Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2019

Hạ Long Bụt sĩ: Từ Vũ Trụ Nhất Thống Trường của Albert Einstein tới VẠN PHÁP DUNG THÔNG TRƯỜNG của nhà Phật Từ Vật Lý Lượng Tử Quantum tới Lân Không Diệu lý Hoa Nghiêm

Giải thưởng Nobel Vật Lý 2012 trao cho Serge Haroche và David Wineland về công trình nghiên cứu lượng tử Quantums, đo lường mà không làm hư hoại những hạt vi tử nhỏ nhất của vật chất và ánh sáng (smallest particles of matter and light), thấy sự kỳ diệu như trò chơi tinh quái (strange behavior like parlour trick), cùng lúc mà đặt được một vật vào 2 nơi !  
Haroche Nobel 2012 dùng phương pháp quan sát lượng tử qua các tấm gương, ném chúng nẩy qua nẩy lại (bouncing) để thấy tính cách kỳ lạ của các hạt. 
Wineland dùng tia Laser photons xạc điện lên điện tử (ion) để nghiệm chứng trạng thái kỳ diệu của điện tử. Từ đó có thể chế tạo ra đồng hồ chính xác nhất, và máy điện toán mới, cực mạnh và nhanh với một hệ thống lượng tử rất nhỏ (tiny quantum system). 
Cả hai phương pháp đã đo lường và xử nghiệm các hạt lượng tử, mà xưa nay tưởng như không thể làm được.
Quantum biến hoá kỳ diệu, sắc đó mà không đó, sắc bất dị không... chẳng xa với quán chiếu nhà Phật về diệu lý vạn pháp. Trung Quán Luận từng luận về giả không giả hữu, kinh Kim Cương thuyết rằng vạn hữu “như mộng huyễn bào ảnh”. Vật lý tiến gần tới Diệu lý chăng ?

VẬT LÝ PHÁ CHẤP


Điều kiện cần yếu để phát minh sáng tạo, theo A. Einstein, là tâm tư ngoại lệ, không chấp trước, không thành kiến, tự do tưởng tượng, vô bờ, fantaisies, chứ không phải là kiến thức đầy đặc thành khuôn nếp trong đầu, ông từng nói : "I am enough of an artist to draw freely upon my imagination...the gift of fantasy has meant more to me than my talent for absorbing positive knowledge", không tự do thì không có sáng tạo, không phá chấp, thì không thể chuyển hóa, cho nên giống như Phật pháp, cần phá chấp, không biên kiến, không bị kẹt vào có với không, nhỏ với to, cao hay thấp, tất cả chỉ là những danh từ, những kiến chấp, rất tương đối.

Không có biên giới giữa các sinh vật, con khỉ Ngộ được Không, cũng thành Tôn sư đại thánh, cho đến ma nữ yêu tinh... cũng chẳng sai biệt, quốc độ của họ còn nặng nghiệp, nhưng chẳng khác nhau bao nhiêu, nếu tu tập tinh tấn, chưa tới mức thiên nhãn, thiên nhĩ như Bồ tát, thiện nhân vẫn có thể "chiếu yêu kính" nhìn ra chân tướng, nghe được tiếng tạp giới chúng sinh... Cho nên tác giả Liêu Trai Chí Dị xóa hết bức tường chia cách: dạ xoa, chồn, cáo... biến hóa, lấy người, yêu người, trong một khoảnh khắc kiếp hồng nhan... bông hoa, cánh bướm, thậm chí sâu bọ, cũng mang Phật tính, vũ trụ phá chấp, chúng sinh đồng nhất thể, người trần mắt thịt, làm sao biết "sỏi đá không đau" ?

Albert Einstein đã đi vào lộ trình phá chấp của Phật pháp, vạn pháp duy tâm tạo, tất cả Tứ đại - đất, nước, khí, lửa - vạn pháp giai không cũng được, mà vạn pháp giai hữucũng được, "có thì có tự mảy may, không thì cả thế gian này cũng không" người bình dân VN ai cũng thuộc lòng thấm thía câu đó, hẳn nhà bác học Do Thái kia cũng đốn ngộ bừng thấy lý phổ quát tương đối trong vũ trụ, chẳng có lực nào riêng rẽ, cho nên, vật chấtmới hóa thành năng lượng, được vận tốc ánh sáng bốc lên : E= MC 2, vũ trụ tam thiên đại thiên thế giới này, ống kính Hubbles thiên văn thấy là đa vũ trụ, toàn pháp giới Vô Lượng Quang tử, ánh sáng big bang, ánh sáng cong, ánh sáng xoáy vòng vào thiên ngục black hole... Nam mô A di đà... Amitabha, chỉ là cái tên cho nhân gian hiểu, thật ra, trên bình diện vũ trụ, nghĩa là quang tử, là photon, là quantum..., vô lượng, vô khả luận...

Đã là vô lượng quang Amitabha, thì làm gì có không gian giam hãm, làm gì có thời gian non hay già... không đến, không đi, không còn, không mất, không nhơ, không sạch... cho nên cả vũ trụ có thể chứa trong một lỗ chân lông Bồ tát, tất cả ba ngàn thế giới trên đầu một hột cải... cái to trong cái nhỏ, cái nhỏ trong cái to, lớp lớp như những mảnh kính mảnh gương soi chiếu muôn chiều vô lượng... ánh sáng trong tâm cũng là ánh sáng trong vũ trụ và ánh sáng quanh mặt trời cũng chỉ thu vào đồng tử một con mèo... vi quang tử, photon, boson, vi tử Hoa nghiêm, nở trùng trùng hun hút vào chốn thiên thai, không gian mấy chiều cũng được và thời gian muôn ngả cũng vẫn đứng yên vì chiếc thảm thần tiên bay cùng vận tốc với cả giải ngân hà trăng sao... tại sao loài người thắc mắc về durée của đời sống, khi cõi tâm có tốc độ nhanh bằng hay hơn điện từ trường? nhảy một bước, như Tôn Ngộ Không, nhảy hai bước, từ thức, nhập cõi thiên thai...

Kiến trúc BoroBudur tại Indonesia-tk8-9 theo nhãn giới Bụt tính tràn đầy vũ trụ HoaNghiêm.

Thống Nhất Trường Vật Lý và
Vạn Pháp Dung Thông Trường Phật Pháp


Nhà vật lý học như A. Einstein thì không chịu chuyện "bất khả tư nghị", ông muốn biết Tạo Hóa nghĩ gì - I want to know God' thoughts; the rest are details - ông đi tìmVũ trụ Thống nhất trường- Unified Theory, quân bằng phương trình, bó 4 lực lại thành một bó: trọng lực, điện từ lực, lực mạnh và lực yếu hạt nhân (gravitational-, electromagnetic- strong- weak-nuclearforces), nghĩa là không còn cách biệt giữa Không Thời gian,... Năm ngàn năm trước, Phục Hy cũng đã thống nhất hai lực Âm Dương, một âm một dương, tứ tượng, bát quái, rồi 64 quẻ... thống nhất quy vào Thái cực, nhưng trên Thái cực là gì ? là Tạo hóa chăng? là ông Trời chăng ?... hệ thống suy tưởng Âm Dương đã là cao, nhưng tới Thái cực thì vẫn chưa hết gợn sóng ý niệm, còn " Cực" dù là cực thái! Nhà Phật, thấy cái ngõ cụt ấy, phá hết biên kiến Vật- Tâm, quét sạch vọng niệm, tới mức phi tưởng, phi phi tưởng, tới mức Thiền bậc bảy bậc tám bậc chín...quán, tuệ.

Cuối đời, sau gần 30 năm mài miệt suy tưởng về Vũ trụ Thống nhất trường, Eisntein đã tâm sự là chưa tìm ra luật phổ quát nhất thống tất cả mọi lực trong vũ trụ... vũ trụ bành trướng, ngân hà ngày một văng ra xa, không co rút vàbành trướng như suy luận, không có hằng số vũ trụ (cosmological constant- lambda) nhưng có thiên ngục black hole, dark energy, ba lực bó lại làm một dung thông nhưng trọng lực thì vẫn nằm ngoài v.v... gần đây vật lý gia Stephen Hawking, muốn nhất thống lượng tử quantum với trọng lực trong một lý thuyết bao gồm tất cả - a theory of everything, còn Einstein thì không thích sự tình cờ trong thuyết lý quantum, ông nói "Tạo hóa không chơi xúc sắc xúc sẻ" God does not play dice... và ông muốn tìm kiếm xem Tạo hóa nghĩ gì khi sáng tạo ra vũ trụ, điều lý thú nhất, kỳ diệu nhất, theo Einstein là tại sao ta lại hiểu được thế gian ! (...The eternal mystery of the world is its comprehensibility...). Nhưng rồi giới hạn nhân sinh, Einstein cũng phải buông bỏ, về chầu Tạo hóa Tâm vũ, một cosmic God, không phải là một Thượng đế ngồi cao thưởng phạt loài người... Có thể ông đã đọc thoáng qua kinh Phật, từng đọc kinh sách cổ thư Ấn độ, từng ngồi trò chuyện với Tagore, nhưng nếu đi sâu hơn vào kinh Phật, không chừng sẽ kiến tánh đại ngộ, Vật lý chỉ là phương tiện của dục giới, có tìm hiểu đến đâu thì vẫn quanh quẩn trong hình sắc vật thể, pháp hữu vichẳng thể dùng để đạt pháp vô vi, tục đế làm sao vươn tới chân đế... Vô sắc giới, cõi Tâm, tạm gọi như là một Cõi, thực ra Tâm không còn là Cõi, không còn hai cái cột Không- Thời nữa, thì không thể đóng khung vào một Cõi nào, và như thế mới là thể tính, là nền chung, là Thống nhất trường, vừa sắc giới, vừa vô sắc giới, vừa cõi này, vừa các cõi kia, vừa nhân thiên địa, tam tài, thông cả tam giới là Vương, một vạch thẳng thông qua ba vạch ngang, Dịch và Nho, Lão, đã là cao, nhưng lý Hoa nghiêm còn cẩn trọng hơn, thiên địa nhân, đúng, nhưng Thiên là một ẩn số, đa thiên vũ trụ, tam thiên đại thiên, vô lượng, vậy thì hãy lấy lý sự sự vô ngại, lý lý dung thông, làm quy luật vũ trụ thống nhất trường, có lẽ sát với tầm vóc tề thiên hơn... Einstein nói "Sự tương đối dạy ta tính dung thông giữa các hình sắc dị biệt của cùng một thực tướng- Relativity teaches us the connection between the different descriptions of one and the same reality. Những vi tử như proton, neutron, pion... biến dạng luôn luôn đến nỗi các vi tử có thể xem như nối kết - combination -với nhau chứ không riêng rẽ (In the Flower Garland Sutra, each part of physical reality is contracted of all the other parts- The Dance Wu Li Master-Anoverview of the new Physics by G.Zukav p.238). 

Hiểu Bụt như một lực phổ quát sẽ thấy chuyện Tề Thiên Đại Thánh trong Tây Du Ký toan đi ra ngoài vũ trụ mà rút cuộc vẫn nằm trong bàn tay Bồ tát là hàm chứa thiền quán Bụt trường thống nhất vậy. Những thuyết vật lý mới, không gian 4 chiều tới 11 chiều sợi dây vi tử - như dây đàn- khi rung lên sẽ tạo ra nốt nhạc tức là những vi tử nhỏ hơn nguyên tử, gần như không có trọng lực -massless, rất giống với lời dạy lân không, hay lân hư trần, tức hạt bụi nhỏ gần cận với không, của Đức Phật, (string theory - subatomic particles), các sợi dây vi tử rung động -vibrate- trong không gian và thời gian, rung động làm cong không gian, gravity& bending of space, và dây đàn rung lên chính là quang lực, vibrations & quantums... cố gắng thống nhất trọng lực với quang lực này lại càng củng cố tư tưởng Hoa Nghiêm, sự sự dung thông, lý lý vô ngại . 

Einstein và các nhà vật lý học còn kẹt vào tướng, nên không thể thấy nhất thống trường vốn là không tướng bất tăng bất giảm, "nơi nào có tướng là nơi đó còn có sự lường gạt" (kinh Kim Cương), tướng là hình sắc hóa hiện như đom đóm mắt, dùng ngũ giác, dùng ý niệm để nắm bắt thì chỉ nắm bắt được cái bóng, như đứa trẻ thơ ngỡ cái bóng trên tường là bố nó trong nhà đêm khuya ánh đèn dầu hắt lên, như người tù trong ẩn dụ hang tối của Platon (allégorie de la caverne) chưa ra ánh sáng, chỉ nhìn thấy ảo ảnh... vật lý gia dựa vào sắc mà phát kiến, dựa vào thanh, hương, vị, xúc, vào pháp mà phát ý, trong khi tâm phải vô sở trụ, không kẹt vào khái niệm, không vướng vào khung cũi, mới "nhi sinh kỳ tâm", mới quán chiếu được, mới đạt tuệ giác sáng tạo, mới nhập vũ trụ thống nhất trường.

Nhà Phật cũng nói tới nguyên tử, cũng nói tới vật thể nhỏ nhất, nhỏ tới mức gần như hư không - lân không, lân hư trần - trong duy thức học, thế thì ngay trong cảnh giới hữu vi sang vô vi cũng chẳng có biên giới rõ ràng chi phối bởi "vật lý", từ vật chất bốc lên thành photon, boson, quang tử có còn là "vật" nữa đâu... chẳng có công thức hữu vi nào đuổi bắt được tề thiên, chẳng có luật tắc hữu hình nào gói được những cơn gió đáy vũ trụ biến ra 32 biến như Quan Âm, cho rằng đầu óc người cũng là một phần đầu óc tạo hóa đi chăng nữa, thì cũng phải nhận rằng ta là ngọn đèn dầu lạc, le lói ánh sáng của Bụt trường mà thôi ! nhà Phật không nói tới một Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ, mà nói tới vô lượng Bụt trong vũ trụ, hàm chứa trong vạn vật, pantheistic hơn là monotheistic (Buddhist Cosmo. tr.127), điều này A. Eisntein cũng nói thoáng qua về vô hạn trong hữu hạn: the infinitely superior spirit that reveals itself in the little that we, with our weak and transitory understanding, can comprehend of reality. 

Những dòng lạm bàn trên chỉ là mạo muội mang ánh sáng đom đóm soi mặt trăng mặt trời, với lòng thành dõi tìm Đại Viên Cảnh Trí.


Hạ Long Bụt sĩ 

Chủ trì Tịnh Khẩu Pháp Môn
( www.halongvandan.wordpress.com)


Tham Khảo chính:

Buddhist Cosmology- Akira Sadakata- Kòsei, Tokyo- 1997 

Kinh Hoa Nghiêm–bản dịch Thích Trí Tịnh

Nhập Pháp Giới- Nghiêm Xuân Hồng- Xuân Thu- 1996

Khái luận Triết lý Kinh Hoa nghiêm- Đức Nhuận- Viện Triết lý VN & Triết học Thế giới- 2000.

Vấn Đề Nhận Thức Trong Duy Thức Học-Nhất Hạnh -Phật Học Viện Quốc Tế- 1980 và các bài giảng thâu băng.

Vật Lý Học và Phật học -Vương Thủ Ích –bản dịch của Vân Nguyên -Viện Triết Lý VN-1994

Our Oriental Heritage- The Story of Civilization- Will Durant - MJF Books 1935

Einstein and Buddha-The Parallel Sayingsby Thomas J. McFarlane-Seaston 2002

The Dancing Wu Li Master-An overview of the New Physicsby Gary Zukav- Bantam 1979.

The Essential Kabbalah- Daniel C. Matt -Castle Books 1995

Le moine et le philosophe- Le bouddhisme aujourd’hui par J.F. Revel et M. Ricard- Nil ed.1997

* Các sách và Websites -Stephen Hawking: Brief History of Time, The Big Bang, Origin of the Universe 

* Các websites vềRelativity và Unified theory của A.Einstein-như Leiwen Wu, Encarta Encyclopedia...

* Hiền Như Bụt- Hạ Long Bụt sĩ LVV-sẽ xb 2020

* Cơ học Lượng tửdo Max Plank, Niels Bohr, Heisenberg… đề ra đầu thế kỷ XX -theo đó lượng tử vừa là hạt vừa là sóng (particle và wave), năng lượng như vậy không liên tục (continuous), bất định, không thể một lúc biết được vị trí và khoảnh khắc của hạt (position and momentum of particle). Vật lý Lượng tử dùng xác suất thẩm định trạng thái kỳ diệu của hạt và sóng, tương tức tương tác, biến đổi trong thời gian. A.Eisntein lúc đầu khám phá ra điện quang tử (photoelectric) dẫn tới quang tử (photon) là bước khai phá của Vật lý Lượng Tử, nhưng sau ông bất đồng với Vật lý lượng tử, không thích tính bất định, bất trắc của lượng tử, không ưa ngẫu nhiên và xác suất, cho rằng Tạo Hoá không chơi trò xúc sắc ! và không gì có thể nhanh hơn vận tốc ánh sáng ! (hiện nay vật lý lượng tử cho thấy hai photons từ một nguyên tử văng ra, xoay-spins-tương tác với nhau dù xa nhau đến đâu, nhanh hơn cả ánh sáng !)

Trong Duy Thức học Phật giáo và trong Kinh A Di Đà, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Hằng Chuyểnlà quy luật của vạn pháp, vừa thường hằng vừa biến hoá, vừa là hạt vừa là sóng, chỉ là trạng thái thay đổi trong từng sát na. “ hạt bụi trần lân không vì chia mà thành hư không, thì phải biết hư không cũng có thể sinh rahạt bụi gần như hư không, mà thành lại sắc tướng”. Tính cách phi nhất phi dị-không phải là cái ấy, cũng không phải là cái khác, đúng với quan sát lượng tử hiện đại.

Qua Kinh Phật và Vật Lý Lượng tử đương đại, ta thấy triết lý Duy Vật tk 19 đã sai lầm từ căn bản. Chưa biết rõ Vật là gì, mà đã vội kết luận là Duy ! Cứ cho nguyên tử là hạt vật chất cơ bản thì các điện tử linh hoạt, biến thái sang quang tử, khi đó nó chẳng còn là vật chất ù lì nữa, nó đã chuyển hoá sang thế giới phi vật chất rồi !

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét