Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2018

Phan Thượng Hải: Chuyện Khôi Hài Cổ Điển Từ Petrus Ký


Chuyện khôi hài của nước Việt Nam ta xuất hiện và được truyền bá trong sách vởlà nhờ chữ Quốc Ngữ. Dĩ nhiên nó bắt đầu từ ông Petrus Trương Vĩnh Ký.Những câu chuyện khôi hài cổ điển bắt đầu được xuất bản thành sách lần lượt từ ông Petrus Ký, ông Phụng Hoàng San, ông Dương Diếpvà ông Thọ An Phạm Duy Tốn.

Những chuyện khôi hài cổ điển nầy được truyền khẩu "tam sao thất bổn" trong xã hội miền Nam lúc tôi còn nhỏ vào thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Những chuyện như "Thơ con cóc", "Nửa đêm gà gáy ó o" hay "Ăn cá rô cây" ... đã thấm vào đầu óc quần chúng nhưng ít người biết được nguồn gốc và nguyên văn của chúng.

Ngay cả khi đọc sách, tôi thấy có khi một câu chuyện có cùng một nội dung nhưng lại có nhiều hình thứcdiễn tả khác nhau bởi 4học giả nầy hoặc bởi các tác giả vô danh về sau và một vài câu chuyện của ông Petrus Ký có sai lầm nếu đối chiếu với sử liệu sau nầy.

(1)

Ở Nam Kỳ, ông Petrus Trương Vĩnh Ký xuất bản "Chuyện Khôi Hài" vào năm 1882. Chuyện khôi hài là chuyện có tác dụng gây cười, có thể trong dân gian hoặc trong lịch sử chính trị hay văn học.


Trước đó trong "ChuyệnĐời Xưa"của mình, xuất bản lần thứ nhất vào năm 1866, ông Petrus Ký cũng có một số chuyện khôi hài như chuyện "Bốn anh học trò đặt thơ trong chùa" và chuyện "Ba anh dốt làm thơ". "Chuyện Đời Xưa" là tên rút ngắn của “Chuyện đời xưa lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích”, tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ (năm 1866).

Đây là vài câu chuyện tiêu biểu trong "Chuyện Khôi Hài" của ông Petrus Ký:

KHẲNG KHÁI

(Petrus Ký)

Ông quan lão kia, người khẳng khái, ăn ngay ở thật lắm, oai cũng chả sợ mà dữ cũng chả lo, cứ ngay thẳng mà làm hơn. Ổng thấy ông vua hay tây tà,mới chuộng cũ vong, thì ổng tâu rằng: "Bệ hạ làm như người chất củi; cây nào sau thì để lên trên, cây nào trước thì cứ để nằm dưới chịu ẹp đó hoài, không cất đầu lên được".


ĐỐI THẦN LẦN VỚI KHÍ GIÓ

(Petrus Ký)

Từ nước Nam giao hòa và lần sau đây với nước Phú lảng sa, các anh văn thân ngạnh với vua, ghét đình thần, sao có hòa với Tây.

Ông Ngụy Khắc Đản làm bồi sứ đi Tây về, ra ngồi bố chánh (*) tỉnh Nghệ An, văn thân cắc cớ làm câu đối dán vách thành chơi rằng:

Bố đại thần, con đại thần! đại thần gì? Thần lần. (**)

Quân thấy lột đem vô, ông bố mới viết một câu mà đối lại như vầy:

Nay sĩ khí, mai sĩ khí! sĩ khí gì? Khí gió. (**)


(*) Bố Chánh = dưới Tổng Đốc, coi về hành pháp ở 1 tỉnh
(**) Thần lần = lần thần = có dáng vẻ đờ đẫn chậm chạp. Giọng người Trung âm giống như Thằn lằn.
(**) Khí gió = khỉ gió = con cu ly; từ ngữ dùng để rủa một cách thân mật khi bực bội.


ÔNG HUYỆN VỚI ÔNG ĐỒ

(Petrus Ký)

Có anh học trò thi đậu ông đồ ở đâu tới xứ chỗ ông huyện nhậm, ở dạy học, mà hay làm cách thể ông đồ lắm, đờn địch chơi bời phong lưu, ông huyện không ưa mới làm một bài thơ biếm chơi rằng:

Tú tài thi đỗ những khoa mô?
Làm tích trong nhà mặt tỉnh khôl
Con trẻ ngất ngơ kêu cậu cống
Mụ già nhóc nhách gọi cha đồ
Ngày dài đờn phím nghe inh ỏi
Buổi vắng thơ ngâm tiếng ầm ồ
Ai khiến tới đây làm bậy bạ?
Khen cho phổi lớn quá hơn bồ.

Ông đồ nghe được thì bộ (họa) như vầy:

Biển rộng minh mông dễ cạn mô?
Đố bay một gáo múc cho khô
Tuy chửa vẻ vang quyền cậu cống
Song đà tỏ rõ mặt ông đồ
Nhờ chút ơn Nghiêu nhuần phới phới (*)
Sá chi muông Chích sủa ồ ồ (*)
Căm loài thạc thử lòng tham chạ (**)
Đố khoét cho tao lúa hết bồ.

(*) Chó của đạo Chích sủa vua Nghiêu (vua thánh của Nho gia)
(**) Thạc thử=chuột lớn


CON HỌC TRÒ CỨU THẦY SÁU

(Petrus Ký)

Buổi kia ngoài Bắc, có Thầy già Sáu (*) kia bị kẻ ngoại bắt ngang trước cửa nhà có đạo. Chúng nó thộp ngực thầy ấy đang xắm rắm lo trói. Con có đạo ở trong nhà, đâu cũng mười bảy mười tám tuổi, thấy vậy nóng ruột tính mưu cứu. Vụt đâm đầu chạy đại ra, bớp thầy ấy cho một bạt tai. "Tôi đà có biểu ấy cứ ở nhà ru con thì xong, ai bảo đi đâu mà lờ khờ thế?". Nắm tay kéo lôi đi mất. Rồi ra nói: "Các cậu khéo nhè đứa dại đứa khùng mà bắt làm chi? Nó là chồng tôi, mà nó khờ dại quá". Chúng ngờ là thật, rã ra cả, rút nhau về.

(*) Tu đạo Thiên Chúa thì Thầy Sáu không được có vợ.


ANH KÌ CÀO

(Petrus Ký)

Lần kia Thầy Tư (đạo Thiên Chúa) về thăm nhà. Đâu lại gặp chị nằm bếp, mà yếu, ít sữa, lại không được sỏi cho mấy. Anh rể mới cậy" "Cậu chịu khó đi mướn giùm cho một vú". Ừ, biểu trẻ đưa quan tiền cột lưng. 

Ra đi tối ngày, ăn hết tiền, lơn tơn về. Anh rể mừng chạy ra hỏi: "Sao, mướn được vú hay không?". "Ối thôi! đi khắp cả cùng làng cùng xứ mà coi, mà coi thì người nào người nấy đều có hai vú cả, không ai một vú mà hòng mướn".


CÁ RÔ CÂY

(Petrus Ký)

Nghệ An là tỉnh rộng lớn đàng đất, lại đông dân sự hơn các tỉnh cả và nước An nam. Người xứ ấy hay co ro cỏm rỏm cần kiệm quá. 

Người ta thường hay nói người Nghệ An đi ra Bắc hay giắt lưng một con cá rô bằng cây khéo lắm. Hễ tới quán thì chỉ xin mua ít trự cơm mà thôi. Quán hỏi có mua đồ ăn, thịt đông, chả giò, nước mắm chi không? thì nói không, xin một chút xỉu nước mắm dầm cá mà thôi. Bỏ cá cây vô dĩa lật qua lật lại, húp cho mặn miệng mà trơu cơm ba miếng. Làm lận như vậy cho khỏi tốn tiền đồ ăn. Ăn rồi giắt cá vào lưng phủi đít ra đi.


NỬA TRỰ CƠM NỬA TRỰ CANH

(Petrus Ký)

Người kia ở trong nầy (*) ra Hà Nội, tới quán trong lưng rờ đà ráo túi may còn lại một đồng tiền bể hai. Anh ta làm điếm với bà mụ quán:

"mụ bạn cho tôi nựa trự cơm với nựa trự canh".

Mụ quán xúc cho. Anh ta đổ canh vô hết, và mà ăn, nhăn mặt lại:

"cha chà! mặn quạ, mụ làm phược cho thêm một tị cơm."

Trộn rồi ăn cũng chắt lưỡi:

"chừ lại lạt quạ, ăn chạ vô mô, mụ làm phược cho thêm chụt canh."

Ăn lua ba miếng chắc bụng, vạch hầu bao lấy hai miếng tiền sứt, đưa ra: Tịnh cho phân biệt nọ: đây nầy là nựa trự cơm, còn đây là nựa trự canh". Rồi bỏ đi liền.

(*) Đó là người Nghệ An; chuyện nầy tiếp theo chuyện "Cá rô cây". 
Từ chuyện nầy, ta thấy hậu sinh nghĩ sai về người Bắc kỳ?


TÚ SUẤT LẬT VÁY BÀ QUAN

(Petrus Ký)

Tú Suất là tay kì cào hay chơi lắt lở. Bữa kia, bà tổng đốc đi ngang qua trước phố; trời thì mưa lâm râm. Chúng bạn cắc cớ đố nhau, ai dám làm thế nào mà lật váy bà quan lớn chơi.

Anh ta chịu phóc lấy, lăng căng trong phố bước ra, lanh chanh trật chơn, bùn văng lên váy bà ấy. Lật đật chạy lại, miệng nói: "trăm lạy bà, con xin lỗi", tay cầm khăn xách quách cái váy lên làm bộ chùi lia, ban đầu còn thấp thấp, sau càng dở lên cao. Bà quan mắc cỡ lấy tay đùa xuống, nói rằng: Chả hề chi.


ÔNG CỐNG QUÌNH (*)

(Petrus Ký)

.........

Tàu sai sứ đem một cây gòn đẽo bào bằng gốc bằng ngọn, lại kéo sơn đôi ba nước, mất da mất thịt cây đi hết, ở giữa có đề hai chữ: Túc Tử. Đem qua đố An Nam biết là tên cây gì, lấy chữ đó mà bàn cho ra tên. Lại đố biết đầu nào gốc đầu nào ngọn.

Các quan hiệp nghị, mời Cống Quình tới hỏi: "Sao, ông tính nói cái ấy đặng hay là không?"

Cống Quình chịu, lãnh về nhà tính. Sáng ngày ra, vua ngự, lập ban cho sứ vào chầu, Cống Quình quì xuống tâu: "Chữ Túc là lúa, chữ Tử là con. Hễ là: còn lúa con ăn con no con mập, hết lúa con mòn con gầy: thì là cây gòn. Còn viết nói đầu nào gốc đầu nào ngọn, thì xin xuống mé sông tôi sẽ coi".

Vua quan cùng các sứ thảy đều xuống theo mà nghe nói. Dạy khiêng cây xuống. Ông Quình mới thả day ngang qua sông, thì nó phải day trôi theo giọt nước; đầu nào day trước ấy là đầu gốc.

.........

(*) Chữ "Quình" viết như vậy trong sách của ông Vương Hồng Sển thay vì là "Quỳnh".


Chuyện khôi hài của ông Petrus Ký rất sâu rộng. Thường là câu chuyện làm độc giả cười đối tượng trong chuyện nhưng ông còn cho thấy các đối tượng trong chuyện cười lẫn nhau. Cười không những là vui mà cười, nhưng còn cười vì những tình cảm khác. Đề tài gồm cả quốc gia (dân tộc, lãnh thổ và chánh quyền) và xã hội (kinh tế, tôn giáo, văn hóa, khoa học...). Trong câu chuyện, ngoài văn xuôi, ông còn dùng thơ và câu đối. Ông Petrus Ký còn tạo ra những nhân vật như Cống Quỳnh, Tú Suất...

Những tác giả về chuyện khôi hài (hay tiếu lâm) sau nầy đều không có được cái tài sâu rộng như ông Petrus Ký.

(2)

Từ ông Petrus Ký, ở Nam Kỳ có ông Phụng Hoàng San xuất bản "Chuyện Tiếu Lâm" (1912) và ông lại cùng ông Dương Diếp, cũng ở Mõ Cày, xuất bản "Truyện Tiếu Đàm" (1914). Chuyện tiếu lâm là chuyện cười trong dân gian.

Đây là 4 câu chuyện tiêu biểu của Phụng Hoàng San và Dương Diếp:


LÒ MÒ

(Phụng Hoàng San)

Có người kia vợ nằm bếp mà không có tiền mướn người nuôi, con em vợ mới qua nhà chị mà nuôi giùm. 

Ở trong nhà thì chật để được 2 cái chõng mà thôi. Anh ta có ý muốn em vợ, mới lần mò bò vô, rồi nghĩ biết mình làm chuyện quấy, thụt trở ra, bò tới, bò lui đôi ba bận. Con em vợ nó thấy mà không nói. 

Con vợ ngó thấy, ngắt thằng nhỏ khóc lên, rồi ru như vầy: 

“Ội ội! con ôi nín bú cho no; hỡi người quân tử, chớ bò đi đâu?”

Con em vô thấy chị mình ru như vậy, lại biểu chị mình đưa cháu cho tôi ru cho, rồi ru như vầy:

“Cháu ôi! hãy ngủ cho ngon; của dì dì giữ, ai bò mặc ai!”

Anh ta ở ngoài nghe, nột ý ứng tiếng lên, hát khan như vầy: 

“Đêm khuya gà gáy ó o, tao ngủ không đặng, tao bò tao chơi !!!”.


MỚI DỰNG KỆ

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp)

Vua Diêm Vương đau. Sai quỉ sứ lên rước thầy thuốc, dặn quỉ rằng: "Nhà thầy nào trước cửa không có ma là thầy hay".

Quỉ sứ lên đi từ sớm mai đến trưa, coi nhà thầy thuốc nào cũng nhiều ma. Thấy nhà thầy kia có một con ma mà thôi. Quỉ mừng vào hỏi thầy làm thuốc được bao lâu. Thầy rằng: "Tôi mới dựng kệ hôm qua!"

Ý là mới dựng kệ (*) hôm qua mà đà giết một mạng, phải vài ba năm, biết là bao nhiêu?

(*) Dựng kệ: ý nói mở phòng mạch.


THẦY THUỐC HAY

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp)

Một người kia vào tiệm thuốc, mua thuốc hưng dương. Uống rồi về nửa đường, thuốc mạnh nó cứng liền. Anh ta và cầm và nhảy lên nhảy xuống mà rằng: "Thiệt thầy thuốc hay! Thầy thuốc hay thiệt!!"


CŨNG CHẾT

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp)

Hai đứa dắt nhau ra bờ tre, trai gái với nhau.

Con gái hỏi thằng trai rằng: "Sao, anh thương tôi không?"

Trai rằng: "Tao thương mầy lắm chớ, như tao mà có bỏ mầy, cho tao chết đi!"

Trai hỏi lại: "Còn mầy có thương tao không?"

Cỏn rằng: "Tôi mới thương anh lắm chớ, như tôi mà có bỏ anh, thì cho tôi chết".

Có ông già ngồi sông (*) bên kia đường, nghe liền nói rằng: "Còn tao mà sông không đặng, tao cũng chết!!"

(*) Sông = ỉa


(3)

Cuối thập niên 1910s, ở Bắc Trung Kỳ có 3 Tập "Tiếu Lâm An Nam" của tác giả là Thọ An. Thọ An chính là Học giả Phạm Duy Tốn (thân phụ của Nhạc sĩ Phạm Duy). Ông Phạm Duy Tốn thuộc Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí.

Tiếu Lâm An Nam của Thọ An Phạm Duy Tốn có những chuyện mang nội dung giống với chuyện của Petrus Ký và của Phụng Hoàng San và Dương Diếpở Nam Kỳ.

Câu chuyện về bài thơ Con Cóc nổi danh được đăng trong sách của Petrus Ký và của Thọ An Phạm Duy Tốn:


BA ANH DỐT LÀM THƠ (*)

(Petrus Ký)

Có ba anh học trò dốt ngồi nói chuyện với nhau. Mới nói: Mình tiếng con nhà học trò mà không có làm thơ làm phú với người ta thì té ra mình dở lắm. Mấy người kia mới nói phải. Hè nhau làm ít câu chơi.

Anh thứ nhất thấy con cóc ở trong hang nhảy ra, mới làm câu mở như vầy: Con cóc trong hang con cóc nhảy ra. 

Người thứ hai tiếp lấy: Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó.

Người thứ ba: Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi.

Lấy làm hay lắm. Rồi nghĩ lại giựt mình, vì trong sách nói: Hễ học hành giỏi thì sau cũng phải chết. Cho nên tin như vậy mới biểu thằng tiểu đồng ra đi mua ba cái hàng đất để dành cho sẵn đó.

Tiểu đồng lăng căng đi mua, ghé ra quán uống nước ngồi xớ rớ đó. Có anh kia hỏi nó đi đâu? Mua giống gì? Thì nó nói: Ba thầy tôi thông minh trí huệ, làm thơ hay lắm, sợ lời sách quở, có khi không sống, nên sai tôi đi mua ba cái hòm.

- Mầy có nghe họ đọc thơ ấy không?

- Có

- Mà có nhớ nói lại nghe chơi, coi thử sức nó hay làm sao ?

Thằng tiểu đồng mới nói: Tôi nghe đọc một người một câu như vầy:

Con cóc trong hang con cóc nhảy ra

Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó

Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

Anh kia nghe tức cười nôn ruột, mới nói với tiểu đồng:

- Mầy chịu khó mua giùm cho tao một cái hòm cho luôn trót thể.

Tiểu đồng hỏi: Mua làm chi?

Lão nọ mới nói: Tao mua hờ để đó, vì tao sợ tao cười lắm, có khi cũng chết theo ba thầy làm thơ đó nữa.

(*) Chuyện nầy được viết lại đúng nguyên văn trong quyển "Chuyện Xưa Tích Cũ" của Sơn Nam. 


THƠ CÓC

(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có ba ông vẫn tự đắc là mình hay thơ nôm. Một hôm, rủ nhau đi chơi chùa, để cùng họa thơ tức cảnh. Nhưng mà đến chùa, không biết làm thơ gì; mới bảo nhau hãy đưa tiền cho ông Tự đi mua rượu và đồ nhắm về đánh chén đã: - Hễ rượu vào thì tự khắc thơ ra tuồn tuột! Mua về, ba ông ngồi bắt chân chữ ngũ, gật gù uống rượu, rung đùi nghĩ thơ. Chợt thấy con cóc ở trong xó, nhảy ra. Một ông mới ngâm rằng:

Con cóc trong hang,

Con cóc nhảy ra.

Ông thứ hai họa theo rằng:

Con cóc nhảy ra,

Con cóc ngồi đấy.

Ông thứ ba:

Con cóc ngồi đấy,

Con cóc nhảy đi.

Ba ông cùng vỗ đùi, cười ồ cả lên khen rằng: - Hay! hay! hay thật?

Cười chán rồi, một ông bảo rằng: - Thơ ta tuyệt cú! mà ta xuất khẩu thành chương như thế thì tôi e lắm, hai tiên sinh ạ. E rằng Thánh nhân người đã dạy: Ai mà linh khẩu lắm thì kẻo chết non. Vậy ta phải nên liệu trước.

Hai ông kia lấy làm phải lắm, bèn mời ông Tự ra, nói hết đầu đuôi; rồi đưa tiền nhờ mua hộ ngay cho ba cổ ván.

Ông Tự cầm tiền đi mua. Một chốc đem về bốn cái áo quan.

Ba ông hay thơ mới hỏi: - Sao mua những bốn cái thế? - Thưa các ngài, tôi mua thêm một cái để cho tôi, bởi vì tôi buồn cười quá, cũng đến chết mất.

Chuyện của Thọ An nói về ba người đi chùa làm thơ như trên cũng giống ý một chuyện về làm thơ khác của ông Petrus Ký:



BỐN ANH HỌC TRÒ ĐẶT THƠ TRONG CHÙA

(Petrus Ký)

Bốn anh học trò đi đường, ghé qua chùa chơi. Ngồi coi bạ bàn thấy tượng đồ treo thờ đó, mới rủ nhau làm ít câu thơ chơi.

Anh thứ nhứt, thấy tượng Quan Đế, thì mở rằng:

Hớn vương ăn ớt mặt đỏ gay

Anh thứ hai thấy tượng Quan Bình, thì đặt:

Bên kia Thái tử đứng khoanh tay

Người thứ ba ngó quanh quất, thấy tượng Châu Thương thì đặt:

Thằng mọi râu rìa cầm cái mác

Còn anh thứ bốn ngó ra, thấy con hạc đạp lưng qui, thì thêm:

Ngoài nầy cò quắm đạp cầy thay. (*)

(*) Cò quắm=cò có mỏ dài. Cầy thay=cần thay: đều là tiếng Miên nói trại, chỉ loại rùa lớn con.


(4)

Chuyện Tiếu Lâm của Phụng Hoàng San (và Dương Diếp) và của Thọ An Phạm Duy Tốn về sau có những đề tài với nội dung giống nhau (nhưng hình thứcdiễn tảkhác nhau).

Đây là 3 đề tài tiêu biểu:


* (Đề Tài 1)

GIẤU CÀY

(Phụng Hoàng San)

Một lão cày ruộng kia, tới buổi, vợ kêu về ăn cơm, lão nói lớn lên rằng: - Khoan đã! Để tao dấu cái cày đi đã rồi sẽ về. Vợ dặn: Giấu cày thì phải làm thinh, chớ ông la lớn chúng nghe nó ăn cắp đi còn gì? Từ rày sắp lên đừng có nói lớn như vậy nữa.

Về ăn rồi trở ra thì quả thật chúng đã lấy mất cái cày. Lão lật đật chạy về giõ miệng vào lỗ tai vợ mà nói nhỏ rằng: - Họ ăn cắp cái cày rồi mụ ạ!


ÔNG GIÀ THẬT THÀ

(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có một lão già thật thà quá. Một hôm cày ruộng ở ngoài đồng. Đến bữa cơm, bà vợ ra cổng đứng gọi to rằng:

- Ông ơi, cơm chín rồi, đi về mà ăn.

Ông lão cũng nói to rằng:

- Ừ, để tôi giấu cái cày vào trong bụi tre đã, rồi tôi về.

Đến khi về, vợ bảo chồng:

- Giấu cày thì cứ im mà giấu; sao ông lại kêu rống lên thế, người ta biết, người ta có lấy mất không? Từ rày giở đi, ông đừng có nói to thế nữa nhé!

Ông lão gật đầu:

- Ừ, từ rày tôi không nói to nữa.

Ăn cơm xong, ông lão giở ra đồng, vào bụi tre tìm cày thì không thấy cày đâu nữa, người ta ăn cắp mất rồi.

Vội vàng chạy về, ghé mồm vào tai vợ mà nói rằng:

- Người ta ăn cắp mất cái cày rồi, bà mày ạ!


* (Đề Tài 2)

THUỐC TRỒNG RÂU

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp)

Người kia không râu, giận mình không phải đứng trượng phu, mới đi tới thầy mua thuốc trồng râu, thầy đi khỏi. Người vợ bày một phương rằng: "Có gì khó, về lấy trứng dái gà mỗi bữa chà chà hai bên mép, thủng thẳng rồi nó ra". Người ấy về làm y như vậy, ít lâu sau quả có râu ra.

Người ấy mừng đem đồ tới đền ơn. Thầy mới hỏi vợ phương thuốc đó ở đâu mầy thấy? Vợ rằng: "Y là ý vậy" (nghĩa là thuốc tại có ý), thiếp ngày mới gả cho phu quân, một sợi lông cũng không, vì bị hai hòn ngoại thận của phu quân chà hoài, chẳng bao lâu bây giờ cho đến đỗi xồm xàm ra thế nầy...


LẤY THUỐC MỌC RÂU

(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có một anh không có râu, bị vợ diếc móc khổ quá, phải đi lấy thuốc mọc râu.

Một hôm, mang tiền đến nhà ông lang. Chẳng may ông lang đi vắng, chỉ có bà lang ở nhà mà thôi. Bà lang thấy anh ta đến, mới hỏi rằng:

- Bác hỏi gì?

- Thưa bà, tôi đến xin thuốc.

- Ông lang tôi đi vắng, bác lấy thuốc gì?

- Thưa, tôi xin thuốc mọc râu.

Bà lang ngồi nghĩ một chốc, rồi nói rằng:

- Tưởng lấy thuốc gì thì tôi không dám hạ thủ, chứ thuốc nầy tôi đã kinh trị. Để tôi giùm cho!

Rồi lấy một ít liên tu, gói vào giấy, đưa cho anh kia mà nói rằng:

- Phương thuốc nầy thì phải nội ẩm, ngoại đồ (*) mới được. Đây tôi bôi thuốc uống; còn thuốc đồ, bác phải kiếm lấy.

Anh kia cầm lấy thang thuốc hỏi rằng:

- Thưa bà, thuốc đồ thế nào, xin bà bảo cho.

- Bác kiếm lấy hai hòn đá cuội, lấy da bong bóng lợn bọc lại. Khi uống thuốc rồi, thì lên giường nằm ngửa, lấy túm đá cuội ấy mà giay trên môi một lúc, rồi lấy ít dầu vừng đổ qua, thì mọc được râu.

Anh ta mừng quá, giả tiền thang thuốc, rồi chạy về nhà.

Một chốc, ông lang về, hỏi bà lang rằng:

- Tôi đi vắng, ở nhà có ai đến lấy thuốc không?

Bà nói: - Có, có người đến xin thuốc. Ông đi vắng, nếu không có tôi ở nhà khai phương cho người ta, thì người ta đi lấy chỗ khác.

Ông lang ngạc nhiên hỏi:

- Ai lấy thuốc gì mà bà dám bốc?

Bà lang mới kể tình đầu lại cho chồng nghe.

Ông lang ngẩn ra, hỏi rằng:

- Chứ bà theo sách nào mà bốc cho người ta như thế?

Bà quắc mắt, cãi rằng:

- Chẳng phải theo sách nào cả! Khi tôi mới lấy ông thì tôi có tí... nào đâu? Sau ông chỉ đồ cho tôi một ít lâu, mà sao bây giờ mọc rậm thế??

(*) Nội ẩm ngoại đồ=trong uống ngoài thoa.

* (Đề Tài 3)

ÔNG GIÀ KHÔNG CÓ MIỆNG

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp) 

Chú kia râu ria um sùm không thấy miệng mồm đâu hết. Đi đường gặp thằng con nít nói chơi rằng: "Hồ tử nghinh phong tẩu, chỉ kiến hồ tử bất kiến khẩu" (Râu ria đi ngoài gió, chỉnh thấy râu ria miệng đâu có).

Người râu giận quá, tay nắm râu dở lên bày miệng ra, chỉ miệng mà mắng rằng: "Giống gì đây không phải miệng, vậy chớ húm mẹ mầy đây sao?"

Thằng nhỏ bị mắng khóc chạy về mét với mẹ nó. Mẹ nó dỗ nó rằng: "Không phải đâu con. Chú nó mắng người khác đa! Thôi, con chạy theo mắng chú lại, nói mẹ có mà ít kìa, le the năm mười sợi he, chớ không phải xồm xàm như chú vậy đâu!"

ÔNG RÂU RẬM

(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có một ông râu rậm che kín cả miệng. Một hôm, đương đi ở ngoài đường, chợt có đứa bé trông thấy, nó mới gọi mẹ nó mà bảo rằng:

- Mẹ ơi! ra mau mà xem người không có mồm!

Rồi nó cứ vỗ tay, chạy theo mà reo lên rằng: A! a! a! ông nầy không có mồm.

Ông râu rậm tức quá, quay mặt lại, vạch râu chửi nó rằng:

- Chẳng mồm là l... mẹ mầy đây à!

GIỐNG ÔNG BỘ RÂU

(Vương Hồng Sển, do một người bạn Bắc thuật lại)

Có một ông huyện đi làm quan ở xa, vợ ở nhà gần ngày sanh. Ông nóng biết tin nên sai thằng trung tín về xem bà đã ở cữ rồi chưa. Vốn thằng nhỏ có tánh ngây ngô, sợ việc đàn bà đẻ, nó không dám vào, đứng ngoài hàng rào xớ rớ để nghe ngóng. Bất ngờ bà ra vườn, vén váy đi tiểu. Thằng kia trông thấy, vội vàng chạy về bẩm với ông: - Bẩm ông, bà đã ở cữ rồi.

Quan nghe mừng lật đật hỏi: - Chớ bà mầy đẻ con giai hay con gái?

- Bẩm, con không tường cô hay cậu, nhưng con nhìn thấy giống ông lắm.

- Mày trông giống tao cái gì?

- Bẩm, giống ông ở bộ râu! 


(5)

Cùng những Đề tài nổi tiếng từ Chuyện Tiếu Lâm của Phụng Hoàng San hoặc từ Chuyện Khôi Hài (trong Dân Gian) của Petrus Ký, ngày nay có những câu chuyện tiếu lâm hơi khác.

Có 2 Đề tài:

* (Đề Tài 1)

THƠ NGỰA HAY

(Phụng Hoàng San) 

Hai vợ chồng ông kia, nhà giàu có, sanh đặng ba đứa con gái dung nhan đẹp đẽ. Hai đứa lớn gả cho hai người văn chương, còn con gái út, có nhiều nơi coi mà nó không khứng.

Khi ấy có một tên kia nhà phú hậu, lại thêm lịch sự trai đến cầu hôn. Ông chê nó ít học, không chịu gả, còn cỏn thì đành. Bả thương con út, có ý chiều lòng con, mới khuyên ổng rằng: "Hễ học thì phải hay, chớ cái lịch sự khó kiếm lắm. Nó tuy ít học, về mình dạy thêm nó phải trở nên một đứng văn chương."

Ổng nói: "Nó tuy lịch sự trai, song nó bất học, nên ăn nói không thanh nhã, mụ nói lắm tôi cũng nghe theo."

Gả cưới xong rồi, ổng mới mua đặng một con ngựa hay lắm, trong lúc ăn tiệc, ổng biểu ba người rể làm thơ khen con ngựa hay.

Người rể lớn làm như vầy:

"Mặt nước thả cây kim; cha tôi cỡi ngựa chạy như chim; chạy đi chạy lại, cây kim chưa chìm."

Người rể giữa đặt rằng:

"Than lửa để cái lông; cha tôi cỡi ngựa chạy như dông; chạy đi chạy lại, cái lông chưa hồng."

Ông hỏi thằng nhỏ sao không làm.

Nó thưa: "Hai ảnh làm, choán hết ý hết vận, nên tôi họa chưa được, để thủng thẳng tôi nghĩ."

Bả liền nói đỡ cho nó rằng: - Nó đã nhỏ, ông lại hối lắm, nó rối trí làm sao cho được!

Bả lật đật và bước và nói, rủi lỡ trôn.

Thẳng nghe liền mừng mà nói rằng: "Thưa mẹ, tôi nghĩ đặng bài thơ rồi."

Bả biểu: - Thì con viết ra, rồi đọc nghe thử.

Anh ta viết rồi đọc rằng:

"Mẹ tôi xán cái địt; cha tôi cỡi ngựa chạy như hít; chạy đi chạy lại, đít mẹ chưa khít."

Bả nghe nói nửa bài, bỏ đi xuống nhà dưới một nước. 


BỐN CHÀNG ĐI HỎI VỢ

(Chuyện tiếu lâm thời nay)

Một ông phú hộ có một cô con gái độc nhứt. Có bốn chàng tới xin cầu hôn. Nhân vì ông có một con ngựa chạy hay, ông mới ra đề biểu bốn chàng tả cái tài chạy mau của con ngựa nầy. Ai làm thơ hay nhứt thì ông gả con gái cho.

Chàng thứ nhứt văn chương giỏi liền ứng khẩu đọc:

Lưng trời chiếc lá rơi

Ngựa Ông phi một hơi

Phi đi rồi phi lại

Chiếc lá vẫn lưng trời

Nhân thấy cô gái bưng nước ra mời khách, chàng thứ nhì liền nghĩ ra bài thơ hay hơn và đọc liền:

Ly nước để cây kim

Ngựa Ông phi như chim

Phi đi rồi phi lại

Cây kim vẫn chửa chìm

Chàng thứ ba đang ngẫm nghĩ chưa ra. Ông phú hộ thì thích chàng nầy nên lấy làm lo bèn đốt thuốc hút. Nhìn thấy ông đốt thuốc, chàng thứ ba làm được bài thơ hay hơn nữa:

Đốt thuốc để cháy lông

Ngựa Ông phi lông bông

Phi đi rồi phi lại

Cái lông vẫn chửa hồng

Bà phú hộ thích và nóng ruột cho chàng thứ tư, lính quýnh như gà mắc đẻ ở phòng trong nên Bà phát "địt". Chàng nầy nghe được mừng quá làm ra bài thơ: 

Từ Bà nghe tiếng địt

Ngựa Ông phi mù tít

Phi đi rồi phi lại

Lỗ đít vẫn chưa khít.

Bài nầy hay nhứt nên chàng thứ tư được vợ.

* (Đề Tài 2)

ĐỐI ĐƯỢC VỢ

(Petrus Ký)

Anh học trò khó lịch sự bảnh bao người, đi khuyên giáo, tới nhằm cái nhà kia giàu có. Trong nhà thợ đang còn làm ầm ầm ạc ạc, cũng có thầy lang (thầy thuốc) với thầy pháp tới đó nữa.

Con gái nhà ấy đã đúng tuổi, chưa có chồng, thấy vậy thì thương, ra nói rằng: "Thôi, đừng có đi khuyên giáo làm chi mà xấu hổ đạo học trò, để tôi ra cho một câu đối, ai đối được trúng ý tôi thì tôi sẽ lấy người ấy làm chồng.

Ai nấy nghe ham chợp rợp. Xin cô ra đối đi. Cô ấy ra rằng:

"Đế Nghiêu, đế Thuấn, đế Võ; Võ, Nghiêu, Thuấn, tam đế truyền hiền"

Chú thợ mộc hớp tớp đối lại rằng:

"Bào rà, bào tách, bào xoi; xoi, rà, tách, ba bào phạt mộc"

Thầy pháp cũng nóng đối rằng:

"Lôi thiên, lôi tướng, lôi bồng; bồng, thiên, tướng, tam thiềng trừ quỉ"

Thầy chùa xen vào đối rằng:

"Bồ đề, bồ tát, bồ lương; lương, Đề, Tát, tam Bồ cứu khổ"

Thầy lang lại đối rằng:

"Huỳnh cầm, huỳnh bá, huỳnh liên; liên, cầm, bá, tam huỳnh giải nhiệt"

Anh học trò lịch ịch ở sau, đối rằng:

"Vương Văn, vương Khải, vương Thang; Thang, Văn, Khải, tam vương kế Thánh"

Đối trúng ý, trúng đề, cô ấy chấm được.

May cha chả là may; sẵn nhà, sẵn cửa, sẵn cơm, sẵn gạo; nhảy phóc vô đó một cái, sướng đã nên sướng!

ĐỐI ĐƯỢC VỢ 

(Chuyện tiếu lâm thời nay)

Một nhà giàu có cô con gái đẹp, tuổi vừa đôi tám. Ông bố chỉ kén rể hay chữ. Ông ra một vế đối, bảo ai đối được, ông gả con gái cho.

"Đế Nghiêu, đế Thuấn, đế Vũ; Vũ, Nghiêu, Thuấn, tam đế truyền hiền"

(Vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ; ba vua Vũ Nghiêu Thuấn truyền ngôi cho người hiền)

Câu đối ra, hôm đầu có một bác thợ mộc đến xin đối:

"Bào ra, bào tách, bào xoi; xoi, ra, tách, ba bào phạt mộc"

Ông nhà giàu cho là không được. Câu nầy cứ kể có ba tiếng bào, ba tiếng xoi, tách, ra nghe được. Nhưng vì chữ Nôm đối với chữ Hán có thể cho là không hay. Trong câu chỉ có hai chữ "phạt mộc" là chữ Hán nhưng "phạt mộc" (cắt cây) lại không ai dùng bào bao giờ.

Hôm sau có thầy phù thủy xin đối:

"Lôi Thiên, lôi Tướng, lôi Bồng; Bồng, Thiên, Tướng, tam lôi trừ quỷ"

Ông nhà giàu cũng cho là không được. Có lẽ ổng nghĩ rằng có ba vị lôi Thiên, lôi Tướng, lôi Bồng thật hay không và ba vị nầy có trừ quỷ thật không?

Hôm sau nữa có ông thầy thuốc đến xin đối:

"Hoàng cầm, hoàng bá, hoàng liên; liên, cầm, bá, tam hoàng giải nhiệt"

Ông nhà giàu vẫn cho là không được. Có lẽ ổng không tin là ba vị thuốc hoàng cầm, hoàng bá và hoàng liên đều giải nhiệt được.

Mãi một hôm có một người học trò đánh liều đến xin đối:

"Vương Văn, vương Khải, vương Thang; Thang, Văn, Khải, tam vương kế thánh"

Ông nhà giàu cho là được và bằng lòng gả con gái cho người học trò. Vua (tên) Khải là vua đầu nhà Hạ, vua (Thành) Thang là vua đầu nhà Thương (Thang) và vua Văn là vua đầu nhà Chu đều là Thánh Vương. 


(6)

Trong Chuyện Khôi Hài của Petrus Ký còn có những chuyện khôi hài trong văn học hay chính trị. Chúng còn tạo ra những "nụ cười" không vui.

Tuy nhiên có những câu chuyện dưới đây khác với Sử liệu hiện đại:


* (Câu chuyện 1)

CÂU ĐỐI CÓ CHÍ KHÍ

(Petrus Ký)

Ông huyện kia đi dọc đường, gặp một thằng con nít đi học về. Thấy bộ mặt đứa sáng láng bảnh lảnh, mới kêu mà ra câu hỏi rằng:

Tự là chữ, cất dằn đầu, chữ tử là con, con nhà ai đó?

Đứa học trò chí khí đối lại liền:

Vu là chưng, cất ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa hỏi ta chi?

Ông huyện nghe biết đứa có chí lớn, bèn nói sau nó sẽ làm nên mà chớ. Mà thiệt như làm vậy chẳng sai.

(Sử sách hiện đại)

Hai câu đối trên có trong Lịch sử về Trạng Nguyên Nguyễn Hiền:

Năm Bính Ngọ (1246), Nguyễn Hiền đỗ đầu Thái Học Sinh, năm sau đỗ Trạng Nguyên lúc mới 13 tuổi. Khi ra mắt nhà vua, vua thấy Nguyễn Hiền còn bé loắt choắt, ăn nói không đúng phép nên cho về nhà học lễ, ba năm sau sẽ bổ dụng. Trạng Nguyên về được ít lâu thì có sứ nhà Nguyên sang đưa ra một bài thơ để thử nhân tài nước Đại Việt. Cả triều đình đều chịu thua không ai hiểu ý của bài thơ. Có quan tâu vua thử cho mời Trạng Hiền đến hỏi. Vua đành sai sứ đến tận làng tìm Trạng Nguyên Nguyễn Hiền. Tới làng thì sứ gặp một thằng bé đang đùa nghịch ở đầu làng liền hỏi thăm nhà Trạng Nguyên thì thằng bé cứ làm thinh. Sứ thấy đứa bé ngộ nghĩnh nên đọc thử câu đối:

Tự (字) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử (子) là con, con ai con ấy?

Đứa bé đối lại ngay:

Vu (于) là chưng, chặt ngang lưng, chữ đinh (丁) là đứa, đứa nào đứa này?

Đối xong đứa bé bỏ chạy. Sứ biết là quan Trạng nên theo tới nhà thì thấy quan Trạng đứng trong bếp, sứ lại đọc một câu nữa để trêu chọc:

Ngô văn quân tử viễn bào trù, hà tu mị táo

(Ta nghe người quân tử thường lánh xa nơi bếp núc, sao lại đi nịnh ông Táo?)

Quan Trạng liền đối:

Ngã bản hữu quan cư đỉnh nại, khả tạm điều canh

(Ta vốn là chức quan vào hàng Tể tướng, nhưng hãy tạm nếm canh!)

(Điều canh: nếm canh, có nghĩa bóng là làm Tể tướng do câu của vua Cao Tông nhà Thương nói với Phó Duyệt lúc cử Phó Duyệt làm Tể tướng).

Sứ khâm phục mời quan Trạng về Kinh đô nhưng quan Trạng từ chối nói rằng:

- Trước nhà vua bảo ta không biết lễ (phép), nay chính nhà vua cũng không biết lễ.

Sứ về tâu lại, nhà vua phải mang xe ngựa, nghi trướng đến đón long trọng thì quan Trạng mới chịu đi.

Đến Kinh đô, Trạng Nguyên Nguyễn Hiền giảng giải bài thơ của sứ nhà Nguyên rõ ràng. Nguyễn Hiền làm quan đến Công Bộ Thượng thư nhưng ông chết sớm (thọ 21 tuổi). 

* (Câu chuyện 2)

NGÔ THÌ SỸ VỚI TÁN LÝ THƯỜNG

(Petrus Ký)

Ông Thường (tán lý Thường), đời loạn Tây sơn ra lấy Bắc, con nhà học trò giỏi văn chương chữ nghĩa, cũng là bạn học với ông Ngô Thì Sỹ; giận ý kẻ nịnh lại hổ vì bị nhục mà vào Gia Định ở, đầu thầm với vua Gia long. Vô một năm rồi ra ngoài Bắc, giả chết, biểu vợ con giả đò chôn cất để tang để chế cho, rồi mới vào lại làm tôi vua Gia Long. Khi trước ở ngoài ấy còn hàn vi đi đường gặp ông Ngô Thì Sỹ là bạn học, mà khi ấy làm quan lớn, đi võng điều lọng lợp binh gia rần rộ (làm quan cho vua Quang trung là Nguyễn Văn Huệ, nhà Tây sơn). Mặc áo rộng, đội nón tu lờ điệu học trò; đi né tránh bên đường, lính nó nói sao có vô phép, nó bắt nó vật xuống đánh cho vài chục. Quan lớn mới hỏi là ai, thì bẩm rằng mình là học trò; thì Ngô Thì Sỹ mới rằng: "Có phải là học trò thì ra câu đối cho mà đối". Ra rằng:

Ai công hầu? Ai khanh tướng?

lúc trần ai, ai dễ biết ai?

Ông Thường đối lại rằng:

Thế chiến cuốc, thế xuân thu,

gặp thì thế, thế nào thì thế.

(Sử sách hiện đại)

Câu chuyện về Tán Lý Đặng Trần Thường trên đây khác với chuyện của ông trong Lịch sử:

Trong các đại công thần của vua Gia Long có một người Bắc Hà là ông Đặng Trần Thường. Sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long phong ông Đặng Trần Thường làm Tán Lý Bắc Hà (1803). Ông Đặng Trần Thường bắt các cựu thần nhà Tây Sơn ở đây phải ra trình diện trong đó có ông Ngô Thì Nhậm (con ông Ngô Thì Sỹ) và ông Phan Huy Ích (rể ông Ngô Thì Sỹ). 

Ông Đặng Trần Thường cũng từng là danh sĩ Bắc Hà, đậu Sinh Đồ của nhà Hậu Lê. 

Vì khi xưa có hiềm khích với ông Ngô Thì Nhậm nên ông ra câu đối cho ông Ngô Thì Nhậm:

“Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai” (Đặng Trần Thường)

Ông Ngô Thì Nhậm định đối như sau:

“Thế chiến quốc thế xuân thu, gặp thời thế thế thì vẫn thế” (Ngô Thì Nhậm)

Em rể của ông là ông Phan Huy Ích khuyên ông sửa lại:

“Thế chiến quốc thế xuân thu, gặp thời thế thế thì phảithế” (Phan Huy Ích)

Nhưng ông Ngô Thì Nhậm vẫn cứng đầu giữ câu đối của mình:

“Thế chiến quốc thế xuân thu gặp thời thế thế thì vẫn thế” (Ngô Thì Nhậm) 

Các cựu thần nhà Tây Sơn đều bị đánh đòn nhưng vì ông Đặng Trần Thường ghét câu đối của ông Ngô Thì Nhậm nên bí mật cho đánh ông Ngô Thì Nhậm bằng gậy tẩm thuốc độc do đó ông Ngô Thì Nhậm khi về nhà thì bệnh mà qua đời.

Trước khi mất ông Ngô Thì Nhậm có làm riêng bài thơ gửi cho ông Đặng Trần Thường nhắc lại chuyện của Hàn Tín sau khi công thành thì bị Hán Cao Tổ Lưu Bang khiến vợ là Lã Hậu giết ở cung Vị Ương:

Ai tai Đặng Trần Thường                              Thương thay Đặng Trần Thường
Chân như yến xử đường                                Tổ yến nhà xử đường 
Vị Ương cung cố sự                                      Vị Ương cung chuyện cũ
Diệc thị như thu trường.                                Khó tránh kiếp tai ương. 
(Ngô Thì Nhậm)                                             (Phan Thượng Hải dịch)

Ông Đặng Trần Thường (1759-1813) làm đến Binh Bộ Thượng Thư rồi về sau bị vua Gia Long giết (1813) đúng như bài thơ tiên đoán của ông Ngô Thì Nhậm (1746-1803) mười năm về trước. Trước khi chết, ông có làm “Hàn Vương Tôn Phú” tự ví mình với Hàn Tín, có lẽ ông nhớ lại bài thơ khuyên của ông Ngô Thì Nhậm. 

Còn ông Phan Huy Ích (1751-1822) sống đến gần 20 năm sau! 

* (Câu chuyện 3)

NGƯỜI CAN ĐẢM

(Petrus Ký) 

Ông tiền quân Trắm (tổng Trắm), nguyên là người ngoài Bắc, bị đày vô Nam với ông Khôi. Sau giặc Khôi nổi mà bị binh trào hạ thành được, bắt đóng gông bỏ vô cũi điệu về kinh.

Người ta thấy bị mang gông, người ta xúm lại, người ta coi, thì tổng Trắm bèn làm một bài thơ như vầy:

Thiên hạ ai ai có thấy không?
Cang thường một gánh, chả phải gông!
Oằn oại hai vai quân tử trước,
Nghinh ngang một cổ trượng phu tòng;
Sống về đất Bắc danh thơm ngợi,
Thác ở trời Nam tiếng hãy không?
Nên hư cũng bởi trời mà chớ,
Há dễ là ai hại đặng ông?

Sau ngồi cũi điệu về Huế, ra tới Bình Thuận, ông ấy cắn lưỡi mà chết đi.

(Sử sách hiện đại)

Câu chuyện của ông Nguyễn Văn Trắm có viết trong Lịch sử với chi tiết như sau:

Khi vua Gia Long qua đời, Vua phó thác con là vua Minh Mạng cho ông Lê Văn Duyệt và ông Phạm Đăng Hưng. Khi ông Lê Văn Duyệt qua đời ở Gia Định thành (1832) thì xảy ra loạn của Lê Văn Khôi (con nuôi của ông Lê Văn Duyệt) vào năm 1833. 

Lê Văn Khôi tên là Nguyễn Hữu Khôi vì bị quan nhà Nguyễn áp bức nên làm phản chiếm thành Phiên An (tại Sài Gòn bây giờ) được toàn thể Nam Kỳ hưởng ứng (tháng 7-1833) và cầu Xiêm La sang tiếp viện. Người anh vợ là Nông Văn Vân, làm Tri châu Bảo Lạc (tỉnh Tuyên Quang), cũng nổi loạn ở thượng du Bắc Kỳ. 

Ông Trương Minh Giảng đánh bại quân Xiêm rồi với ông Tống Phúc Lương và ông Nguyễn Xuân cùng quan địa phương chiếm lại Nam Kỳ và vây quân của Lê Văn Khôi trong thành Phiên An (1834-1835). Lê Văn Khôi bị bệnh chết nhưng thủ hạ tôn con là Lê Văn Cừ (7 tuổi) làm thủ lãnh tiếp tục chống giữ hai năm. Sau cùng trong thành bị dịch tã và hết lương thực và đạn dược nên thất thủ. Những trọng tội là Lê Văn Cừ, 4 thủ hạ (là Nguyễn Văn Trắm, Nguyễn Văn Hoành...) và 1 giáo sĩ Công Giáo bị đóng cũi giải về Huế rồi đều bị xử lăng trì. 1831 quân phản loạn còn lại bị giết ngay tại thành Phiên An và chôn chung một chỗ gọi là Mả Ngụy (nay ở Quận 3, Sài Gòn). Vua Minh Mạng cho phá thành Phiên An (còn gọi là thành Bát Giác hay thành Qui).

Cũng theo Lịch sử, ông Thủ Khoa Huân cũng có bài thơ gần giống như vậy:

Ông Nguyễn Hữu Huân (1816-1875), người ở Chợ Gạo, Định Tường đi thi Cử Nhân đậu Thủ Khoa (còn gọi là Giải Nguyên) vào năm 1852. Tuy là văn quan, ông đã khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp ở Định Tường (1861-1875). Dù bị bắt nhiều lần và được Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương giúp đỡ và dụ hàng nhưng ông không đầu hàng. Lần cuối cùng (1875) sau khi bị bắt ngồi tù trước khi bị đem ra pháp trường hành quyết, ông Thủ Khoa Huân có làm bài thơ dưới đây:

MANG GÔNG

Hai bên thiên hạ thấy hay không
Một gánh cang thường há phải gông
Oằn oại đôi vai quân tử trúc (*)
Long lay một cổ trượng phu tòng (*)
Thác về đất Bắc danh còn rạng
Sống ở thành Nam tiếng bỏ không
Thắng bại dinh hư trời khiến chịu (**)
Phản thần, “đụ hỏa” đứa cười ông 

(Thủ Khoa Huân)

(*) Trúc xưng quân tử, Tòng hiệu trượng phu
(**) Dinh hư = đầy vơi

PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn


Tài Liệu tham khảo:

Chuyện Cười Cổ Nhân (Vương Hồng Sển) 
Kể Chuyện Câu Đối Việt Nam (Vũ Xuân Đào)
Thơ và Sử (phanthuonghai.com)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét