôi không biết phải làm gì với những món đồ trang trí ấy trước một tương lai còn mờ mịt. Chúng quá mỏng manh và dễ vỡ trong một xã hội càng lúc càng vô tâm, càng thô thiển. 

Lúc chia tay, chúng tôi siết lấy nhau. Người mẹ Đức của tôi thơm tho hương hoa khô đồng nội. Hay đó là mùi hoa oải hương, bà dùng ướp quần áo? Trong xe buýt liên tỉnh, tôi quay nhìn. Bà đứng ven đường vắng, tấm lưng mỏng mảnh trong bộ áo, váy lỗi thời, trang nhã mặc trong nhà, cánh tay giơ vẫy chậm, cử chỉ tràn ngập yêu thương, dáng dấp dễ tan vỡ như những pho tượng tráng men cỏn con mà tôi từ chối mang theo. 

Đó cũng là hình ảnh sau cùng của bà sót lại đáy ký ức tôi.

Nhiều năm sau, tôi dọn tới Dortmund và bắt đầu chăm lo chuyện học vấn. Từ từ tôi chấp nhận sự hiện hữu và bản sắc lạnh lùng, thờ ơ và kiêu hãnh của tuyết, để tìm cách thoả hiệp, với hy vọng không còn bị những giấc mơ tuyết quấy rối. Đã lâu rồi, tôi bỏ thói ghi lại nội dung những giấc mộng. Và, kể từ ngày rời đất quê nhà Winterhof, bà Geck cũng không còn viết cho tôi đọc những chuyện bà mơ thấy tại nơi cư ngụ mới. 

Bà không còn nằm mộng tiếp đoạn hay bà đã đánh mất khả năng chiêm nghiệm tại xứ lạ? Tôi không dám hỏi, vì tôi không muốn làm tổn thương những giấc mơ và tính mẫn cảm má Đức của tôi. Nhưng tôi nhận ra một điều, nhờ bà Geck mà tôi thấy ra dương bản đẹp đẽ của bầu không khí, lương thực, con người, ngôn ngữ và mùa màng nơi đây. Mọi thứ bắt đầu nhuốm sắc sặc sỡ như một hộp chì màu trong tâm tưởng tôi. Tôi đã may mắn có được một điểm tựa tinh thần hiếm hoi suốt nhiều năm dài. Tôi được bà Geck lựa chọn trong đám năm, sáu thanh niên sinh động thuở đó. Vì nguyên cớ nào, tôi không rõ. 

*

Cho tới ngày nọ tôi nhận được vài dòng báo tin của người con gái gởi từ Partschins:

"Thưa ông Nguyễn,

tôi xin thông báo cùng ông, mẹ tôi đã qua đời bảy hôm trước. Trước khi giã biệt, bà nhắc tôi nhớ biên thư báo cho ông biết tin này. Suốt thuở sinh tiền bà vẫn thường nhắc tới ông và rất mực thương yêu ông.

Chúc ông mọi điều tốt lành,

A. Buchholz"

Hôm ấy vào cuối đông. Tuyết đã thôi rơi từ vài tuần trước. Tuyết cũ tan chảy. Mùa xuân cùng những vòm cây anh đào sắp sửa đơm hoa rực rỡ, nhưng không thể thay đổi được chuyện, bắt đầu từ đấy những giấc mộng của tôi trở nên vô sắc và chuyên chở một hình thù khó định nghĩa.

Vài năm sau, tôi kết thúc học trình và sửa soạn dọn ra cư xá sinh viên. Lúc gói ghém mớ tư trang ít ỏi, tôi để ý ngắm nhìn bức tranh sơn dầu cồng kềnh của người mẹ Đức tặng tôi thuở trước, bất chợt thấy lại phong bì dán băng keo phía sau, mà tôi quên bẵng, không mở đọc lúc sinh nhật năm nào. Bao nhiêu năm trôi qua, tôi không còn nhớ, chỉ có thể nhẩm tính qua hàng chữ ghi ngày tháng, bằng nét viết thân thiết, kiểu gô-tíc tuyệt đẹp của bà Geck: tháng mười một, năm 1979.

"Con trai yêu quý,

có lẽ đôi khi con tự hỏi, tại sao má cảm thấy gần gũi con? Chính má cũng không thể trả lời rõ ràng và chính xác câu hỏi này. Đã có lần má cũng có một đứa con trai, nhưng nó cũng như chồng của má đã tử trận ở Normandie trong thế chiến thứ hai. Những cái chết vô nghĩa này đã tẩy xoá trọn vẹn màu sắc tuyệt vời trong những giấc mộng của má trước đó, và má chỉ còn mơ thấy vô sắc và những hình thù không diện mạo. Một ngày kia, má ngủ mơ một giấc mộng lạ kỳ. Có giọng nói mềm mỏng báo tin, sẽ có một đứa con trai từ một đất nước xa xôi đến với má. Thông điệp ấy ban tặng má nguồn hy vọng và từ từ trả lại sắc màu những giấc mộng cho má. Má trông ngóng một đứa con trai từ nhiều năm nay. Cho tới hôm con tới. Con yêu quý, chính con là đứa con trai ấy, con là tặng phẩm tuyệt vời nhất mà má nhận được từ trước tới giờ. Má có cảm tưởng, con là hoá thân linh hồn đứa con trai tử trận của má. 

Má mượn ý tưởng này để gởi tới con, bằng tấm lòng thương yêu trọn vẹn, lời chúc mừng sinh nhật với mọi sự tốt đẹp. Ước mong sao tất cả nguyện vọng từ những giấc mơ muôn sắc của con sẽ thành tựu.

Má của con."

Những dòng mực tuyệt mỹ nhoà nhạt trước mắt tôi. Tiếng nấc nghẹn bật ra cổ họng, không ngưng. Tôi buông tờ thư, úp mặt trong lòng tay, khóc như trẻ nhỏ bị bỏ rơi, mãi mãi.

Đức, tháng 4. 2014.

(Phóng dịch từ "Schnee in meinen farblosen Träumen", cùng tác giả; và được viết thêm, rải rác đây đó, vài chi tiết cùng cảm nghĩ không có trong bản Đức ngữ.)

*"We’ve Only Just Begun", The Carpenters.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét