Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2019

Lưu Văn Vịnh: Carl Jung- Thiền Và Tâm Lý Trị Liệu Pháp

Bệnh điên đảo tưởng chấp kiến Tọa vong- ẩn kỷ và ngồi Thiền Khóa Hư Lục và nhà vua hiền triết VN 


Thiền và Tâm Lý Trị Liệu Pháp 


Đức Phật từng nói: như nước biển chỉ có một vị là vị mặn, đạo ta chỉ có một vị là diệt khổ giải thoát. Sinh, Lão, Bệnh, Tử là khổ, khổ thể xác và khổ tinh thần, cái khổ toàn diện thân tâm, khổ khách quan, khổ chủ quan “một mình mình biết, một mình mình hay.” Những nỗi khổ đau có thể trở thành tâm bệnh nên đạo diệt khổ là một phương thuốc trị liệu trên tầm mức rất cao, như Bác sĩ tâm thần Đức Carl Jung (1875- 1961) đã viết : “Tôi đến với thế giới tư tưởng Phật giáo, không phải vì tìm hiểu lịch sử tôn giáo, không phải vì nghiên cứu triết lý, mà chính vì lợi ích cho nghề nghiệp y sĩ... Nhiệm vụ của tôi là chữa bệnh khổ tâm não, vì thế tôi phải làm quen với lối nhìn và phương pháp của bậc vạn thế sư biểu nhân loại... Nếu như vậy, là một bác sĩ, tôi xác nhận những giảng dạy của nhà Phật đã giúp tôi và kích thích tôi hết sức lớn lao, thì cũng chỉ là noi theo con đường đã vạch ra từ hơn hai ngàn năm trong dòng tư tưởng nhân loại.” ( It was neither the history of religion nor the study of philosophy that first drew me to world of Buddhist thought, but my professional interest as a doctor. My task was the treatment of psychic suffering, and it was this that impelled me to become acquainted with the views and methods of that great teacher of humanity... So if, as a doctor, I acknowledge the immense help and stimulation I have received from the Buddhist teachings, I am following a line which can be traced back some two thousand years in the history of human thought.). 

Bác sĩ Carl Jung đã học hỏi và áp dụng Phật pháp ở những điểm nào trong việc chữa trị tâm bệnh ? Ông nhận định : 

- Có những loại tâm bệnh không thể chữa trực tiếp, đòi hỏi cả bệnh nhân lẫn bác sĩ một thái độ nào đó đối với bản chất bất khả trị của bệnh... một thái độ tinh thần của tín ngưỡng hay tin tưởng triết lý. Về mặt này, nghiên cứu kinh sách Phật giáo đã giúp tôi rất nhiều, vì nó luyện cách quan sát nỗi khổ đau một cách khách quan và nhìn nguồn căn khổ bao quát hơn (...there are many deseases and states of suffering which, not being susceptible of a direct cure, demand from both patient and doctor some kind of attitude to their irremediable nature... They call for a kind of moral attitude such as is provided by religious faith or a philosophical belief. In this respect the study of Buddhist literature was of great help to me, since it trains one to observe suffering objectively and to take a universal view of its causes.). 

- Carl Jung nhận từ Phật pháp phương pháp quán chiếu, tỉnh thức gỡ rối khổ đau, một phương pháp dùng tâm thức lý trí theo gương Đức Phật quán chiếu Tứ diệu đế, đưa tâm thức vượt màn vô minh sắc giới vọng tưởng (Buddha was able to extricate his consciousness from the snares of the ten thousand things, and to rescue his feelings from the entanglements of emotion and illusion....the spirit of Buddhism with its remarkedly rational attitude) . Về điểm này Carl Jung bàn rộng thêm : không hiểu nguồn đau thì nỗi đau sẽ tăng thêm, ngược lại nếu ta hiểu tại sao, từ đâu, thì sẽ chịu đựng được hơn. Một nhãn quan tôn giáo hay triết lý về nhân gian sẽ giúp người bệnh ít nhất có được phương pháp tâm lý chữa trị hàn gắn nếu không muốn nói là cứu độ (Suffering that is not understood is hard to bear, while on the other hand it is often astounding to see how much a person can endure when he understands the why and the wherefore... psychic methods of healing if not of salvation). Sau Đệ Nhị Thế Chiến, một Bác sĩ Tâm thần Do Thái, Victor Frankle, khi ngồi tù Đức Quốc Xã, cũng đã nghĩ và dùng Lý Trị Pháp-Logotherapy- làm phương pháp trị liệu dựa trên lý trí logos, giúp bệnh nhân suy xét hơn thiệt, hợp tình hợp lý, bám vào lẽ sống để vượt qua cơn khủng hoảng tinh thần. 

Có lẽ trong môi trường Âu châu Thiên Chúa Giáo, Carl Jung đã phải rào đón: nếu lòng tin Thiên Chúa không chữa được tâm bệnh thì có lấy phương pháp trị liệu từ Phật pháp cũng không có gì là lạ (If a Christians insists so much on his faith when it does not even help him to ward off a neurosis, then his faith is vain, and it is better to accept humbly what he needs no matter where he finds it, if only it helps). Từ cổ xưa, người thày thuốc đã tìm loại thuốc trị bá bệnh- panacea, medicina catholica, bất kỳ loại nào, miễn là hiệu quả, chiều hướng cổ truyền này rất gần với tôn giáo triết lý Đông phương. Jung đặc biệt nhấn mạnh : Đức Phật đã phát huy cực đại tâm thức để diệt khổ đau (deliverance from suffering through the maximum development of consciousness), một bậc Đại Y Sư, Đại Điều Ngự, chỉ nẻo cứu độ nhân thế. 

Là một bác sĩ chuyên trị tâm thần, Jung đã dùng phép thôi miên khởi dẫn người bệnh phát hiện tâm ý một cách tự nhiên thích ứng với bản tính người bệnh, đào sâu vô thức, siêu thức, vô thức cọng thể (collective unconscious), sơ mẫu (archetype)... là những cấu trúc tâm thức của con người toàn diện mà tâm lý học Ấn, Phật đã đào rất sâu, trong khi Thiên Chúa Giáo dường như bỏ quên (all those psychic factors which Christian philosophy left unsatisfied). 

Kinh Phật được dịch sang ngôn ngữ Âu châu đầu tiên ở Anh, Đức, từ thế kỷ XVIII, Will Durant trong tập Câu chuyện Triết lý đã kể thời ấy trí thức Đức say mê đọc sách triết lý đạo học Đông phương đến nỗi Goethe ngồi trên sàn gác đọc sách Triết lý Trung Hoa quên cả dưới đường đang bắn nhau loạn lạc, JJ Rousseau có thể đã lấy Lão Trang vào học thuyết Tự Nhiên lassez faire, Voltaire đã đọc và khâm phục Khổng Mạnh. 

Nhìn chung, ba nguồn văn hóa lớn của nhân loại: Âu châu, Ấn, Trung hoa, thì Âu châu nghiêng về Luận lý khoa học tự nhiên, Ấn nghiêng về Tâm lý và Trung hoa nghiêng về Đức lý xã hội. 

Phật giáo từ môi trường thâm sâu nội tâm, vạn pháp duy tâm tạo, nhìn tâm địa con người như vũ trụ tam thiên đại thiên thế giới tụ rồi tán, thành hoại tiêu trưởng biến dịch vô thường như Dịch lý, vì thế mới có dung thông giữa Phật Nho Đạo, mới có cả một Phật Dịch Kinh Buddhist I Ching soạn ra ở thế kỷ XVII. Ngôn ngữ Ấn- Phật giầu về tâm lý học đến nỗi nếu Anh ngữ có một danh từ tâm lý, Hy Lạp có bốn, thì Sanskrit có tới 40 từ! (xem Triết lý Đối chiếu -Nguyễn Đăng Thục tr 35), từ ngữ Tàng thức của nhà Phật biết đâu chẳng là gốc của tiềm thức, vô thức trong Phân tâm học Freud, Jung ? 

Carl Jung khi bàn về Thiền và Đốn ngộ cho rằng từ ngữ satori- đốn ngộ- không thể dịch là enlightenment-sáng tỏ-, nó xẩy ra tự nhiên (natural occurence), rất giản dị, mà satori là lý do tồn tại của Thiền, không có satori thì Thiền không phải là Thiền nữa (Satori is the raison d’être of Zen without which Zen is not Zen- Suzuki-Introduction to Zen Buddhism p.95). Jung dẫn lời của Nukariya, tác giả sách Tôn giáo của người hiệp sĩ Religion of the Samurai: mọi cố gắng giải thích hay phân tích nội dung Thiền đều vô ích, cần phân biệt Tánh nature of Self với cái tôi Ego, tự tánh là Phật tánh, bao vượt lên cái Tôi (any attempt to explain or to analyse the content of Zen, or of the enlightenment is futile... Nukariya understands by self the All-Buddha i.e., total consciousness of life... the self is a more comprehensive thing which includes the experience of the ego and therefore transcends it... The occurence of satori is interpreted and formulated as a break-through, by a consciousness limited to the ego- form, into the non- ego-like self... a satori experience, a supersession of the ego by the self, which is endued with the Buddha nature or divine universality. Psychlogy and the East trang 146- 147). 

Lối hiểu Thiền của học giả Jung cho thấy trạng thái đốn ngộ của Lục Tổ Huệ Năng, từ dòng Thiền Đạt Ma Sư Tổ, là một kinh nghiệm bừng tỉnh bản thân, một chuyển hóa thân tâm khiến hành giả nhìn vạn sự với cặp mắt mới, không phải là tạo ra cái gì mới lạ mà là nhìn khác đi (It is not that something different is seen, but that one sees differently) , như trước nhìn một cục đá xù xì thấy xấu xí, nay dùng nó để trang trí một góc vườn cạnh bụi trúc, rạch nước... viên đá trở thành một nghệ phẩm đẹp, trước ghét hận một người, nay quán chiếu để hiểu rõ nguồn căn, tìm ra lối vào thông cảm, sự ghét hận sẽ được giải tỏa, giảm thiểu, ta sẽ nhìn người ấy với cặp mắt yêu thương độ lượng hơn... Thiền mở rộng nhãn quan, nâng cao tâm địa, quán chiếu vạn sự trong bối cảnh vũ trụ cao rộng (cosmic), vượt không gian và thời gian mặt đất, đặt vạn sự vào chiều kích mở tung, như khám phá ra khung trời mới, khi nào thấy địa cầu như một hạt cát đang chuyên chở 6 tỷ đầu người, mà 3/4 lại là nước, xoay chuyển quanh mặt trời, thì tức là hành giả đã băng qua được bùn lầy mà vào an lạc, như câu thơ của Angelius Silesius : 

Thân xác tôi như vỏ trứng bọc sẵn gà con 
vĩnh cửu thường hằng ấp ủ, chờ ngày đạp vỏ nở ra 

My body is a shell in which a chick lies closed about; 
Brooded by the spirit of eternity, it waits its hatching out. 

Ngồi thiền, thở ra hít vào... là những phương pháp giúp định tâmquán chiếu, nhưng để đạt đại viên cảnh trí, tâm phải bốc lửa tịnh tiến, trí phải nỗ lực xuyên phá vô minh, thì mới có mồi nổ ra đốn ngộ, nhập vào đại ngã “ becoming whole,” mình là tất cả, tất cả là mình theo lý Hoa Nghiêm. Những công án Thiền, như “tiếng vỗ của một bàn tay,” như “lừa ba cẳng” (lư nhi tam cước), là những phương pháp giúp thiền sinh vật lộn với đề tài, nghiền ngẫm tìm giải đáp, tới lúc thấy không thể dùng lý trí, thấy tri giác bất lực... đầu óc căng thẳng rồi chợt tỉnh thức, bật ra con đường giác ngộ, rũ sạch chấp kiến, quẳng được gánh nặng kết đọng trong tâm trí từ lâu nay, đại nghi dẫn tới đại ngộ, như GS H. Dumoulin viết: Sự nghi hoặc nghiền ngẫm (đại nghi) cộng với việc tìm kiếm lối thoát vô vọng, tạo ra một trạng thái khao khát giải thoát cao độ, kéo dài cả ngày, cả tuần, có khi cả năm, để rồi cuối cùng tình trạng căng thẳng sẽ vỡ ra (This gnawing doub –Great Doubt, combined with a futile search for a way out, creates a state of extreme and intense yearning for deliverance, the state may persist for days, weeks or even years; eventually the tension has to break- Zen Buddhism, p. 253), hay rõ hơn: Thiền là ngồi và thở, công án (koan) và pháp thoại đòi hỏi trí huệ đặc biệt, đi từ Nghi tới Tìm nhằm thức tỉnh chứng đắc (The basic practices of Zen, sitting and breathing, are common Asian features. The koàn is something special, a product of the profound wit and unpredictable reactions of original Zen masters. The motive of doubt and searching is central to all Zen koàns and anecdotes. Wrestling with koàn brings long periods of frustration and states of anguish until one achieves an experiential breakthrough- Understanding Buddhism p. 114), đó là cách vượt lên lề lối suy tư nhị biên chia tách của Descartes, Newton (the overcoming of Cartesian and Newtonian dualism). 

Nhất Tâm Bất Loạn và “họ Sợ” hiện đại ! 


Nếu Carl Jung đã có công phu tìm tòi và áp dụng Phật pháp từ đầu thế kỷ 20 thì từ hậu bán thế kỷ 20 cho tới hiện tại, công trình liên tục của Suzuki và các nhà sư Tây Tạng đã mở rộng đường vào Phật pháp và Thiền khắp thế giới, với chính kiến sát gần với Thiền đạo hơn. Ngày nay, John Welwood, tác giả cuốn “Tiến tới một Tâm lý học Tỉnh thức” (Toward a Psychology of Awakening- Shamhala 2002) cho rằng Carl Jung hãy còn nhìn Thiền như một công cụ đi vào vô thức, coi vô thức như một thực thể tách biệt khỏi toàn thể con người, trong khi cốt tủy của Thiền là phá vỡ nhị biên, vượt khỏi biên cương Thức và Vô Thức, một chứng nghiệm chuyển hóa bất nhị (... the aim of Zen is the breaking up of the dualistic structure of consciousness and unconsciousness- trích lời R.DeMartino,...a non dualistic experience... p. 59 ). Một Bác sĩ tâm thần Đại học Harvard, Mark Epstein, trong tập Đi Vào Hiện Hữu- Đạo Phật và Con đường chuyển hóa (Going on Being-Buddhism and the Way of Change- N.Y. 2001) đã áp dụng Phật pháp vào cách chữa bệnh tâm thần, dùng Phật pháp để chuyển hóa con bệnh, chẳng những người Bác sĩ chữa trị phải nhìn thấy tâm lý con bệnh mà còn phải quán chiếu cả tâm linh nữa (individuality of psyche and spirit). Nói chung, trong khoảng nửa thế kỷ nay, Phật pháp và Thiền đã lan tỏa khắp thế giới, Tây Tạng và Nam Việt Nam mất đất nhưng, dường như có định luật bù trừ của Tạo Hóa, Phật pháp lại khế cơ gieo trồng trên đất khác, lan rộng và lan sâu vào những nền văn hóa đa tạp phương Tây, phải chăng khi Phật tịch diệt, lưng dựa vào Đông, mặt hướng về Tây, là có thiên nhãn viễn kiến ấy? 

Hiện tại, số người mắc bệnh thần kinh tâm trí (neurosis và psychosis) lên đến hàng triệu. Riêng một loại Lo Âu (anxiety disorders) cũng lên tới 5% hay 12 triệu người trên nước Mỹ, bệnh điên (schizophrenia, phân ý) 3 triệu người điên khùng rồ dại, tính cả thế giới thì từ 1% tới 2% hay hơn trăm triệu người điên! Tờ New York Times ước lượng nếu chỉ chữa trị một nửa số bệnh tâm thần ở Mỹ thôi, cũng mất khoảng 75 tỷ Mỹ kim! Một con số khác ước lượng 103.7 tỷ và riêng bệnh điên phân ý 22.7 tỷ! Số thuốc trị lo âu buồn nản (antidepressants) ngày một tăng nhằm đáp ứng với căn bệnh phiền não thời đại, riêng thuốc Prozac, phổ biến đến nỗi được bán như thuốc ngoài chợ, mỗi năm thu cả trăm triệu! 

Nhân loại sống giữa bể khổ, địa ngục ngay trên mặt đất, và địa ngục chẳng phải từ đâu mang đến, địa ngục do chính ma chướng trong lòng tạo ra, con ma của người này ám cái tôi của người kia, và con quỷ của người kia ám cái ngã của người khác... vòng hệ lụy bất tận “l’enfer c’est les autres” – địa ngục là kẻ khác- lời than của J.P. Sartre có thể áp dụng cho chính ông: chính cái khẩu nghiệp ma ám chấp kiến, nay mồm loa mép giải bênh Cộng Sản chửi rủa Tư bản, mai lên đường xuống đường bênh thuyền nhân chạy làn sóng Đỏ... đã đóng vai lợn què chữa bệnh lợn lành, để cả hai khập khiễng đi về địa ngục trong cuộc “nhân sinh thị bi kịch, càn khôn nhất hý trường”! Nhà văn Nguyễn Tuân, tác giả Vang Bóng Một Thời, sống dưới chế độ độc tài đỏ, đã dùng cụm từ “họ Sợ” để chỉ mối lo âu sợ sệt triền miên của con người hèn yếu trước chánh quyền hà chính mãnh ư hổ hay rõ hơn: chân lý ở đầu nòng súng, “họ Sợ” nói lên tất cả tâm bệnh thống khổ xuất phát từ sợ sệt “fear,” lo âu “anxiety,” sự căng thẳng tâm trí “stress,” đưa tới tình trạng hoảng sợ tới phát bệnh (generalized anxiety with panic attacks). 

Phật từ 2600 năm trước đã nhìn thấy căn bệnh trầm kha của trí thức: căn bệnh điên đảo tưởng, nhìn sai vì thiếu chính kiến, nhìn nhầm sợi dây thừng là con rắn vì dựa vào tri giác vọng niệm, nhận vô thường là bất biến... những nguyên nhân tâm lý tạo phiền não thì vô lượng. Kinh Thủ Lăng Nghiêm kể: 

-Mạn tập giao lăng (lấn ép nhau) phát nơi ỷ thế, tạo cãi vã tranh chấp. 

-Trá tập giao dụ (dụ dỗ nhau) 

-Cuồng tập giao khi (lừa gạt) 

-Oán tập giao hiềm (hiềm khích) 

-Kiến tập giao minh (người thông minh ham kiến chấp), vì kiến giải khác nhau nên chống đối nhau. 

-Uổng tập (vu vạ) gièm pha phỉ báng 

-Tụng tập giao thuyên (thưa kiện cãi cọ) phát nơi che giấu tội lỗi “Bồ Tát xem sự che dấu như đội núi cao đi trên biển cả.” 
...... 

Theo phân loại của sách DSM (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders) cuốn thánh kinh của chuyên gia Tâm thần Hoa Kỳ, thì bên cạnh cả trăm loại bệnh thần kinh tâm trí, riêng loại bệnh về nhân cách personality disorders như : 

- Nghi tưởng-paranoid 
- Phân ý-Schizoid 
- Chống đối xã hội-Antisocial 
- Giả dối đóng kịch- Histrionic 
- Tự tôn sùng- Narcissistic 
- Tránh né- Avoidant 
- Phụ thuộc- Dependent 
- Ám ảnh thúc bách- Obsessive-Compulsive 
v..v.. 

cũng cho ta thấy nhân cách thường và bất thường cách nhau một sợi tóc, ai chẳng có lúc đa nghi tưởng tượng, nhưng đa nghi thái quá như Tào Tháo, Hoạn Thư thì là bệnh, nghi và chụp mũ người khác cũng là một tâm thái paranoid, chống đối xã hội tới mức làm loạn thanh trừng tố đấu đẳng cấp khác thì là bệnh, giả dối lừa đảo nói láo đóng kịch tự tôn sùng cho mình là nhất thiên hạ, phải chăng là bệnh của vô số người hoạt đầu chính trị, vô số ngụy quân tử trí thức, muốn người khác chú ý tới mình, lợi dụng vắt chanh bỏ vỏ người khác (need for attention and admiration, preoccupation with grandiose fantaisies concerning the self...usually involving the exploitation of others...). Nói khác đi, con người chẳng những khổ sở vì sinh lão bệnh tử- những điều kiện nhân sinh giới hạn của kiếp sống- situations limites- như triết gia Đức Karl Jaspers đã bàn tới, mà có khi còn vì vọng niệm tạo ra nỗi khổ cho mình và cho người khác, địa ngục thân tâm hành hạ mình chưa đủ lại còn muốn tạo giả thiên đường treo cổ người khác, oan oán chồng chất, hận thù khôn nguôi. Có thể kể ra đây rất nhiều hung thần trong lịch sử nhân loại, từ Stalin, Hitler, tới Mao, Hồ, Pol Pot... những nhân cách bất thường, tâm bất ổn, mặc cảm thua kém biến ngược thành mặc cảm sân hận, lấy mầm địa ngục kết đọng trong kiết sử tàng thức gieo rắc đại họa lên đồng loại... loại nhẹ hơn, như Castro, tiêu biểu cho bệnh tham quyền cố vị, suốt 40 năm “đội bè lên đầu mà đi,” bị kiến chấp giáo điều đè nặng không chuyển hóa nổi. Nhìn theo nhà Thiền, những người biết vứt bỏ bè xuống, giác ngộ thay đổi như Gorbachev, phải có một căn cơ thiện nghiệp rất lớn mới đạt được. Nhưng Phật pháp cũng có thể giúp những ai không có căn cơ ấy, nhưng có quyết tâm hướng thiện “bỏ dao xuống thành Phật,” như Nguyễn Du từng viết : 

...Khắp trong tứ hải quần chu 
não phiền trút sạch, oán thù rửa xong 
...nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh 
trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao 
Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh 

Tham Sân Si như những bệnh trạng nổi hiện thành sóng vọng niệm trên mặt biển Tâm vốn tĩnh lặng, phép Thiền là tiếng chuông giúp thế nhân tỉnh cơn ác mộng đầy gươm giáo máu me chửi rủa ganh ghét oan oán... mà trở về trạng thái biển êm sóng lặng. Thuốc men trị bệnh tâm trí thần kinh hiện đại cũng chỉ nhằm đạt được phần nào như thế: làm dịu cơn cuồng nộ, tác dụng của các loại antidepressants, antianxiety, antipsychotics... là giảm những đợt sóng aggression, agitation, tantrums, la hét phá phách, loạn trí, ảo tưởng, không sống thực mà sống trong cơn bào ảnh ảo giác (illusions, hallucinations)... Từ ngữ điên đảo có nghĩa lộn đầu lộn đuôi, mà từ ngữ schizophrenia, bệnh điên, cũng mang ý nghĩa tách, xẻ, ý tưởng (schizo = chia cắt, fendre, phrenia = ý tưởng, penseés), diệt khổ bệnh bằng Yoga, bằng Thiền, là phương pháp chữa trị từ gốc vì Yoga là nối kết –union- Thiền là nhất tâm bất loạn, là kết buộc tâm phân tán như khỉ leo trèo, như ngựa phi lồng tâm viên ý mã. 

Shakya Muni, nhà hiền triết yên lặng, từng giảng giải cho môn đệ thế nào là điên đảo tưởng qua 62 loại trường phái điên đảo, từ chấp vô tới chấp hữu, từ chấp thường với vô thường... do các kiến chấp từ quá khứ (bổn kiếp bổn kiến) hoặc kiến chấp về vị lai (mạt kiếp mạt kiến) mà luận bàn sai lầm, những sai lầm do bệnh ngã mạn kiêu ngạo tạo nên, như “con tằm nhả tơ để tự trói” (kinh Lăng Già), bệnh ếch ngồi đáy giếng, “hỏi đàng đáp ngã” xướng lên vô số luận chấp theo sở thích sở kiến, tạo nên những mê hồn trận tư tưởng dị đoan lôi cuốn không biết bao nhiêu người nhẹ dạ cả tin vào đấy (xem kinh Phạm Động), muốn tìm cửa giải thoát khỏi những mê hồn trận đó, tỷ như mê hồn trận duy tâm duy vật, có thể áp dụng lời khuyên của nhà vua hiền triết bậc nhất Việt tộc thế kỷ XIII, Trần Thái Tông, tác giả Khóa Hư Lục: 

...Tọa thiền giả, đạt Phật chi cảnh 
Tham thiền giả, đạt Phật chi tâm... 

nghĩa là nên ngồi Thiền đưa cõi tâm vào bầu trời cảnh Bụt, tiếp đến mức sâu hơn, tham quán tâm Bụt, đạt cõi tâm bình đẳng, thoát trói buộc vọng tưởng, thân tâm an lạc tinh khiết như đóa sen giữa bùn lầy. Ngài còn bàn rộng về phép tọa thiền Tam giáo: “Nhan Hồi tọa vong... Tử Cơ ẩn kỷ...” thầy Nhan Hồi ngồi ngay ngắn, rời thân thể, bỏ phán đoán, lìa ngu trí, dung thông với đại đạo, còn Nam Quách Tử Cơ theo Tề Vật Luận sách Trang Tử, ngồi tựa ghế, ngửa mặt lên trời mà xem hơi thở (ẩn kỷ nhi tọa, ngưỡng thiên nhi hư), tọa thiền, tọa vong, ẩn kỷ... đều “đồng qui vô dị lộ” không khác biệt gì nhau, đều nhằm dứt vọng niệm, lìa phân tán tâm trí, hướng về cõi tâm thanh tịnh bản lai diện mục, là thiên chân của con người: 

...Tảo nguyện viễn ly ma cảnh giới 
Hồi tâm hướng đạo dưỡng thiên chân 
( Khóa Hư Lục) 

Thế giới hiện tại là ma cảnh giới do chính nhân tâm ngầu đục kiến chấp quấy đảo lên, lo cái họa ngầu đục của thiên hạ, nguyện làm y vương dùng gươm trí huệ phá giặc phiền não, đấy chính là tâm Bồ Tát Duy Ma, mang bệnh cả lo cho bệnh chúng sinh như một nhà Nho cách mạng yêu dân yêu nước từng viết : 

Chú tiểu đồng đâu hiểu căn bệnh Duy Ma của ta! 
Cao bá Quát tk XIX 

Chính cõi tâm phát nguyện của một Trần Thái Tông, một Nguyễn Du, một Cao Bá Quát... cộng lại sẽ thành cơn bão đồng quy chuyển hóa xã hội ma cảnh giới ngầu đục của thế gian ngày nay. 



Rằm tháng Tư – Nhâm Ngọ- 2002 








Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét