Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2018

Bùi Vĩnh Phúc: Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & một vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt (*)

(Bài thuyết trình tại cuộc “Triển lãm và Hội thảo Tưởng niệm Trương Vĩnh Ký” tại nhật báo Người Việt, Westminster, Calif., USA, ngày 8 tháng 12, 2018)
Giáo sư Bùi Vĩnh Phúc đang thuyết trình trong buổi hội thảo

.1.


Mục đích của bài này là trình bày một số tìm tòi, suy nghĩ của người viết về một vài nét đặc thù và thú vị trong ngôn ngữ Việt, cùng với việc tìm hiểu về một số biến đổi cả trên mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của một số từ ngữ trong tiếng Việt, kể từ giai đoạn phôi thai của nó đến bây giờ.

Sự tìm hiểu và suy nghĩ ấy được thực hiện, khởi đầu, qua việc đọc quyển Kim, Vân, Kiều Truyện, bản phiên âm đầu tiên Truyện Kiều của Nguyễn Du, từ chữ Nôm qua chữ Quốc ngữ, của Trương Vĩnh Ký. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một nguồn sáng, về mặt ngôn ngữ văn học, của người Việt. Chúng ta hãnh diện vì Truyện Kiều, không hẳn vì những khía cạnh triết lý, đạo đức hay xã hội, v.v., trong truyện mà người đời sau đã tìm ra hoặc gán cho nó. Chúng ta hãnh diện vì đã có một nhà thơ Việt, dùng chữ nghĩa của dân tộc, một cách hết sức tuyệt vời và điêu luyện, với những chiều sâu trong ý nghĩa và sự lóng lánh của chữ, để diễn tả câu chuyện. 

Câu chuyện ấy, khởi đầu, được viết bằng chữ Nôm, là một thứ chữ có thể cũng được xem là Quốc ngữ của người Việt, trong giai đoạn chuyển tiếp từ chữ Hán. [1] Đó là một đóng góp quý báu, trong giai đoạn ấy, của nhiều nhà nho tài giỏi và có lòng với đất nước. Chỉ tiếc rằng, vì những hoàn cảnh lịch sử và xã hội, chữ Nôm đã không được quảng đại quần chúng biết đến, ngay từ thời nó còn đang được sử dụng. Việc phiên âm một số văn bản văn học, được viết bằng chữ Nôm, sang chữ Quốc ngữ, là thứ chữ, sau đó, và cho đến bây giờ, được toàn dân sử dụng, là một nỗ lực đáng quý. Và cần thiết.

Trương Vĩnh Ký là một người đi tiên phong trong việc làm đẹp đẽ và cần thiết đó.



Ông là một nhà bác ngữ học đầy tài năng, thông thạo nhiều thứ tiếng. Uyên thâm Hán học, giỏi tiếng Latinh và tiếng Pháp, lại cũng giỏi nhiều ngôn ngữ ở Viễn Đông như chữ Lào, chữ Chàm, chữ Miến, chữ Cao Miên, chữ Xiêm La, v.v., ông đã dịch bộ Minh Tâm Bửu GiámTứ Thư ra chữ Quốc Ngữ. Ông lại phiên âm ra chữ Quốc Ngữ, chú thích nghĩa lý, và dịch ra tiếng Pháp bộ sách Sơ Học Vấn Tân để giúp học sinh học chữ Hán. Trương Vĩnh Ký cũng đã viết một quyển sử nước Nam để người đọc tiếng Pháp biết về lịch sử người Việt (Cours d’Histoire Annamite). Ngoài ra, tài liệu cũng cho ta thấy ông cũng đã viết nhiều sách bằng tiếng Pháp về văn phạm và ngôn ngữ Việt Nam để dạy cho cả người trong nước và người nước ngoài (Cours de Langue Annamite aux Europpéens - Phraséologie, Thèmes, Versions; Cours d’Annamite aux Élèves Europpéens; Grammaire de la Langue Annamite; Explication du Lục Vân Tiên; Prosodie et Versification Annamite - Cours d’Annamite aux Élèves Annamites, v.v...). Trương Vĩnh Ký lại bỏ công làm các bộ từ điển Việt-Pháp và Pháp-Việt để giúp cho người học.

Trương Vĩnh Ký đã bỏ cả đời mình để phụng vụ cho lý tưởng mà ông đã chọn: đóng góp phần tốt đẹp nhất của mình để làm lợi cho dân tộc, giúp ích cho người dân. Ông là một người có tài, có tâm, và có tầm. Là một người yêu nước, và cũng là một nhà ngoại giao, ông chống đối việc Pháp đưa quân xâm chiếm Việt Nam. Ông từ chối vào quốc tịch Pháp dù được giáo dục theo đường lối, cách thức làm việc, phương pháp khoa học của Âu Tây, được trọng vọng và trao tặng Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp. Trương Vĩnh Ký muốn là một con người dân tộc, với mặt mày, bộ quần áo và tâm hồn dân tộc. Tâm hồn và tư cách Việt Nam.

Trương Vĩnh Ký là một người thông minh và có tinh thần cải cách. Giống như Nguyễn Trường Tộ, ông có cái nhìn xa, muốn cho dân và nước đi lên, tiến bộ cùng thế giới. Trong chí hướng ấy, và trong hoàn cảnh lịch sử thời ông sống, ông đã đóng góp nhiều công sức, làm được bao nhiêu điều tốt đẹp, nhưng ông cũng bị ngộ nhận và chịu những đắng cay.

Bài viết này, dù sao, không chủ vào việc trình bày hay khai triển những khúc mắc lịch sử hay xã hội liên quan đến cuộc đời Trương Vĩnh Ký. Nó nhắm vào một chủ đề khác. Tác giả bài viết quan tâm, nhiều hơn, đến những đóng góp của nhà bác ngữ học và con người dân tộc của Trương Vĩnh Ký. Là một người đã đóng góp nhiều mặt trong việc phổ biến, phát triển tiếng Việt, đã dịch nhiều tác phẩm chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ, như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần truyện, v.v., Trương Vĩnh Ký đã tạo cho chúng ta một cái nền để tìm hiểu về ngôn ngữ, chữ nghĩa Việt.

Chữ Quốc ngữ trong giai đoạn đó vẫn còn khá phôi thai. Các bản dịch của ông, đặc biệt bản phiên âm Truyện Kiều của Nguyễn Du, có thể vẫn còn những chỗ chưa thật đúng, chưa hoàn chỉnh, nhưng, như cụ Nguyễn Văn Tố viết trong lời tựa cho sách viết về Trương Vĩnh Ký của Lê Thanh, chữ Nôm là loại chữ không có từ/tự điển, ở vào giai đoạn đó, mỗi người viết một cách, không thể nào đọc cho đúng ngay được, nên việc làm của Trương Vĩnh Ký vẫn rất quý. Và, để lặp lại một lần nữa, nó cho chúng ta cái nền để tìm hiểu chữ nghĩa Việt. 

Trong việc viết sách, dịch sách, phiên âm các tác phẩm văn học từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ, làm tờ Gia Định báo, và sau đó là tờ Thông Loại Khoá Trình (mà ông tự bỏ tiền ra để thực hiện), mục tiêu chính của Trương Vĩnh Ký là ghi lại một thứ “tiếng An Nam ròng”, “nói sao viết vậy”, cốt sao để người Việt đọc và học tiếng Quốc ngữ có thể nắm bắt ngay cái lối nói, chữ viết, ý tưởng của người dân trong suy nghĩ và giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ, theo Heidegger, là “ngôi nhà của hữu thể”. Việc chúng ta ăn nói, viết lách, dùng từ, ngữ như thế nào sẽ tạo nên thế giới của chúng ta. Chúng ta tạo nên thế giới qua lời nói, chữ viết, và ngôn ngữ của mình.

Ngôn ngữ của người Việt, qua bản phiên âm và chú giải Kiều của Trương Vĩnh Ký, là chữ Quốc ngữ của thời đó. Nó là ngôn ngữ của dân tộc, nói chung. Nhưng người khảo sát cũng có thể thấy nó mang khá đậm tính phương ngữ và cách diễn ý của Đàng Trong, của miền Nam, một miền Nam của thế kỷ XIX. Một xã hội rất khác với xã hội hiện tại trong đó chúng ta đang sống. Tìm hiểu ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói, cách phát âm, cách ghi âm, lối dùng chữ của người dân trong một khung xã hội nào đó, sẽ cho ta biết khá rõ về con người và lối sống của thời đại ấy.

Bài viết này không thể khảo sát tất cả các từ, ngữ, chữ nghĩa được dùng của Truyện Kiều, đặc biệt của bản Kiều do Trương Vĩnh Ký phiên âm và chú giải. Người viết chỉ có thể khảo sát, tìm hiểu một số từ ngữ, một số biến đổi phản ánh trên mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của một số từ ngữ để, qua đó, tìm hiểu về ngôn ngữ, chữ nghĩa Việt. Qua những từ, ngữ được trình bày để khảo sát trong bài, tác giả xin phép được xem nó như là một “mẫu dân số”, giống như “mẫu dân số” trong phương pháp khảo sát của xã hội học, để, từ đó, có những chỗ so chiếu với ngôn ngữ hiện đại, tìm hiểu về lối nói và lối suy nghĩ, cũng như phong cách của người dân Việt, từ xưa cho đến nay.

.2.


Ngoài vấn đề ngữ nghĩa, bài viết, như đã nói, cũng khảo sát một số hiện tượng biến đổi về mặt ngữ âm (có thể xét đến cả lý do phiên âm khác nhau). Ngữ âm là cái vỏ âm thanh của ngôn ngữ. Và vấn đề biến âm là một chuyện xảy ra trong bất kỳ một ngôn ngữ nào. 

Chẳng hạn như trong tiếng Anh: từ “Often”, thường được phát âm là “oFFen” (/ˈôfən/ mất âm /t/ ); nhưng có người/vùng đọc là (ofTen) (/ɒftən/ vẫn giữ lại âm /t/ ). Về việc bỏ âm /t/, lý luận giản dị được đưa ra là giống việc phát âm từ “listen”chẳng hạn, người ta không phát âm âm /t/.

Hay từ “mountain”, có người/vùng phát âm vẫn giữ âm /t/, có những người/vùng khác bỏ âm /t/ đi, chỉ còn “mount” và “ain”. Các nghiên cứu, lúc đầu, thường nghĩ dân Utah, đặc biệt là phụ nữ ở lứa tuổi trên dưới 20, thường phát âm theo lối bỏ /t/. Và điều này bị xem là một thứ “stigma”, một “dấu ấn xấu”, và bị cười chê. Nhưng nhiều nghiên cứu ngôn ngữ về sau cho thấy rằng hiện tượng bỏ âm /t/ này phổ biến ở nhiều nơi, nhiều vùng, chứ không phải chỉ ở riêng Utah, nơi ảnh hưởng từ di dân gốc Anh hay vùng phía Nam của nước Mỹ trở nên rõ rệt. Hiện tượng “có vẻ” bỏ âm /t/ này, lúc đầu, thường được nghĩ là bắt nguồn từ việc không phải âm /t/ bị loại bỏ, nhưng, thay vào đó, nó bắt đầu sau một âm tắc (/ʔ/, glottal stop), từ đó không khí tạo, dồn đẩy và phát ra đường mũi. Nhưng một nghiên cứu sau đó của các nhà ngôn ngữ thuộc đại học BYU cho thấy là người dân Utah, khi phát âm từ này, thường đẩy không khí qua đường miệng (oral release). Họ cũng phát âm những từ như kitten, cotton, hay beaten như vậy. Hiện tượng “loại bỏ” /t/ như thế được phổ biến ở nhiều nơi, nhiều vùng trên nước Mỹ. [2]

Cũng về vấn đề biến đổi ngữ âm, trong tiếng Pháp, người ta xét thấy có bốn âm mũi:

/ɛ̃/như trong gain, vin, pain, impatient
/œ̃/như trong l’un, parfum, chacun
/õ/như trong long, monde, pont
/ɑ̃/như trong enfant, dans, l’an, chambre

Dùng câu sau đây, ta có thể phát âm bốn âm mũi đó: un bon vin blanc [một (ly/chai) rượu vang trắng ngon]. Giọng tiêu chuẩn của dân Paris vẫn giữ bốn âm mũi này; nhưng giọng Paris “sành điệu” bây giờ thì chỉ còn ba âm mũi. Người ta phát âm un, chacun, chẳng hạn, với âm /ɛ̃/ (giống như trong vin, pain) chứ không với âm /œ̃/ nữa. Ngay từ hơn nửa thế kỷ trước, khoảng giữa thập niên 1960, khi tôi theo học tại Centre Culturel Français/ Alliance Française ở Saigon, các thày cô giáo dạy tôi đều là người Pháp mà phát âm của họ với mấy chữ un, chacun… này cũng khác nhau. Có người phát âm là /œ̃/, có người lại phát âm là /ɛ̃/. Cách phát âm là /œ̃/ được thể hiện rõ trong những câu nói của người Việt, như “Không có ‘oong đơ’ (un deux/một hai) gì nữa. Mời anh lên xe cho!”. Hiện nay, không có mấy phát thanh viên/xướng ngôn viên tại Paris còn dùng đủ cả bốn âm mũi này. Âm /œ̃/ đang có khuynh hướng bị đẩy lùi và áp đảo bởi âm /ɛ̃/.

Có nhiều lý do cho việc biến đổi ngữ âm của mọi dân tộc. Nhưng nhìn chung, nó xảy ra từ những nguyên nhân trong và ngoài ngôn ngữ. Từ cấu tạo của cơ quan phát âm, sự ảnh hưởng qua lại của các âm trong một âm tuyến, một chuỗi lời nói (đưa đến các hiệu ứng như tăng âm, giảm âm, nối âm, hợp âm, đồng hóa, dị hóa, nhược hóa, và nhiều dạng biến đổi âm khác liên quan đến phụ âm đầu, vần, thanh điệu) đến những nguyên nhân bên ngoài như điều kiện xã hội, thái độ ngôn ngữ, truyền thống văn hóa, khí hậu, địa lý, v.v. Tất cả đều có thể khiến cho sự biến đổi xảy ra.[3] 

.3.


Sau đây, chúng ta thử đi vào ngôn ngữ Truyện Kiều của Trương Vĩnh Ký.

Tóm tắt truyện trước khi đi vào phần phiên âm và chú giải, Trương Vĩnh Ký có phần lời nói đầu (Avant-Propos) viết bằng tiếng Pháp để giới thiệu cuốn sách. Tôi tạm dịch: 

"Thơ mà chúng tôi in ra bằng quốc ngữ ở đây là thơ mà tất cả người An Nam đều thuộc nằm lòng trên đầu môi chót lưỡi, đàn ông cũng như là đàn bà, con trai cũng như con gái. Thơ này được tất cả mọi người đều yêu thích và thưởng thức, đối với người biết chữ cũng như với người không biết, kể cả phụ nữ, vì thơ này mang một nền tảng đạo đức được định nghĩa rất khéo, được diễn tả trong mọi liên hệ, thích hợp với mọi hoàn cảnh trong cuộc sống con người. Khi buồn đau, thơ đem lại những niềm an ủi; khi gặp điều may lành, đúng ước nguyện, ta thấy trong thơ hình ảnh hạnh phúc của ta được diễn tả bằng những mầu sắc tươi tắn... 

Có nhiều những câu thành ngữ, ngạn ngữ, những lời hay ý đẹp, những nguyên tắc mang tính phổ quát hay đặc thù trong cuộc sống xã hội được trình bày rất rõ ràng, mạch lạc trong thơ. Người ta thấy trong thơ một bức họa tuyệt vời của cuộc bể dâu, thăng trầm thế sự, những uẩn khúc quanh co như một mê đồ của kiếp nhân sinh. (…)"[4]

Trong phần trình bày về tích truyện, Trương Vĩnh Ký dùng tiếng “An Nam ròng”, là lời ăn tiếng nói của con người Nam bộ trong cuộc sống lúc ấy. Chẳng hạn như:

Đời Gia tĩnh nhà Minh, có họ Vương làm quan viên ngoại, sinh được ba đứa con, con út trai là Vương quan, con đầu lòng hai đứa gái là Túy kiều vuối Túy vân, hai gã nhan sắc đẹp đẽ xinh tốt quá chừng, lại thêm học hành thông minh, lịch sự đủ đều, cầm, kì, thi, họa chẳng thua ai. 

Lúc ấy nhằm tiết tháng ba, người ta hay đi tảo mộ. Ba chị em mới rủ nhau đi chơi xuân, đi qua khỏi suối, Túy kiều thấy cái mồ con Đạm tiên, không ai giẫy cỏ, không ai viếng thăm, thì nghĩ lại cái điều hồng nhan bạc phận mà khóc, hồn Đạm tiên về hòa thơ vuối Túy kiều. Vừa chiều tối, ba chị em dắc nhau ra về, gặp Kim trọng là bạn học với Vương quan, chào hỏi chuyện văn, hai chị em lạ khép nép giấu mặt.

Về nhà Túy kiều đêm nằm trằn trọc, chiêm bao thấy Đạm tiên về nói chuyện về nỗi đoạn trường đến sau. Túy kiều vùng khóc lên, mẹ nghe được hỏi làm sao vậy, thì nó nói chuyện chiêm bao lại cho mẹ nó nghe. Thì mẹ nó la biểu nó đừng có tin chiêm bao mộng mị, có thật vào đâu. (…)

Bữa ấy Túy kiều ra dạo vườn hoa chơi dưới gốc cây đào, anh ta nghe hơi có nó ra, thì chạy ra, trèo vách dòm vô. Con kia nghe động đã tuốt vô đóng cửa lại rồi. Ngó quanh ngó quất thấy cây trâm giắt nơi nhánh đào, liền với tay lấy trâm cầm về. Sáng ngày ra Túy kiều dậy chải-gở biết mất trâm mới ra mới kiếm. (…)

Cách ít bữa tới ngày ăn lễ sanh nhựt ông ngoại Túy kiều, cả hai ông bà và hai em Túy kiềuđều đi, để chị vaở nhà coi nhà. Chị ta ở nhà một mình thong thả, đeo đồ vào đánh áo đánh quần, đóng cửa, ra phía sau, tuốt qua nhà Kim trọng. Leo qua gặp Kim trọng dắc vào nhà, ở đó trò chuyện, làm thơ, làm phú, đánh đờn đánh địch, thề nguyền với nhau cho một ngày một đêm; khuya lại Kim trọngmuốn xáp việc, mà va không cho. Sáng ra từ giã trở về, Kim trọng được thơ nói chú chết, nên lo về chịu tang. (…) ”(Phần in đậm do tôi nhấn mạnh- BVP)

*Trước khi phân tích một vài lối dùng từ cổ, cũng như cách diễn tả theo lối “An Nam ròng”, phản ánh lời ăn tiếng nói của người dân thời ấy, mà Trương Vĩnh Ký đã ghi lại, ta hãy xét cách chuyển tên của Thuý Kiều và Thuý Vân của TVK ở đây.
Đầu lòng hai ả Tố-nga
Tuý-kiều là chị, em là Tuý-vân

Tại sao lại là “Tuý” mà không phải là “Thuý”? 

Trước khi xét phần ngữ âm, ta thử xét phần ngữ nghĩa. Nếu xét “Thuý Kiều”, “Thuý Vân” như một tên riêng, ta có thể quan tâm hoặc không quan tâm đến ý nghĩa của chúng. Nếu quan tâm, nhiều tên của người trong ngôn ngữ Việt có những ý nghĩa rất hay. Tôi có những người học trò/sinh viên có tên rất hay và ý nghĩa. Chẳng hạn như “Tường Vân” (Mây lành), hay “Cát Nguyện” (Lời ước nguyện tốt lành), “Vân Dung” (có thể nghĩ là “dung nhan của mây”, một hình ảnh đẹp và lạ; thật ra, tên được lấy từ câu thơ “Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung” của Lý Bạch, kết hợp chữ đầu và chữ cuối của câu thơ, theo lời kể của người học trò mà tôi biết bố mẹ ông bà là những người tài giỏi về văn học nghệ thuật và âm nhạc). Miền Nam trước 1975 có một nhà biên khảo, lấy bút hiệu là Thạch Trung Giả (“giả” theo nghĩa là “người”, như “học giả”, “biện giả”, v.v.). Vậy tên ấy có nghĩa là “Người ở trong đá”. Nó làm ta nghĩ đến cụm từ “Ngọc trong đá” (“thạch trung ngọc”. Thật sự, Thạch Trung Ngọc cũng là tên một nhân vật, anh em với Thạch Phá Thiên, trong truyện “Hiệp Khách Hành” của Kim Dung). Có thể nhà biên khảo có ý xem như mình đang còn “ở ẩn” trong một tảng đá còn thô, góc cạnh và xù xì, chưa được người đời biết đến (?). Trở lại chữ “Vân”, Phật Giáo hay dùng từ “vân tập” , rất hay và đầy ý nghĩa. Nó mang ý “nhóm lại, tụ lại, đông như mây”, như trong câu “Kính mời quý Phật Tử, quý đạo hữu và mọi người hoan hỉ vân tập về chùa”. Tôi cũng thích từ “vân hà” , nghĩa là “mây trắng và ráng đỏ” (Từ điển Đào Duy Anh), hay “mây có màu sắc đỏ đẹp” (Từ điển Nguyễn Quốc Hùng).

Vậy thì, nếu xét về mặt ý nghĩa, Thuý Kiều 翠翹,theo Hán-Việt Từ Điển của Đào Duy Anh, ngoài nghĩa là tên nhân vật chính trong truyện Kim Vân Kiều, còn có nghĩa là món đồ trang sức trên đầu người phụ nữ Tàu xưa. Từ đó, tôi nghĩ, “Thuý Kiều”, với biện pháp hoán dụ, có thể có nghĩa là một người nữ đẹp. Và, thật sự, chữ “Kiều” 翹, trong văn cảnh mà chúng ta đang khảo sát, ngoài việc để chỉ cô Kiều trong truyện, cũng có nghĩa là một người con gái đẹp. Chữ “Thuý” 翠,ngoài việc chỉ tên hai nàng Thuý trong truyện Kiều, có nghĩa chính là màu biếc (như trong từ “thuý lục”). “Thuý Vân” có thể là một áng mây xanh, đẹp; suy rộng ra, chỉ sự thướt tha, xinh đẹp, dịu dàng. Ngoài ra, còn có từ “Thuý vân thảo” là một thứ cây rêu, lá như vẩy cá, được người ta trồng làm cảnh.

Còn “Tuý Kiều”, “Tuý Vân”, nếu giả dụ “Tuý” được viết là 粹, với bộ mễ 米, thì nó có nghĩa là nàng Kiều, nàng Vân, trong trắng (vì “tuý” ở đây có nghĩa là “nguyên chất”, như trong “tuý bạch”/trắng phau; hay “nguyên không pha”, như trong “tuý nhi bất nhiễm”; là phần tốt nhất, như trong “tinh tuý”). Còn nếu “Tuý” được viết là 醉, với bộ dậu酉,nó sẽ liên hệ đến “say”. Như “lạn tuý” là say khướt, “tuý quỷ” hay “tuý hán” là bợm nhậu, “tuý tâm” là say sưa (với) công việc (Lm Anthony Trần Văn Kiệm). “Tuý nguyệt” là ngồi đối trăng mà uống rượu cho say (Đào Duy Anh). Như thế, “Tuý Kiều”, “Tuý Vân” có thể có nghĩa là nàng Kiều (hay nàng Vân) làm cho say lòng người.

Từ nãy đến giờ, ta đã thử bàn đến ý nghĩa có thể có của tên hai nàng Kiều và Vân, với các phiên âm “Thuý” và “Tuý”. Nhưng, thật sự, Nguyễn Du trong bản Nôm truyện Kiều của mình, đã lấy nguyên chữ Hán để viết tên hai nàng. Là 翠翹và 翠雲. Tại xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, cách kinh thành Huế khoảng 40 m về phía Đông, có Tuý Vân Sơn, hình dáng tựa như một con chim phượng hoàng đang cất cánh bay, theo như mô tả mang tính địa lý-lịch sử về địa danh này. Ở đây có chùa Tuý Vân, đặt theo tên của ngọn núi. Thật sự tên nó được viết theo chữ Hán là “Thuý Vân”, nhưng dân chúng ở đây vẫn hay gọi là chùa Tuý Vânnúi Tuý Vân. Họ gọi đó là Chùa Mây Say và Núi Mây Say. Có lẽ nên hiểu là người từ dưới nhìn lên, thấy mây bay đẹp quá làm cho chếnh choáng, say sưa, nên đã gọi là Tuý Vân. Mây bay đầy trời, lồng lộng trên núi, làm cho say sưa kẻ ngắm nhìn. Như định nghĩa của “Tuý nguyệt” là ngồi đối trăng mà uống rượu cho say, như đã nói.

Nhưng, trong chèo cổ, ta còn có một vở chèo nổi tiếng, với nhân vật nữ chính là Xuý Vân (có khi được viết là Suý Vân) [từ sự biến âm s > x (như trong chữ Hán “sơ”初> chữ Nôm “xưa” 𠸗)] . Ta sẽ còn có dịp nói về sự biến âm này ở một đoạn sau. Ta có từ “cổ xuý”. Trong từ này thì “cổ” là cái trống, còn “xuý” (từ chữ “xuy”) có nghĩa là thổi. Như thế, “cổ xuý”, tiếng Hán Việt, có nghĩa là “đánh trống và thổi sáo (nghĩa bóng là vận động, hô hào cho một việc gì). Chèo Xuý Vân mà có trống với sáo như thế thì có lẽ cũng thích hợp?

Nhưng, cũng có thể hỏi: Xuý/Suý Vân [5] có phải từ Thuý Vân mà ra hay không?

Tất cả những đoạn bàn về ý nghĩa của Thuý Kiều, Thuý Vân ở trên chỉ là để thử tìm hiểu những ý nghĩa có thể có về tên nhân vật, nếu thật sự chúng ta muốn tìm hiểu ý nghĩa của những tên riêng ấy. Dù sao, tôi nghĩ, tất cả Thuý Kiều, Tuý Kiều, hay Thuý Vân, Tuý Vân, rồi Xuý/Suý Vân đều chỉ là do vấn đề biến âm mà ra.

Trong hệ thống ngữ âm Việt thế kỷ XVII, ta có những tổ phụ âm đầu mà chữ Việt hiện đại không còn dùng, như bl-, pl-, ml-, tl-, v.v… Đây là những phụ âm kép được ghi nhận rõ ràng trong Từ điển Annam-Lusitan-Latinh (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum),còn gọi là Từ điển Việt-Bồ-La, do giáo sĩ Alexandre de Rhodes soạn, góp phần định chế chữ Quốc ngữ. Những tổ hợp phụ âm đầu này, qua dòng lịch sử, đã biến đổi để cho ta những phụ âm đơn như chúng ta hiện có trong tiếng Việt. Chúng đã trải qua một quá trình biến đổi ngữ âm.

Trong tiếng Việt, ta có một tập hợp các loạt từ sau đây, mang ý nghĩa gần gũi, hoặc rõ ràng là có liên hệ về mặt ý nghĩa với nhau, cho dù chúng có thể mang những sắc thái có thể được biện biệt, phân tích trong những ngữ cảnh khác biệt. Chúng có liên hệ với nhau về ngữ nghĩa và về mặt ngữ âm lịch sử. Ta hãy xét tập hợp này: lòi, tòi, thòi, tròi, thòi lòi. Và tập hợp này: thụt, tụt, sụt, trụt, rụt. Ngoài ra, ta còn có cặp đôi thiến / xén. Những loạt từ, hay những cặp đôi như thế, cho ta thấy chắc chắn có một sự biến đổi về mặt ngữ âm.

Về loạt thụt, tụt, sụt, trụt, rụt, nhà nghiên cứu Vũ Đức Nghiệu giải thích: “Trong Từ điển Annam-Lusitan-Latinh không ghi nhận hình thái * tlụt, nhưng các hình thái trụt, rụt, sụt, tụt, thụt gợi ý cho chúng ta khôi phục hình thái gốc * tlụt và hình dung sự biến đổi ngữ âm dẫn đến hình thành nên chúng như sau: * tl- của * tlụt biến đổi thành / ƫ / cho ta trụt. * tl- cũng có thể rụng l- cho ta hình thái tụt. Âm đầu t- ở tụt có thể bật hơi hóa thành / tʻ/ và cho ta thụt. Âm đầu / ƫ / của trụt có thể biến chuyển sang / ȿ / theo kiểu của (gà) trống - (gà) sống, (con) tráo - (con) sáo, (cái) trẹo - (cái) sẹo, trượt - sượt …cho ta hình thái sụt. Đến lượt mình, / ȿ / của sụt có thể biến chuyển sang / r / theo kiểu của sờ - rờ, sầu - rầu… và cho ta hình thái rụt.” (Biến đổi ngữ âm lịch sử với việc tạo từ tiếng Việt, VĐN, 2016).

Ngoài ra, ngữ liệu văn học thời sơ khai của chữ Quốc ngữ cho biết là vào ngày 13 tháng 7, 1626, trong một lá thư của linh mục Francesco Buzomi gửi cho linh mục Mutio Vitelleschi, cách ghi âm bằng Quốc ngữ của từ “Thượng Đế”“Xán tí’. Ngoài ra, từ “Thiên chúa” (hay “Thiên chủ) được ghi là “Thiên chu”. Như thế, có nghĩa là, vào thời đó, có thể thấy là hệ thống ngữ âm tiếng Việt vẫn đang trên đường biến đổi. Ở đây, ta thấy, có chỗ phụ âm kép th- được ký âm x- (Thượng Đế / Xán tí); nhưng lại có chỗ nó vẫn được ký âm là th- (Thiên chu / Thiên chũ = Thiên chúa). Ngoài ra, trong cặp đôi thiến / xén đã nói tới ở trên, ta cũng có một sự biến âm từ th- sang x- . 

Qua những phân tích và ngữ liệu vừa trình bày, ta có thể thấy từ “Thuý Kiều” có thể được ký âm đúng như thế, với âm th- cho “Thuý”. Do việc biến âm, nó cũng có thể được ký âm là t- , để thành “Tuý”. Một bản Kiều bằng Quốc ngữ khác, do Phạm Kim Chi, cũng là một dịch giả người miền Nam, phiên âm và chú giải, được đặt tựa đề là “Kim Tuý Tình Từ”. Chuyện tình của Kim Trọng và Tuý Kiều. Ở đây, như trong cách phiên âm của Trương Vĩnh Ký, “Thuý” cũng được chuyển thành “Tuý”. Sự biến âm lại có thể đưa đến việc ký âm x- / s- cho “Thuý” để thành “Xuý/Suý”. Hoặc, có khi, mọi thứ đi theo chiều ngược lại. Đầu tiên, “Thuý” được đọc là “Xuý” (theo cách Xán-tí = Thượng Đế); sau đó, âm /s/ (⟨x⟩) của “Xuý”được chuyển thành /t/ , “Xuý” thành “Tuý”; rồi âm /t/ bật hơi để thành / tʻ/ , “Tuý” thành “Thuý”. Thật sự, từ “Tuý”, là “say”, viết với bộ dậu, theo từ điển chữ Nôm của Trần Văn Kiệm, ngoài âm “tuý”, còn được phát âm là “suý”. 

Đó là con đường ngoắt ngoéo của biến đổi ngữ âm. Chỉ qua một tiến trình phục dựng âm, hoặc phân tích con đường đi của âm, người ta mới có thể tìm ra và xây dựng được những quy tắc biến đổi ngữ âm. Sự biến đổi đó mang tính lịch sử. 

Xin được trở lại với những đoạn giới thiệu truyện Kiều của Trương Vĩnh Ký. 

* Trong đoạn đầu, “Đời Gia tĩnh nhà Minh, có họ Vương làm quan viên ngoại, sinh được ba đứa con, con út trai là Vương quan, con đầu lòng hai đứa gái Túy kiều vuối Túy vân, hai gã nhan sắc đẹp đẽ xinh tốt quá chừng, lại thêm học hành thông minh, lịch sự đủ đều, cầm, kì, thi, họa chẳng thua ai. (…)”, ta thấy TVK gọi Kiều và Vân là “hai gã”. Chúng ta chắc cảm thấy lạ. Nhưng, trong chữ Nôm, chữ 妸 , với bộ “nữ”,được dùng để phiên âm cho cả hai chữ “ả” (“cô ả”) và “gã”. Nó có dị thể là 婀. Câu 15 của Truyện Kiều: “Đầu lòng hai ả tố nga”, có bản chữ Nôm viết là “ 頭弄𠄩婀素娥”. Chữ “ả”, ở đây, viết theo lối dị thể, 婀. Còn bản phiên âm của Nguyễn Quảng Tuân viết là “頭𢚸𠄩妸素娥” , tức theo lối bình thường, 妸. Câu 805, “Chẳng là gã Mã Giám Sinh”, theo phiên âm cũng của Nguyễn Quảng Tuân, viết là: “拯罗妸馬監生”. Ta thấy, chữ “gã”,妸, được viết giống như chữ “ả”.
Như vậy là, ngày xưa, trong tiếng Nôm, “gã” có thể được dùng để chỉ cả nữ và nam. Sau này, “gã” mới được dùng để chỉ một người đàn ông nào đó với ý coi thường. Có lẽ cũng giống như từ “mỹ nhân”. Đầu tiên, nó được dùng để chỉ một người đẹp, dù là nữ hay nam; sau này, nó mới được dùng để chỉ riêng cho phái nữ. Để chỉ định rõ hơn, người ta dùng từ “mỹ nữ” cho nữ giới và “mỹ nam” cho nam giới. Cũng thế, từ “thanh niên”, lúc đầu chỉ có nghĩa gốc là “tuổi xanh”, chỉ chung những người tuổi trẻ, bất luận là nam hay nữ. Sau này, nó mới có khuynh hướng được dùng để chỉ riêng cho phái nam. Và, cũng để phân biệt, có những chỗ người ta dùng rõ ràng là “thanh nam” và “thanh nữ” để xác định. 

Trong tiếng Anh cũng vậy. Xưa, người ta dùng “man”, “men” để chỉ chung con người. Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ (Declaration of Independence), Thomas Jefferson viết là: ““We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness” (“Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng Tạo Hoá đã ban cho họ những Quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được Sống, quyền được Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc”). Không phải khi viết “all men are created equal”, Jefferson (và các tổ phụ đầu tiên của nước Mỹ) chỉ nói đến nam giới mà bỏ qua nữ giới. Không, họ bao gồm tất cả những con người trong cuộc sống. “Man” hay “men” chỉ là một lối dùng ngày xưa để chỉ con người. Bây giờ, tiếng Mỹ phân biệt rõ hơn. Ta có man (men) woman (women). Nhưng ngày xưa khác. Trong cụm động từ/động ngữ “to man something” trong tiếng Mỹ, “man” ở đây là một transitive verb, một tha động từ, đòi hỏi một túc từ theo sau. Nó có nghĩa là “to work at a place or be in charge of a place or a machine; to supply people to work somewhere” (“làm ở một nơi nào hay có trách nhiệm tại một một nơi/một chỗ nào đó, hay giữ việc điều hành một cái máy; hoặc đưa người đến làm việc ở đâu đó”). Như trong “We need someone to man the switchboard.”, hoặc “Soldiers manned barricades around the city.”, hoặc “The telephones are manned 24 hours a day by volunteers.”

Hiện tại, người Mỹ vẫn còn dùng cụm động từ này, cho dù điều ấy làm một số người có sự “nhậy cảm” về ngôn ngữ không vui lắm. Thay vào đó, như thế, những người này sẽ dùng những động từ khác như operate, activate, actuate, staff, crew, v.v… Người Mỹ còn có một cụm động từ (phrasal verb) khác có chữ “man” là “man up”, có nghĩa là “to start being brave or strong in order to deal with a difficult situation” (bắt đầu trở nên can đảm hay mạnh mẽ để đối phó với một tình huống khó khăn). Chẳng hạn như: “He should man up and tell his boss what he really thinks.” , hay “Lina actually melts if she tries to man up against them.”, hay “Today, though, she couldn't decide whether she wanted to pretend the kiss hadn't happened and go about business as usual, or if she should man up, seek him out and have the conversation so they could acknowledge it and move on.”, hay “Sarah Palin needs to 'man up' if she's going to run” (tựa đề một bài báo của tờ The Washington Post).

Trở lại với cách viết “An Nam ròng” của cụ Trương Vĩnh Ký. Vậy thì “gã” có thể được chỉ cho cả trai và gái, cả nam và nữ. Từ cách gọi này, ta cũng có thể để ý đến các từ như hắn, cậu, va, y, v.v… Hiện nay, người Huế vẫn dùng chữ “hắn” để nói về một người nữ. Còn con gái Bắc, trong những câu chuyện thân tình, vẫn có thể gọi nhau là “cậu”. Chữ “va” (một từ thuần Nôm) ta sẽ nói ở dưới. Chữ “y”, một từ Hán, có nghĩa là “ấy, người ấy” (Hán-Việt TĐ, Đào Duy Anh), mang nét trung tính, gần như chữ “bỉ” (kia, người kia; “bỉ thử”: cái kia, cái này, hay người kia, người này). Đôi khi, ta thấy người ta dùng “y ta” để chỉ cho cả nam lẫn nữ. Nếu muốn kỹ, nhấn mạnh là nữ, người ta dùng “y thị.”.

*Bây giờ, ta nói về mấy chữ “va”, “chị va”. Ta hãy xem lại đoạn văn tóm tắt chuyện của Trương Vĩnh Ký:
“Cách ít bữa tới ngày ăn lễ sanh nhựt ông ngoại Túy kiều, cả hai ông bà và hai em Túy kiều đều đi, để chị va ở nhà coi nhà. Chị ta ở nhà một mình thong thả, đeo đồ vào đánh áo đánh quần, đóng cửa, ra phía sau, tuốt qua nhà Kim trọng. Leo qua gặp Kim trọng dắc vào nhà, ở đó trò chuyện, làm thơ, làm phú, đánh đờn đánh địch, thề nguyền với nhau cho một ngày một đêm; khuya lại Kim trọng muốn xáp việc, mà va không cho…” (Chú ý: Tôi giữ nguyên phần chính tả và lối viết xưa của TVK)

Từ [6]“va”, trong Việt Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tịnh Của, định nghĩa là “người ấy, nó” (ngoài nghĩa là “đụng vào”); và “chàng va” là “chàng ta, gã ấy, người ấy”, “chú va” là “chú ta, chú nghỉ”, “nhà va” là “nhà ta, nhà gã, gã ấy”, và “chị va” là “chị ta, chị ấy”. Như thế, vào thời Trương Vĩnh Ký và Huình Tịnh Của, từ “va” được dùng chung, trung tính, và là một đại danh từ ngôi thứ ba, số ít. Khi xác định rõ hơn, như trong “chị va” mà TVK đã dùng thay đổi với “chị ta” ở đoạn trích văn trên, nó xác định rõ cho phái nữ. Nhưng “va” không thì có thể dùng chung cho cả hai phái.

*Về từ “lịch sự” mà TVK dùng để chỉ hai chị em Kiều và Vân, ĐNQATV giải thích “Lịch” là chữ Hán, có nghĩa “trải qua, tầng trải”; còn “lịch sự” là “trải việc, đẹp đẻ (sic), xinh tốt”. Từ này hiện nay chúng ta sử dụng, dù vẫn còn mang dấu vết, ý nghĩa cũ, nhưng cách dùng và sắc thái của từ phần nào đã khác đi. Chúng ta không dùng từ “lịch sự” để khen một người con gái xinh đẹp, tươi thắm nữa. Giờ đây, tiếng Việt có nhiều từ khác. Nhất là đối với giới trẻ.
*Trong câu “[K]huya lại Kim trọng muốn xáp việc, mà va không cho…”, thì “va” ở đây chỉ Thuý Kiều. Kiều đã nghiêm nghị mà từ chối thái độ, hay lời “đề nghị khiếm nhã” (“Indecent Proposal”, tên một cuốn phim nổi tiếng của Mỹ đầu thập niên ’90, với Robert Redford và Demi Moore) của chàng Kim. 
“Xáp việc”. Chữ nghĩa đến là hay! Có phải là động ngữ này được dùng để viết tắt cho nguyên cụm “xáp (đến mà làm) việc” ? Mà “làm việc” gì? 

*Trong đoạn từ câu 497 đến câu 504: Hoa hương càng tỏ thức hồng, Đầu mày cuối mặt càng nồng tấm yêu. Sóng tình dường đã xiêu xiêu, Xem trong âu yếm có chìu lả lơi. Thưa rằng đừng lấy làm chơi, Giẽ cho thưa hết một lời đã nao. Vĩ chi một đoá yêu đào, Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh. (Các dị bản của những từ in đứng: Chiều, Rẽ, Vẻ chi).
Đây chính là đoạn mà cụ Trương nhắc đến chuyện Kim Trọng muốn “xáp việc”. Nguyễn Du không xác định chủ từ của những đoạn thơ này, nhưng người đọc theo dõi mạch chuyện thì hiểu ngay. Nguyễn Lượng, trong một bản Kiều Nôm, nói về chuyện “lả lơi” này, đã bình: “Đăng hạ mỹ nhân, cầm thanh liêu loạn. Tình tự tương hà dĩ kham! Tình cảnh nhược hiện.” (Người đẹp dưới đèn, tiếng đàn khêu gợi. Sao cầm lòng cho được! Tình cảnh như hiện ra sống động.)

*Trương Vĩnh Ký chú “giẽ” là (hượm), khoan đã, thủng thẳng. Còn dị bản “rẽ” cũng có thể nói là “rỉ”, có nghĩa, là “xin”, “hãy”. “Rẽ cho” có nghĩa là “xin cho”, “hãy cho”, nói một cách dịu dàng. Trong cụm “Giẽ cho”/”Rẽ cho”, ta thấy có sự biến âm gi > r (chuyển từ bl- , như trong blải > giải/rải, trải (tổ hợp phụ âm đầu này (bl-) được ghi nhận trong Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes). Một bản Kiều khác chú thích “Rẽ cho”: rẽ ra cho, xê ra cho. Có bậc thức giả cho rằng cả truyện Kiều xây dựng và đứng vững trên một chữ “rẽ”. Giả sử lúc đó Kiều không nói được như thế, không giữ được thái độ nghiêm trang, và chiều theo ý Kim Trọng, thì đời Kiều đến đấy là xong. Nguyễn Du không còn xây dựng được gì thêm về tính cách và con người đáng quý của Kiều nữa. Vậy thì khi nói đến chuyện chàng Kim đòi “xáp việc” ở đây, ta phải nhớ đến cụm “Giẽ cho”/”Rẽ cho” của Kiều. Chính cụm từ này, cho thấy thái độ của Thuý Kiều, mới làm cho Kiều và Truyện Kiều sống mãi!
*Chữ “chìu”,trong “Xem trong âu yếm có chìu lả lơi”, là biến âm /i/ > /iê/ của chữ “chiều”. Xin xem phân tích về sự biến âm này ở một đoạn dưới. 
*Về từ “Vĩ chi” Theo Từ điển của Huình Tịnh Của, “vĩ chi” có nghĩa là “sá chi”, “quản chi”. Theo nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn, thì cách nói “Vẻ chi” tuy đã cổ nhưng vẫn quen thuộc; trước kia nữa , nó có dạng “vĩ chi” (xem Huình Tịnh Của”.
*Trong câu “Lạ chi bỉ sắc tư phong, Trời xanh quen với má hồng đánh ghen” ( Dị bản: Lạ gì, thói), thành ngữ Bỉ sắc tư phong được TVK chú bằng cụm Kia rít ấy chời. Được cái kia ít, thì cái ấy nhiều, không cân nhau bao giờ. Thành ngữ này liên hệ đến thuyết “Tài Mệnh tương đố” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. (Dù sao, có tác giả đã cho rằng Tố Như “đã dùng chữ “Nghiệp” của nhà Phật mà giải thích chữ “Mệnh” của Nho Giáo. [7]). VNQÂTV giải thích: “Chời” là có nhiều, dư ra (chính là chữ “đa” nói theo tiếng Triều Châu). “Chời tiền”: có nhiều tiền. Về chữ “rít”, ta được giải thích: Rít chịt, rít chằng, rít rịt: Rít quá, nhám nhúa; hà tiện quá. Suy ra: “rít” là ít; “chời” là nhiều. “Rít rịt”, sau, còn được nói là “ít rịt”. Cụm “bỉ sắc tư phong” đáng lẽ phải là “bỉ sắc thử phong”. Dùng “tư” thay cho “thử” để hợp bằng trắc. Từ thành ngữ “Phong vu tài nhi sắc vu ngộ”, nhiều tài năng thì ít gặp thời cơ. Từ “bỉ thử” cũng được dùng để chỉ sự so sánh bên này và bên kia, ta và người. Sau đó, nó được dùng như sự so sánh với ý xem thường người khác.
*Câu Nguyễn Du tả Thuý Vân: Vân xem trang trọng tót vời, Khuôn lưng đầy đặn nét người nở nang (So với các dị bản: Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.)
Trương Vĩnh Ký phiên âm là “ khuôn lưng” và “nét người”. Các bản Kiều khác phiên là “khuôn trăng” và “nét ngài”. Đây là vấn đề phiên âm, và là một đề tài đã được bàn cãi rất nhiều từ nhiều góc cạnh. Tôi sẽ không trình bày lại ở đây. Chỉ ghi nhận rằng hai chữ lưng trăng đều phát xuất từ chữ Nôm 𦝄. Có vị giải thích là nếu đọc là “lưng” thì phải biết bộ 月nằm phía trái là bộ nhục (thịt). Còn nếu đọc là trăng thì bộ 月nằm phía trái lại là bộ nguyệt (trăng). Tuỳ theo ngữ cảnh mà người đọc phải biết đó là “lưng” hay “trăng”. Nhưng câu thơ này chính là vấn đề, vì đọc cách nào cũng có cái lý của nó. Trong tìm hiểu của mình, tôi thấy Từ điển Trần Văn Kiệm ghi 𦝄 là trăng [cữ, giăng, lưng, răng], có nghĩa là mặt trăng, đi với bộNhục 宍,còn có dị thểlà肉. Còn trăng đi với bộ “nguyệt” 月sẽ viết khác. Là 𣎞.Như thế, theoTừ điển Trần Văn Kiệm, ta có thể suy ra là 𦝄 có thể đọc cả hai cách. Là “trăng” hay là “lưng”. Và vấn đề, như thế, vẫn dậm chân tại chỗ, vì nó cho thấy chuyện ấy tuỳ vào người phiên âm muốn nhìn chữ 𦝄 như thế nào. Nó chứa bộ “nhục”, và đều có thể đọc là “lưng” hay là trăng”.

Còn hai chữ “ngài” và “người” cũng được viết với những bộ khác nhau. Chữ “Ngài” 𧍋viết với bộ “trùng” 虫liên hệ đến “nga mi” (蛾眉) , nghĩa là râu của con ngài, chỉ lông mày của người con gái đẹp, có nét cong vút và dài như râu con ngài. Chữ “ngài” này, dầu sao, cũng có những trường hợp dùng để chỉ cả lông mày đàn ông. Cụ thể là lông mày của Từ Hải, được xem là “ngoạ tàm mi” 臥蠶眉, nghĩa là lông mày giống hình như con sâu tằm ngủ, cũng được xem là một loại lông mày đẹp. Còn chữ“Người” 𠊚viết với bộ “nhân đứng” 人chỉ người. Trong các bản Kiều Nôm thì ngoại trừ bản Kinh đời Tự Đức 1870 viết là “nét người”, các bản còn lại viết là “nét ngài”. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng “người” và “ngài” là hai chữ có thể thay đổi cho nhau, để chỉ người, vì chữ “ngài” là cách phát âm cổ của chữ “người” [biến âm a > ươ, như trong nhà tràng > nhà trường; “nhà Thang > nhà Thương (bên Tàu); lên đàng > lên đường (“Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng/ Kiếm nguồn tươi sáng…- “Lên Đàng”, bài hát của Huỳnh Văn Tiếng & Lưu Hữu Phước”); nàng > < nường (“Mái nhà sàn thở khói âm u / Cô nường/nàng về để suối tương tư, ới chiều… - “Nương Chiều” của Phạm Duy”); v.v. ]. Từ điển Hán-Việt của Trần Văn Kiệm ghi: 𠊚Người [ngài], bộ nhân, là “người ta”. Như vậy, “người” còn có thể được đọc là “ngài”. Và, trong ngữ cảnh nói về Thuý Vân, đó là vấn đề. Nguyễn Du tả thân hình nàng Vân hay khuôn mặt của nàng?

Phiên âm như của cụ Trương (chắc hẳn theo bản Kiều Nôm đời Tự Đức) là nhắm đến việc miêu tả vóc dáng, thân hình của Thuý Vân. Còn phiên âm theo các bản Kiều khác là chỉ nhắm đến khuôn mặt của Vân. Nhạc sĩ Phạm Duy, khi phổ thơ Kiều, có lẽ thích “khuôn mặt” hơn “khuôn lưng”, và thích “nét người” hơn là “nét ngài” của nàng Vân, nên đã chọn trung dung là “Khuôn trăng đầy đặn, nét người nở nang”. Quan niệm thẩm mỹ của thời Nguyễn Du, và của chính cụ Tiên Điền, về nét đẹp của người phụ nữ không chắc có giống như chúng ta ngày nay. Nàng Mona Lisa trong bức tranh cùng tên (hoặc mang tên La Gioconda, hay La Joconde) của Leonardo da Vinci trong thời Phục Hưng Ý biểu hiện cho một nét thẩm mỹ về phụ nữ khác với những gì con người cho là đẹp thời hiện đại. Vậy thì “Lưng” hay “trăng”, và “người” hay “ngài”? Có lẽ ta phải để lửng câu hỏi đó ở đây.

*Câu “Gương thu thuỷ, vít xuân sơn”. Trương Vĩnh Ký giải thích câu này là từ thành ngữ “Nhãn hoành thu thuỷ, mi tợ viễn sơn”: Con mắt trong như nước mùa thu, chang-mày như hình núi coi xa. “Chang mày” là “lông mày”. Trong câu này có cụm “vít xuân sơn”. Từ điển cho biết: Vít tích = dấu tích (từ “Đại Nam Quấc Âm Tự Vị” của Huình Tịnh Của). Vậy, “vít” bây giờ là “vết”, “dấu”, “nét”. Biến âm i > ê. Các dị bản khác phiên thành ““Làn thu thuỷ, nét xuân sơn”. Trong Kiều của TVK, ta cũng có câu “Vít giày từng bước in rêu rành rành”. Vậy “Vít giày” là “Dấu/Vết giày”.
*Câu “Dập dều tài tử giai nhơn”(dị bản: Dập dìu) có biến âm ngược lại: ê > i. Còn biến âm â > ơ thì ta thấy thường xuyên trong phương ngữ Nam bộ, như “nhân” > “nhơn”, “chân” (cẳng) > “chơn” (cẳng), “chân” (thật) > “chơn” (thật). Nhưng (mấy) “lần” thì có khi được chuyển thành (mấy) “bận”. Gần gũi với biến âm này, còn có uy > ơ, như trong “đi quyền” > “đi quờn”, hoặc a > ơ, như trong “căn cớ”/”căn cứ” > “cơn cớ”. Đặc biệt, người miền Nam có thể nói và viết “nhơn dân”, chứ ít khi viết là “nhơn dơn”, mặc dù điều này không phải không có.
*Câu “Cung thương làu bậc năm âm” (dị bản ghi “ngũ âm”). TVK giải thích năm âm là cung, thương, giác, trỉ, võ (dị bản: cung, thương, giốc, chuỷ, vũ). 
Biến âm qua lại tr > < ch, từ trỉ sang chuỷ, do tr > ch, từ Hán sang Nôm: (trĩ 豸> chạy 𧼋), hoặc do ch > tr ( chư 諸> trưa 𣌆). Trong chữ Quốc ngữ, ta cũng có cặp trệch > < chệch. Biến âm a > ô, từ giác sang giốc (nguyên âm giữa thành nguyên âm sau). Trong tiếng Việt, ta cũng thấy có biến âm o > u (nguyên âm sau, mở > nguyên âm sau, đóng), do khác biệt phương ngữ Đàng Trong và Đàng Ngoài, hoặc do sự kỵ huý: (họ) Võ > (họ) Vũ; hoặc oa > uy, như trong (họ) Hoàng > (họ) Huỳnh.

*Câu “Ym niềm (hay là iêm-liềm) trướng xủ màn che” (dị bản:Êm đềm trướng rủ màn che). Ở đây, ta có Y/iê > < ê (như trong điều > < đều / Trải qua một cuộc bể dâu, Những đều trông thấy đã đau-đớn lòng - TVK).
Về “ym niềm”, hay “iêm liềm” (so với “êm đềm”), trong đó có hai sự biến âm Y/iê > < ê và l > đ. Có thể đây chỉ đơn giản là cách phát âm thời đó, hoặc phần nào mang tính phương ngữ. Ta có thể so sánh, ở một mức độ nào đó, biến âm l > d, hay d > l, này giống như trong cách phát âm của khá nhiều người Hoa, đặc biệt đối với ⟨r⟩(và, nhiều khi, cả với ⟨đ⟩ ). Âm “rờ” (và nhiều khi cả âm “đờ”) thường có khuynh hướng biến thành âm “lờ”: Họ nói “lichợ Tết”, thay vì “đichợ Tết”; hay thay vì nói “fried rice” (cơm chiên”), lại nói thành “fly lice” (“con ruồi con rận”). Chỉ vì trong tiếng Hoa không có âm “rờ”. 

Ta cũng nhận thấy có biến âm x, s > r ở đây, như trong sờ (soạng) > rờ (rẫm), sầu (đời) – rầu (đời), đưa đến trướng xủ = trướng rủ. 

*Để giới thiệu các câu từ 39 đến 50, Trương Vĩnh Ký đề tiểu tựa: “Ba chị em đi ăn thanh minh”. Trong Truyện Kiều, ta được cho biết về dịp lễ này: “Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”, người người đi viếng mộ ngay vào ban sớm, dẫm lướt trên cỏ xanh. Dù TVK giới thiệu là “Ba chị em đi ăn thanh minh”, ta không thấy Nguyễn Du tả chị em Kiều “ăn uống” gì. Chắc chắn là cũng phải “ăn uống” đôi chút, nhưng cụ Tiên Điền không để ý đến chuyện ấy. 
Trương Vĩnh Ký trình bày câu truyện có lớp lang, từng cảnh, từng đoạn, dùng ngôn ngữ bình thường của xã hội, như của một người kể chuyện, dẫn chuyện, mục đích là để giới thiệu một câu truyện hay, qua đó, giúp cho người dân học tiếng, học chữ Quốc ngữ. Lời ăn, tiếng nói, cách đưa dẫn, như lối nói, lối kể truyện thân mật. Cách dùng chữ “ăn” này, đặc biệt, của người dân miền Nam, có thể phần nào phản ánh sự phong phú, màu mỡ của đất đai xứ Đàng Trong, và đời sống dư dật của người dân xứ này. Nhưng, nếu xét rộng ra, ngôn ngữ Việt có rất nhiều từ ngữ đi với chữ “ăn”, và những từ ngữ này có nguồn gốc và được sử dụng khắp đất nước, không chỉ riêng ở miền Nam. (Tác giả bài này, rất nhiều năm trước, cũng có dịp viết một khảo luận mang tên “Tết Nhất, nói chuyện Ăn”, 1983). Có người lại cho rằng điều này cho thấy người Việt bị “ám ảnh” bởi chuyện “ăn uống”. Ở đây, có lẽ cần phải có thêm những nghiên cứu sâu về mặt tâm lý và xã hội để xác định vấn đề. 

*Các câu “Ngày xanh mòn mỏi má hồng phui pha” (dị bản: phôi pha), và (“Ông tơ ghét bỏ chi nhau?) Chưa vui sum-hiệp đã sầu chia-phui” (dị bản: chia phôi). 
Ở đây, chúng ta có biến âm ui > ôi. Thay vì phát âm và viết là “tôi”, có những người miền Nam phát âm và viết là “tui”. Hoặc, từ “côi cút” viết theo lối cổ trong Nam là “cui cút”. 

*Trong câu, “Kiều rằng những đứng tài hoa (Thác là thấy phách còn là tinh anh)” (dị bản: đấng), ta có biến âm ư > â.
Biến âm này có thể thấy được rõ hơn nữa trong những ngữ liệu sau:

“Khi ấy có mấy vị sư đương ngồi ở trai đường với nhau, bỗng thấy Trí Thâm ở đâu lập cập bước vào, mặt đỏ bầng bầng như nước tượng sơn son, thì ai nấy...“ (Truyện Thuỷ Hử, hồi 3). Có thể so sánh: đỏ bừng bừng / đỏ bầng bầng; nhà ba từng/ba tầng, v.v.

Một câu khác trong Kiều của TVK: “Vưng lời khuyến giải thấp cao” (dị bản:vâng, khuyên). Ta cũng có nét biến âm ư > â. Cũng thế là hai câu 351 và 352: “Đã lòng quân tử đa mang. Một lời vưng tạc đá vàng thuỷ chung”. Hoặc: “Hiên sau treo sẵn cầm trăng, Vội vàng Sanh đã tay nưngngang mày” 

Một câu khác, kể về việc việc cha mẹ và hai em Kiều đi ăn mừng sinh nhật của Vương viên ngoại, để Kiều ở nhà một mình:

“Ngày vừa sanh-nhật ngoại gia, Trên hai đường, dưới nữa là hai em. Tâng-bầng sắm-sửa áo xiêm…”(dị bản: Tưng bừng). Ở đây, có biến âm ngược lại: â > ư .

Hoặc “Chén mầng xin đợi ngày nầy năm sau” (dị bản: mừng).

Từ những ngữ liệu trên, ta có thể thấy có sự biến âm qua lại ư > â và â > ư (ư > < â).

*Về cụm từ “thấy phách” trong câu “Thác là thấy phách còn là tinh anh”, có những bản Kiều ghi là “thể phách”. “Thể phách”, xét chung, là thân xác. “Phách” còn được gọi là “vía”. Theo niềm tin dân gian, sau khi con người chết, thân xác bị huỷ diệt, thì phách (vía) dần dần tan rã. “Hồn”, là cái tinh anh, sẽ còn lại. Về cách phiên âm của mình, trong phần chú thích, Trương Vĩnh Ký ghi thành ngữ Hán-Việt “Tử kiến tinh phách” và giải là “Thấy vía người mất”. Ta hiểu rằng từ “thấy” của ông có lý do của nó.
*Về chữ “Quấc”, trong câu“Người quấc sắc, kẻ thiên tài” (dị bản: quốc sắc). Ở đây, ta có â > ô, sau phụ âm đầu qu-, ký âm /kw/ ( giống như trong cách viết của Huình Tịnh Của: Đại Nam Quấc Âm Tự Vị).
Phụ âm “cờ” [k] có hai chữ cái trong tiếng Việt để ghi âm. Đó là /c/ và /k/. “C” có thể đi trước các nguyên âm/nhị trùng âm dòng giữa và dòng sau, như ⟨a⟩ (cá), ⟨ă⟩(cắm sào), ⟨â⟩ (cấm đoán), ⟨ơ⟩ (lấy cớ), ⟨ư⟩(căn cứ); ⟨u⟩ (con chim cu);⟨ô⟩(lồm cồm); ⟨o⟩(nhảy lò cò); hay trước các nguyên âm đôi dòng giữa, như ⟨ưa~ươ⟩(cứa, cười, sợi cước), hoặc ⟨ua~uô⟩(con cua, cái đuôi, cái cuốc). Nhưng con chữ “c” không thể đứng trước các nguyên âm/nhị trùng âm dòng trước như ⟨i, y⟩, ⟨ê⟩, ⟨e⟩và ⟨ia~iê⟩. Con chữ “k”, ngược lại, có thể đứng trước các nguyên âm dòng trước, dù nguyên âm đó là đóng ⟨i, y⟩(sử ký/kí), nửa mở ⟨ê⟩(kể chuyện), và mở ⟨e⟩(xem ké). Nó cũng có thể đứng trước nguyên âm đôi dòng giữa ⟨ia~iê⟩(đàng kia, con kiến). 

Đối với âm “quờ”, ⟨qu⟩, ký âm /kw/,có một số nhà ngôn ngữ quan niệm rằng, trên nguyên tắc, nó không thể đứng trước các nguyên âm đôi dòng giữa, trong đó có ⟨ua~uô⟩. Không có *quua hay *quuô. Và như thế, sẽ không thể có “quốc” (như trong “tổ quốc”, “kiến quốc”, v.v…). Dù sao, “Qu” vẫn có thể đứng trước các nguyên âm hạt nhân như ⟨a⟩(qua), ⟨ă⟩(dao quắm), ⟨â⟩(quấn quít), ⟨ơ⟩(quơ tay), ⟨i,y⟩(qui, quy), ⟨e⟩(cái que), ⟨ê⟩(nhà quê). Bởi thế, cách viết “Đại Nam Quấc Âm Tự Vị” của Paulus Huình Tịnh Của là hợp lý. Và, cũng thế, cách viết “Người quấc sắc, kẻ thiên tài” của Trương Vĩnh Ký cũng có cái lý như thế. Dù sao, từ “quốc” hiện nay đã được tiêu chuẩn hoá, để khu biệt nó với từ “cuốc”.

*Về hai từ “chim bao”/”chiêm bao”, trong lời dẫn của TVK: “Đạm Tiên hiện chim bao cho Tuý Kiều biết Tuý Kiều cũng mắc số đoạn trường.” Ta lại có biến âmi > iê , như trong câu “Xem trong âu yếm có chìu lả lơi”, và trong câu 348: “Chìu (/ chiều) xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng.”
Tuy nhiên, về từ “chim bao”, trong Kiều của TVK, cũng có chỗ thấy ông viết là “chiêm bao”: (“Gió đâu trịch bức mành mành/ sịch.) Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao”. Vậy là ông sử dụng cả hai từ, qua lại lẫn nhau. 

Nhận xét: Biến âm tr > s (giữa “trịch” và “sịch”). Như trong (gà) trống / (gà) sống; và các từ mang tính phái sinh, chia sẻ về mặt ngữ nghĩa, như trượt / sượt, trụt / sụt, v.v. 

*Trong hai câu “Nguồn đào lạc lối đâu mà đến đây? Thưa rằng: thinh-khí xưa nay”, ta có Thinh/Thanh khí (i > a và a > i). Đây là một biến âm ta thấy rất thường giữa “trong Nam” và “ngoài Bắc”. 
Hai cặp chữ hay được thấy nhất là sanh/sinh và tánh/tính (nhưng người ta có thể nói tánh tình mà không thể nói *tánh tành. Cũng như hai nguyên âm giữa đóng ⟨ơ⟩và nguyên âm giữa nửa mở ⟨â⟩, ở một số từ, có thể dùng thay đổi cho nhau, đặc biệt trong hai phương ngữ Nam và Bắc, như “nhơn dân” và “nhân dân” (hoặc “nhơn dơn”, như đã nói, mặc dù hiếm thấy). 

Trở lại với biến âm i > a và a > i, ta để ý từ “Sanh” được dùng nhiều trong văn thơ Nôm cổ. Trong Kiều chẳng hạn: “Tan sương đã thấy bóng người. Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ. Sanh đà có ý đợi chờ. Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng.”. Ở đây, ta biết “Sanh” là “Sinh”, từ dùng để chỉ một chàng trai có học, ở đây chỉ Kim Trọng. Sanh/Sinh, a > i . Ngoài ra, cũng có dạng biến âm ngược lại, i > a, như trong “thinh khí”/”thanh khí” đã nói ở trên. Như thế, trong các trường hợp khảo sát, ta có thể viết là i > < a . 

Người ta nói và viết “thanh khí”, “học sinh” và “hy sinh” nhiều và thường hơn là “thinh khí”, “học sanh”, và “hy sanh”. “Thinh khí” mang một âm hưởng quá “cổ” và cũ. “Tiên sanh” và “môn sanh” cũng thế. Thậm chí, trong thời hiện đại, nếu dùng những từ “học sanh”, hay “hy sanh”, người ta cũng dễ có cảm giác “cổ”. Chưa kể là trong một vài trường hợp, nó còn được sử dụng phần nào có tính “đùa nghịch”. Như trong những câu hát của Ban AVT: “Báo đăng cô nữ học sanh. Cha mẹ nghiêm khắc cấm mình “phi-dê”. Giận đời vì thấy mình “quê”. Mua chai thuốc chuột đem về uống chơi…” . Hay trong câu “ca dao thời đại”: “Nếu không gọi chú bằng anh, Chắc là chú phải hy sanh cuộc đời”. Đời sống thì có thể có những đùa vui như vậy, nhưng, thật ra, ngôn ngữ là một quy ước, và nó cũng bắt nguồn từ tiếng nói, trong đó có tiếng nói của địa phương mà ta gọi là phương ngữ. Nó không có gì sai trong lời ăn tiếng nói của người dân. Về mặt chữ viết , đối với những từ, những âm cùng được chấp nhận là hợp chính tả/chánh tả, người ta có thể dùng thay đổi. Vấn đề là thói quen của từng thời kỳ, thời đại. Hay thói quen của vùng miền. Hoặc vì chính sách quy chuẩn hoá của chính phủ về mặt ghi âm, về cách viết trong các từ điển, sách vở.

*Ngoài những từ có sanh/sinh như vừa nói, ta còn có “bình sanh”/ “bình sinh”, “sanh tiền”/ “sinh tiền”, “sanh thời” /”sinh thời”. Và, đặc biệt, từ “sinh thì” (không có *sanh thì). “Thì” là “thời”, bởi thế, thoạt nhìn, ta có thể nghĩ “sinh thì” là “sinh thời” hay “sanh thời”. Thật ra, không phải như thế.
“Sinh thì” là một từ có một nghĩa đặc biệt đối với người theo đạo Công Giáo tại Việt Nam. Nó là một từ thường được chỉ lúc Chúa chết, trong các kinh nguyện và ngắm; mở rộng nghĩa ra, để chỉ khi một người có đạo qua đời. Gần như tất cả các từ điển tiếng Việt, trong đó có Từ Điển Hán Việt của Đào Duy Anh, Việt Nam Tự Điển của hội Khai Trí Tiến Đức, Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ, Đại Từ Điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên (của nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, in năm 1999), đều không có từ “Sinh thì”, chỉ có từ Sinh thời, Sanh thời, Sinh tiền, hay, có khi, Sênh tiền. Tất cả những từ vừa nói đều chỉ về giai đoạn còn sống của một người nay đã không còn nữa. Tuy nhiên, các từ điển do người Công Giáo viết như Từ Điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tịnh Paulus Của, Tự Điển của Pigneau de Béhaine cuối thế kỷ XVIII, Từ điển của Génibrel cuối thế kỷ XIX, Dictionarium Anamitico-Latinum của Đức Giám Mục Taberd xuất bản năm 1838, và trong nhiều văn bản Công giáo khác như Thánh Giáo Yếu Lý, Kinh Cầu Bảo Đàng Cho Kẻ Rình Sinh Thì, Ngắm 15 Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu,v.v., đều có từ “Sinh Thì”. Và từ này được hiểu là “chết”. 

Ta có thể nói nhiều và kỹ hơn về vấn đề ngữ nguyên của từ này, để hiểu tại sao lại có sự dùng từ “sinh thì” một cách đặc biệt như thế. Và ta có thể dựa trên các tài liệu ngôn ngữ đã có để trình bày vấn đề. Tuy nhiên, ở đây, tôi chỉ xin nói gọn. Chẳng hạn, Alexandre de Rhodes, trong Từ điển Việt-Bồ-La, giải thích: “sinh ascendo (lên), sinh thì ascensus hora (giờ lên)- đã sinh thì iam mortuus est (đã chết)...Chúng tôi mượn cách nói nơi người Lương dân, để chỉ ý nghĩa sự chết của người Ki-tô hữu như đi lên với Thiên Chúa”. “Sinh”, như thế, được hiểu là “lên”, là “chết”. Các phân tích ngôn ngữ cho biết người Tàu phát âm chữ “sinh” 生, theo nghĩa “sinh đẻ” hay “sống”, làshēng(giống giọng Bắc Kinh hiện tại). Và họ cũng phát âm chữ “thăng” 升, theo nghĩa là “(bay) lên”, y hệt như thế. Chính sự phát âm giống nhau như thế đã đưa đến một sự lộn nghĩa, hay trộn nghĩa. Nhưng cách sử dụng và giải thích từ “sinh thì” của Alexandre de Rhodes cho thấy ý hướng về một niềm tin tôn giáo. “Sinh thì” có nghĩa là “lúc chết”, là “thăng thì”, là “giờ lên”, “lúc (bay) lên (với Thiên Chúa)”. 

Ta cũng có thể xem đó là một lối dùng “uyển ngữ”, nếu không xét đến niềm tin kia. Dù sao, tôi nghĩ, nếu nhìn theo hướng thần học Công Giáo, thì đối với người tín hữu, chết tức là giây phút sống thật. Là lúc được trở về nhà Cha, trở về với Thiên Chúa. Câu chúc “Felix Dies Natalis!” bằng tiếng Latinh, có nghĩa như “Happy Birthday” trong tiếng Anh. Trong ý thức về ý nghĩa của sự chết, giáo hội Công Giáo kính lễ các thánh, đặc biệt các thánh tử đạo, vào ngày họ mất, và ngày đó được gọi là “Dies Natalis”, ngày sinh. Ngày các vị được sinh vào Nước Trời, hay ngày các vị được trở về “quê thật”, về “cõi hằng sống”. Tinh thần này cũng 

được biểu hiện trong dụ ngôn Chúa Jesus rao giảng: Nếu một hạt lúa được gieo vào lòng đất mà không chết đi, nó sẽ trơ trọi một mình mà thôi; nhưng nếu nó mục rã và chết đi, nó sẽ sinh ra nhiều bông hạt khác. “Chết”, ở đây, được hiểu là chết cho những gì cao quý, tốt đẹp. Chết cho anh em, bạn bè, cho người khác, chết cho chân lý, trong tinh thần được Phúc Âm rao giảng. Sự chết, như thế, trong tinh thần và tín lý Công giáo, chính là sự sống đời đời. [8]

(Còn tiếp một kỳ)


Chú thích

(*) Vì thời lượng không cho phép, và cũng vì dành thời gian cho những câu hỏi và thảo luận, bài này được thu gọn lại trong buổi Triển lãm và Hội thảo Trương Vĩnh Ký. Đây là toàn văn bài thuyết trình.

[1] Từ năm 939, Việt Nam giành được độc lập, thoát khỏi ách thống trị của người Hán. Theo Nguyễn Thiện Giáp, trong bài “Chính sách ngôn ngữ tại Việt Nam qua những thời kỳ lịch sử”, thì: “Nhà Trần và các triều đại tiếp theo vẫn tiếp tục sự nghiệp của nhà Lí, cũng tổ chức học hành thi cử bằng chữ Hán, cũng sáng tác bằng chữ Hán. 

Thực tiễn lịch sử chứng tỏ rằng định hướng ngôn ngữ văn tự của các triều đại Việt Nam đã khiến cho sự tiếp xúc văn hoá-ngôn ngữ Việt-Hán phát triển. Hệ quả là:

– Việt Nam đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi lại tiếng nói của mình.

– Tiếng Việt đã tiếp thu các yếu tố Hán Việt và các yếu tố Hán Việt Việt hoá làm phong phú kho từ vựng của mình.

– Hình thành cách đọc Hán Việt, một cách đọc chữ Hán riêng của người Việt Nam.", 

và, dẫn theo bài của Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Tài Cẩn cũng cho rằng: “"Tri thức Hán học của người Việt ở giai đoạn Ngô, Đinh, Lê là một sản phẩm còn lưu lại của chế độ Bắc thuộc, còn tri thức Hán học của người Việt từ đời Lí trở về sau lại là sản phẩm của một sự định hướng có ý thức của một triều đình nước Việt độc lập. Sự định hướng này làm cho Việt Nam đi hẳn vào khu vực văn hoá Hán, đứng bên cạnh Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản. Về mặt ngôn ngữ, sự định hướng này làm cho tiếng Việt đi xa dần các ngôn ngữ bà con vốn cùng gốc Mon Khmer như mình: Mường, Poọng, Chứt, Cơtu, Bana, Môn, v.v."” (“Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn”. Nxb Giáo dục, H., 1998.). Như thế, chữ Nôm đã xuất hiện trong tiến trình phát triển ngôn ngữ dân tộc của người Việt.

[2] Có thể xem “Utahns who drop the T in words like 'mountain' not so unusual, BYU study says” của Mandy Morgan. https://www.deseretnews.com/article/865570211/Utahns-who-drop-the-T-in-words-like-mountain-not-so-unusual-Y-study-says.html

[3] Có thể xem thêm “Biến Đổi Ngữ Âm: Những Vấn Đề Lý Luận” của TS. Nguyễn Đình Hiền, trường Đại Học Ngoại Ngữ, Đại Học Quốc Gia Hà Nội. http://repository.ulis.vnu.edu.vn/handle/ULIS_123456789/914

[4] Xem phần Avant-Proposcủa Trương Vĩnh Ký ở đầu quyển sách. Xin ghi lại đoạn đầu: “Le poème que nous publions en quốc ngữ, est celui qui est dans la bouche de tous les Annamites, homes comme femmes, garçons comme filles. Il est le plus estimé, le plus goûtédes lettrés, des illettrés et même des femmes, à cause de la morale qu’il renferme, si bien expliquée, si heureusement présentée sous tous les rapports, si justement appropriée à toutes les circonstances de la vie humaine. (…)”

[5] Âm x, ký âm là / s / được gọi là âm xát xuýt chân răng, vô thanh, và âm s, ký âm / ʂ /, được gọi là âm xát quặt lưỡi, vô thanh. Theo Nguyễn Tài Cẩn (Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo). Nhà xuất bản Giáo dục, 1995), “trong phương ngữ miền Bắc s-đồng âm với x-, cả hai đều được phát âm là /s/.” Âm /ʂ/ đang dần biến mất khỏi phương ngữ miền Nam. Ngày càng có nhiều người nói phương ngữ miền Nam phát âm svà xgiống nhau, cả hai đều được phát âm là /s/ giống như phương ngữ miền Bắc.

[6] Có khi tôi dùng chữ“va”, có khi tôi dùng từ“va”, vì, như một trong những viên gạch khái niệm xây dựng ngành ngôn ngữ học hiện đại, “từ” (word) là một đơn vị cao hơn cấp bậc “hình vị” (morpheme) (vốn có khi được gọi là “tiếng”, “tiếng một”, hay “chữ”, trong tiếng Việt). Một từ có thể là một chữ, như đầu, mắt, cười, nói, khinh, trọng, v.v., là những từ đơn; nhưng nó cũng có thể bao gồm nhiều chữ, nhiều hình vị, như trong trường hợp của từ kép, từ láy, chẳng hạn như thanh niên, tiềm thuỷ đĩnh, sạch sành sanh, lấp lánh, nhi nhô, v.v. Một thí dụ giản dị trong tiếng Anh: boy (một từ, một hình vị); boyish (boy+ish, một từ, hai hình vị); và boyishness (boy+ish+ness, một từ, ba hình vị). 

Quan niệm của ngành ngôn ngữ học truyền thống của Âu châu cũng xem từ (word), chứ không phải “hình vị” (morpheme), là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Ngành ngôn ngữ học miêu tả (descriptive linguistics) của Mỹ, sau thời hoàng kim, đã bị phê bình vì xem hình vị là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Vì làm như vậy khiến cho ranh giới giữa hình thái học và cú pháp học không còn nữa, là không chú ý đến sự khác biệt giữa cái bộ phận và cái toàn thể. Nhà ngôn ngữ V.Z. Panfilov cho rằng “Hiểu lời nói là một chuỗi liên tục của các chiết đoạn hình vị, hình vị là “vật liệu” để xây dựng nên phát ngôn, là làm sai lệch bức tranh chân thực của quá trình giao tiếp bằng lời nói. Làm như vậy là bỏ đi tất cả những gì liên quan đến từ với tư cách “vật chứa” các ý nghĩa sự vật mà qua đó hình thành nên hệ thống ý nghĩa ngôn ngữ-xã hội.”, và nhà ngôn ngữ V.M. Solncev đã chứng minh “từ là một đơn vị bắt buộc phải có của mọi ngôn ngữ, còn hình vị chỉ là một loại đơn vị bất thường, có khi chúng mất đi, có khi chúng lại xuất hiện ở trong lịch sử ngôn ngữ. Từ là một đơn vị vĩnh hằng, bao giờ nó cũng có mặt trong suốt quá trình tồn tại của ngôn ngữ.” (dẫn theo “Những khác biệt trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn” của GS. TS. Nguyễn Thiện Giáp). 

Tiếng trong tiếng Việt thường được hiểu là âm tiết, về phương diện là một đơn vị có nghĩa. Trên chữ viết, mỗi tiếng được ghi thành một chữ. Hình vịcó hình thức cấu tạo của một âm tiết, tức là mỗi hình vị trùng với một âm tiết. Nó có vai trò như từnhưng nó không phải là từ, vì từ có thể bao gồm một hay nhiều hình vị (một hay nhiều chữ). Âm tiết, hình vị và từ là đơn vị của ngôn ngữ. Tiếng là đơn vị của lời nói.

Như thế, “va” có thể là một chữ hay một từ; nhưng “thiếu nữ”, “so sánh”, hay “nhanh nhẹn”, v.v., thì được quan niệm là một từ chứ không phải một chữ. Còn các chữ cái như a, b, c, d, v.v., thì có khi được gọi là “chữ cái”, có khi được gọi là “con chữ”.

[7] Xem “Tư tưởng Tài Mệnh trong Truyện Kiều” của Thanh Tâm, https://thuvienhoasen.org/a8361/tu-tuong-tai-menh-trong-truyen-kieu

[8] Xem Phúc Âm thánh Gio-An (John 12:24-25). Bài thánh ca “Hạt giống tình yêu” của linh mục Phương Anh được lấy ý từ lời rao giảng này. Lời kinh cầu nguyện của thánh Phanxicô thành Assisi (sinh năm 1182), trong đoạn cuối, cũng thể hiện tinh thần của cái chết, theo ý nghĩa “dies natalis”, như đã nói: 
“(…) O divine master grant that / I may not so much seek to be consoled as to console / to be understood as to understand / To be loved as to love / For it is in giving that we receive / it is in pardoning that we are pardoned / And it's in dying that we are born to eternal life.”

Lời dịch của linh mục Kim Long không thật sát mà mang tính uyển chuyển và mở rộng, là:
“(…) Lạy Chúa xin hãy dạy con: / Tìm an ủi người hơn được người ủi an / Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết / Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. / Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh / Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân / Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ / Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời…” 

André Gide, nhà văn nổi tiếng Pháp, nhận giải Nobel văn chương năm 1947, có cuốn tự truyện mang tính “tự thú” với tựa đề là “Si le grain ne meurt” (Nếu hạt lúa không chết đi). Tên của tự truyện này cũng lấy từ ẩn dụ của lời dạy trong Phúc Âm.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét