Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

Ngự Thuyết: Biệt Ly (Đôi Bạn)


Biệt ly! Lại biệt ly! Hai chữ ngắn ngủi này xuất hiện rất nhiều trong văn, thơ, nhạc. Và dĩ nhiên trong tiếng nói hàng ngày. Đông, Tây, Kim, Cổ đều có nó. Nó là nỗi ám ảnh dai dẳng của con người, khi ẩn khi hiện, nhưng không bao giờ dứt. Nó đan quyện, chằng chịt, đổ vỡ, đứt lìa, nối tiếp. Biệt ly tuổi thơ ..., biệt ly tình yêu ..., biệt ly quê hương ..., biệt ly thời gian, không gian. Cuối cùng biệt ly cuộc sống để đi vào một cõi vĩnh hằng, hay một cõi vô định nào đó. 

Cần gì phải đến sân ga, bến xe, bến đò, sân bay mới gặp biệt ly. Biệt ly vẫn diễn ra ngay trên con đường, trên dòng sông, trong đám bèo trôi, trong chiếc lá rụng, trong tiếng chim kêu. Cả trong gió, mây, khói, sóng. 

Gặp biệt ly? Một lối nói nghịch lý, mới mẻ, sáng tạo? Không, không phải thế. Khoảng 80 năm về trước, trong thơ của Xuân Diệu, một nhà thơ nhiều sáng tạo, đã có những câu:

Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt

(người viết tô đậm)

Hay rõ hơn:

Tôi dạo tìm thơ gặp biệt ly

(người viết tô đậm)

Trong thơ cổ, trong Chinh Phụ Ngâm, Đoạn Trường Tân Thanh, và trong Thơ Mới tiền chiến, đề tài biệt ly dường như không bao giờ cạn nguồn. Cho nên đã nói đến, còn muốn nói thêm. 

Lần này nói thêm này, trước hết, xin đề cập đến Tản Đà với biệt ly giữa người tiên, kẻ tục. 


Có lẽ vì thẹn thùng, hay muốn làm ra vẻ cao đạo, hay phong tục có khác, khi biệt ly, những nàng tiên không đích thân tiễn đưa, không một giọt nước mắt, không chút bịn rịn chia tay. Tuy thế cũng kín đáo rắc lá đào xuống lối đi làm dấu như muốn nhắc nhở hai chàng có nhớ cảnh tiên mà trở lại thì sẽ không lạc đường. Và sai dòng suối trôi theo tiễn, chim oanh bay theo đưa. Ngàn năm sau có buồn chăng vì vắng hai chàng, đã có ánh trăng suông cùng nhau thơ thẩn: 

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
Đá mòn, rêu nhạt
Nước chảy, huê trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ đây xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi. 

(Tống Biệt – Tản Đà)

Cảnh tiên đẹp và lạnh. Con người nhỏ nhoi chìm khuất trong không gian bao la, lạc lối. Hình ảnh Cái hạc bay lên vút tận trời trông như một vết chém. Thôi, hãy trở về cõi tục, hãy gặp biệt ly với đủ thứ thất tình lục dục quen thuộc. 

Có khi biệt ly được ngụy trang bằng “bình thản”, “thờ ơ” để che giấu nỗi đau sẽ còn lại mãi nơi kẻ ở người đi:

Anh đi đường anh, tôi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi
Đã quyết không mong sum họp mãi
Bận lòng chi nữa lúc chia phôi
...
Rồi bỗng ngừng vui cùng lẳng lặng
Nhìn nhau bình thản lúc ra đi
Nhưng trong khoảnh khắc thờ ơ ấy
Thấy cả muôn đời hận biệt ly 

(Giây Phút Chạnh Lòng - Thế Lữ)

Có khi biệt ly có khả năng biến đổi ngôi “Vườn Xưa” thành niềm thương nỗi nhớ bâng khuâng, man mác cả không gian. Quay trở lại tìm nhau không thấy nhau, chỉ còn gặp những kỷ niệm của nơi quê mùa, mộc mạc, trên cành ổi gió thổi vi vu, dưới giếng nước trong như gương lẻ bóng: 

một ngày xuân em trở lại nhà
nghe mẹ nói anh có về hái ổi
em nhìn lên vòm cây gió thổi
lá như môi thầm thì gọi anh về

lần sau anh trở lại một ngày hè
nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt
nước như gương soi lẻ bóng hình anh

(Vườn Xưa - Tế Hanh)

Nhưng không phải chỉ trong tình yêu đôi lứa mới đau đớn vì biệt ly. Mẹ xa con, tiễn con đi lấy chồng, Này con đừng khóc, người ta cười bây giờ. Khuyên con đừng khóc, còn mẹ? 

Gái lớn ai không phải lấy chồng
Can gì mà khóc, nín đi không!
Nín đi, mặc áo ra chào họ
Rõ quý con tôi! Các chị trông!
...
Đưa con ra đến cửa buồng thôi
Mẹ phải xa con, khổ mấy mươi!
Con ạ, đêm nay mình mẹ khóc
Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi.

(Lòng Mẹ – Nguyễn Bính)

Nhìn vào lịch sử, cũng biệt ly. Huyền Trân Công Chúa hơn 700 năm về trước (1306) ngàn dặm ra đi đem thân đổi lấy Châu Ô, Châu Ri của Chiêm Thành vẫn được hậu thế, từ đời này qua đời khác, thương cảm kể lể. Trong một bài ca Huế theo điệu Nam Ai ra đời cách đây gần một thế kỷ, lời ca và tiếng nhạc quyện vào nhau thành tiếng khóc bi thảm:

Nước non ngàn dặm ra đi
Cái tình chi
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô, Ly
Đắng cay vì đương độ xuân thì ... 
...
Má hồng da tuyết
Quyết liều như hoa tàn trăng khuyết
Vàng lộn theo chì
Khúc ly ca
Sao còn mường tượng nghe gì
Thấy chim hồng nhạn bay đi ...

Ngày nay, trong thơ tự do, thơ không vần, thơ tân hình v.v ... cũng không thiếu biệt ly. 

Thơ Thanh Tâm Tuyền chẳng hạn. Càng đau thương, dằn vặt trong một cuộc sống bất an, đổ vỡ, trong một quê hương điêu linh, khốn quẩn, trong một cuộc tình vô vọng, bế tắc, ám ảnh biệt ly càng gay gắt. Đang quấn quýt bên nhau, đã sợ xa nhau: 

Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hy vọng
Nên anh dìu em đi xa
Đi đi chúng ta đến công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối
Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắt thương đau
....
Anh là thằng điên khùng
Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới.

(Dạ Khúc – Thanh Tâm Tuyền)

Nguyên Sa thì ngẩn ngơ, băn khoăn, ray rứt. Chỉ mong người đừng đi. Nhưng người đã đi chưa? Và sẽ về đâu? Mong thuyền chở người đi trên con sông không nước, thuyền không thể trôi; mong con sông không nguồn, thuyền lại chạy quanh quay trở lại. Người đi sẽ mang theo tất cả. Bỗng nhớ một câu thơ, mà không nhớ nó nằm trong bài thơ nào, ai là tác giả, Anh đi giời xưa đổ. Vâng, người đi mang theo tất cả, mang cả tôi theo. Tôi sẽ không còn là tôi. Tiễn người, tôi biệt ly tôi: 

Người về đêm nay hay đêm mai
Người sắp đi chưa hay đi rồi
Muôn vì hành tinh rung nhè nhẹ
Hay ly rượu tàn run trên môi
... 
Sao người không chọn sông vắng nước
Hay nước không nguồn cho sông đi quanh
...
Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ:
Tôi đưa người hay tôi đưa tôi?

(Tiễn Biệt – Nguyên Sa) 

Và dưới đây là nỗi đau biệt ly trong thổn thức, nức nở - ngập ngừng, đứt quãng, gián đoạn vì những tiếng nấc không nén được. Những thanh âm ấy đã được diễn tả rất linh động bằng thủ pháp vắt dòng trong thể thơ tân hình thức. Xin đăng trọn bài thơ đặc biệt này:

Buổi sáng, trên xa lộ
dài và rộng, không còn
anh bên cạnh, những dòng
xe tấp nập, những con
đường đi về đâu mà

thênh thang nỗi nhớ. Phía
trước mặt, màu đỏ của
mặt trời đốt cháy nỗi
cô đơn cực nóng, những
đam mê một thời khao
khát, anh ở đâu? Có
hay một người đang tìm
anh, tìm lại hạnh phúc
của đời mình đã để

vụt bay. Xa lộ, đoàn
xe nối nhau bất tận,
những màu xe vượt qua
mặt, xe nào anh trong
đó, vùng nào anh đang
đi sao nỡ vội xa
nhau ...?

(Mai Phương - Đi Tìm Nơi Mặt Trời Mọc)

Đấy là biệt ly trong thơ, và một thoáng trong nhạc. Thế trong văn xuôi?

Cùng với thế hệ của người viết bài này, và cả mấy thế hệ trước và sau, có lẽ không ai không nhớ một bài văn xuôi lớp Sơ Đẳng, tức lớp Ba bây giờ, trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư ra đời cách đây gần một thế kỷ. Đó là bài “Kẻ ở người đi”. Hồi còn học lớp ba, bé bỏng , có biết biệt ly là gì đâu. Đọc bài văn thấy vui vui, và thích thú hơn nữa khi ngắm nghía bức hình minh họa: Con đường đất trong làng nằm ven sông, phía trái là lũy tre, phía phải là hai chiếc thuyền nhỏ đang cắm sào, và ở giữa là một gia đình đông đảo gồm cả “kẻ ăn người ở trong nhà”, tất cả nhìn theo chiếc thuyền xa xa đã giương buồm, và những cánh tay vẫy, đặc biệt có cánh tay tí hon của em bé đang được mẹ “bồng nách” cũng vẫy theo.



Dưới đây là đoạn kết: “Thuyền nhổ sào, ai nấy đều chúc cho tôi được thuận buồm xuôi gió, bình yên khỏe mạnh. Thuyền đã đi xa, mà tôi còn đứng nhìn trở lại, nhìn cho mãi đến lúc không trông thấy nhà nữa mới thôi. Ôi! Cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!”

Những năm trung học, làm quen với Tự Lực Văn Đoàn, những Văn Đoàn khác, và một số tiểu thuyết tiếng Pháp, tiếng Anh, tầm nhìn được mở rộng thêm. Thì gặp Đôi Bạn. Trong Tự Lực Văn Đoàn có hai truyện dài, nhưng đều khá mỏng, có thể xem như những áng thơ trường thiên, hồn thơ lan toả ra bàng bạc từ đầu truyện đến cuối truyện. Đó là Hồn Bướm Mơ Tiên chỉ hơn 100 trang của Khái Hưng, và Đôi Bạn chưa tới 200 trang của Nhất Linh.

Đôi Bạn là một nơi chốn mà tôi đã hơn một lần quay trở lại tìm kiếm. Mỗi lần quay về, thấy nó khác trước. Nó buồn hơn, man mác hơn, hoang mang hơn. Nhất là cái nhan đề “Đôi Bạn” tưởng như nói lên sự gần gũi, khăng khít. Nhưng không, “Đôi Bạn” là biệt ly.

Nhưng Đôi Bạn là ai? Là hai người yêu nhau, là Dũng và Loan, Loan, người của mối tình đầu, của quê hương, của tuổi thơ, người mà Dũng không bao giờ quên: 

Chàng mỉm cười nói đùa:

-Phải đi về vì hai hôm đã nhớ nhà rồi.

Câu nói đùa nhưng cũng là câu nói thật. Dũng nghiệm ra rằng lần nào cũng vậy, hễ đi đâu một vài ngày là chàng đã thấy nẩy ra cái ý muốn về nhà để được gần cạnh Loan. Gia đình, quê hương chàng yêu mến chính vì nơi đó là nơi chàng với Loan trong bao lâu đã cùng thở một bầu không khí, đã cùng ngắm những cảnh sắc thay đổi hết mùa này sang mùa khác, năm này sang năm khác.

Quả thế, quê hương và tuổi thơ là chất keo buộc chặt tình yêu đôi lứa. Làm nhớ Hàn Mạc Tử với “Tình Quê”. Ngay cả đối với những ai đã cách nhau ngàn vạn dặm, dù muốn quên tất cả lời thề ước dưới trăng, dù cố quên tình phu thê, nhưng trong đáy lòng cũng cảm thấy đau đớn não nề khi quê hương lên tiếng gọi lặng lẽ, thì thầm mà sâu lắng, như tiếng buồn trong sương đục, tiếng hờn trong lũy tre. Xin đăng trọn bài “Tình Quê” của Hàn Mạc Tử:

Trước sân anh thơ thẩn 
Đăm đăm trông nhạn về
Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê
Gió chiều quên ngừng lại
Dòng nước luôn trôi đi
Ngàn lau không tiếng nói
Lòng anh dường đê mê
Cách nhau ngàn vạn dặm
Nhớ chi đến trăng thề
Dù ai không mong đợi
Dù ai không lắng nghe
Tiếng buồn trong sương đục
Tiếng hờn trong lũy tre
Dưới trời thu man mác
Bàng bạc khắp sơn khê
Dù ai trên bờ liễu
Dù ai dưới cành lê
Với ngày xanh hờ hững
Cố quên tình phu thê
Trong khi nhìn mây nước
Lòng xuân cũng não nề 

Huống là đối với Đôi Bạn yêu nhau tha thiết mà phải xa nhau, chàng vì nước ra đi không biết tới chân trời góc bể nào, sống chết ra sao; nàng sống mỏi mòn nơi quê cũ. Và cả hai người, “Thấy cả muôn đời hận biệt ly” như trong câu thơ của Thế Lữ đã trích dẫn.

Xin mở dấu ngoặc. Đôi Bạn ra đời dưới thời Pháp thuộc với guồng máy cai trị vô cùng khắc nghiệt. Điều này chứng tỏ rằng tác giả của Đôi Bạn vì tổ quốc dám “thi gan” với cường quyền, với mọi tai họa có thể xẩy đến cho mình. Có lẽ cũng vì nội dung “phản động” của cuốn sách đối với nhà cầm quyền đương thời nên Vũ Ngọc Phan không đề cập gì đến Đôi Bạn, và cả Đoạn Tuyệt, trong Nhà Văn Hiện Đại xuất bản năm 1942. Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh cũng xuất bản năm 1942 có đăng bài thơ Giây Phút Chạnh Lòng khá dài của Thế Lữ, không một lời bình luận. Đó là bài thơ lấy cảm hứng từ hai nhân vật Dũng và Loan trong Đoạn TuyệtĐôi Bạn

Trở lại với Biệt ly trong Đôi Bạn. Ngay đầu cuốn truyện, bóng dáng Biệt Ly đã xuất hiện thấp thoáng. Đâu phải là do tình cờ. Cái đĩa hát “ngày xửa ngày xưa” về nàng công chúa Huyền Trân phải xa lìa quê cha đất tổ, như đã được đề cập ở phần trên, lại nghe vang lên như khúc nhạc dạo mở đầu cho bản trường ca Biệt Ly sắp diễn ra: 

Dũng đã thoáng nhận thấy vẻ nghi ngại trên nét mặt của cụ chánh, nên vội đùa với Loan:

-Có mỗi việc quay cái máy hát cho anh em nghe mà các anh ấy bàn mãi chưa biết cử ai.

Loan vui mừng:

-Phải đấy. Cử tôi cho.

Cận nói:

-Nhưng chỉ có một cái đĩa.

Loan nói:

-Chắc lại vẫn cái đĩa Nam Bẳng ngày xửa ngày xưa chứ gì?

Nàng vừa quay máy vừa hát khe khẽ:

-Nước non ngàn dặm ra đi ...

Một lúc tiếng hát nổi lên; trừ Dũng ra, còn người nào cũng chú ý lắng nghe .

Loan nói:

-Em thích cái đĩa hát này lạ.
...

Dũng ngâm theo đĩa hát:

-Thấy chim hồng nhạn ... bay đi.

Loan không nói gì, vin một cành khế đầy hoa hồng và lấm tấm những quả khế xanh non, ngước mắt nhìn ra vẻ tìm xem có quả nào to ăn được chưa. Mùi hoa khế đưa thoảng qua thơm nhẹ quá nên Dũng tưởng như không phải là hương thơm của một thứ hoa nữa. Đó là thứ hương lạ để đánh dấu một khoảng thời khắc qua trong đời: Dũng thấy trước rằng độ mười năm sau, thứ hương đó sẽ gợi chàng nhớ đến bây giờ, nhớ đến phút chàng đương đứng với Loan ở đây. Cái phút không có gì lạ ấy, chàng thấy nó sẽ ghi mãi ở trong lòng chàng cũng như hoa khế hết mùa này sang mùa khác thơm mãi trong vườn cũ.

Cho nên khi chưa xa nhau, Dũng rất mong có những giây phút sống cạnh Loan, Loan mà Dũng xem như là nàng tiên đến với chàng trong chốc lát rồi đi: 

Trong đời chàng, chàng ước ao có nhiều lúc như lúc này, đương mong Loan lại được Loan đến với chàng, đến như một nàng tiên ở nơi xa xăm về an ủi chàng trong chốc lát rồi lại bay đi.

Cái hạnh phúc đó dù ngắn ngủi vẫn mang lại cho chàng cảm tưởng của một cuộc sống ấm áp, êm ả cách biệt hẳn cuộc đời phiền muộn ngoài kia: 

Dũng vào ngồi bên cạnh Loan. Bà hàng mở vung múc nước chè, một làn hơi nóng thoảng qua mặt Dũng. Dũng không nghĩ đến Thái nữa, những người bạn ngồi quanh chàng, người nào lúc đó nét mặt cũng lộ vẻ bình tĩnh. Dũng có cảm giác êm ả lạ lùng và cái quán hàng trong đó có Loan ngồi chàng tưởng như một chốn ấm áp để chàng được cách biệt hẳn cuộc đời mà chàng thấy nhiều phiền muộn, buồn bã như buổi chiều mờ sương thu ngoài kia.

Phong cảnh bến đò nơi Loan “đã nhiều lần đi qua”, Dũng nhớ với tất cả âu yếm. Dù vậy, cảnh bến đò lại gợi hình ảnh biệt ly: 

Dũng nhìn ra phong cảnh bến đò nơi mà Loan đã nhiều lần đi qua. Chàng định khi về sẽ mua ít bánh gai biếu bà Hai.

-Chắc Loan vui lòng lắm.

Tiếng hát sẩm và tiếng nhị trên mặt sông vẳng đến tai Dũng. Trúc chạy ra, tay cầm chiếc bánh gai bóc dở. Chàng cắn một miếng to, gật đầu khen:

-Ngon lạ ... Phải mua chục chiếc làm quà cho anh Thái ... Cảnh bến đò bao giờ cũng buồn, không hiểu tại sao?

Dũng đáp:

-Có lẽ nó gợi ý nghĩ đến sự biệt ly.

Biệt ly đối với Dũng đã biến thành nghiệp dĩ. Yêu mến cuộc sống bên cạnh Loan nơi quê hương, tuy nhiên, “ Phải đi! Phải đi!” Hai tiếng đó vang lên như điệp khúc trong bản trường ca. Không nói ra cho Loan biết quyết định ra đi, nhưng thái độ của Dũng đã vô tình tố cáo. Dũng đành tự đánh lừa, phải xa nhau mới có ngày gặp nhau: 

Dũng nói:

-Bây giờ nghĩ đến nhà quê thật là xa lắc. Giá cứ thế này đi không về nữa thì hay đến đâu.

-Sao lúc nào em cũng thấy anh nói đến đi.

Dũng mỉm cười:

-Ở nhà tôi có nói đến đi bao giờ đâu?

Loan nói:

-Anh không nói đến đi, nhưng trông nét mặt anh lúc nào em cũng thấy anh khó chịu, hình như chỉ có đi là thoát.

-Sao cô lại tưởng thế?
...

Ngẫm nghĩ một lúc rồi Dũng nói tiếp:

-Có lẽ phải xa nhau rồi mới gần được.
...

Nàng chép miệng nói tiếp theo, mắt vẫn nhìn Dũng:

-Đi bao giờ cũng buồn. Nhưng người đi không buồn lắm, buồn nhất là người ở nhà.

Dũng hiểu ý Loan, chàng nói:

-Nhưng ở đời tránh thế nào được những sự biệt ly. Có buồn đi xa rồi mới có mừng được về, gần nhau mãi không biết rằng những lúc những lúc ở gần là quý ...

Loan tiếp theo:

-Miễn là đừng đi xa mãi mãi cả đời.

Có khi mềm lòng, ai mà chẳng có lúc như thế, yêu cuộc sống êm đềm cạnh Loan, Dũng không khỏi nghĩ đến cái chết có thể xẩy ra, đó là tận cùng của biệt ly, biết đâu, trên bước đường đầy gian nguy sắp tới. Dũng cố bi thảm hóa hoàn cảnh của mình chăng? Không phải thế. Những bạn cùng chí hướng của chàng đã có người ra đi vĩnh viễn: 

Chàng thốt nghĩ đến Loan và tự nhiên nhớ đến một hôm, đã lâu lắm, nhìn Loan mặc áo trắng đi qua vườn trong ánh nắng thu, lần đầu chàng cảm thấy cái vui thấy mình sống. Chàng không dám nghĩ đến một đời ở xa Loan, nay đây mai đó như Tạo, rồi một ngày kia cũng như Tạo chết một nơi xa lạ nào, nằm trong áo quan tối, trong khi Loan đứng bên mồ, dưới ánh nắng, tà áo trắng của nàng phấp phới trước gió.

Trúc ngửng nhìn Trúc và lấy làm ngạc nhiên thấy Dũng mắt có ngấn lệ.

Tuy nhiên, Dũng không hề cho Loan biết quyết định ra đi của mình. Loan, với linh tính bén nhạy của phái nữ , nhất là khi đang yêu, đã đoán già đoán non: 

Đột nhiên Loan hỏi Dũng:

-Anh định sắp đi đâu?

Cả hai người cùng ngửng lên một lúc. Dũng ngạc nhiên vì câu hỏi bất ngờ, nhìn Loan dò xét. Loan cúi xuống tìm nhặt những bông hoa cỏ may vướng trên vạt áo; nàng nói tiếp:

-Hình như anh sắp đi đâu xa, xa lắm.

Nàng vẫn cúi người, nghiêng đầu nhìn Dũng. Dũng nói:

-Có lẽ. Nhưng ... sao cô biết.

Loan mỉm cười:

-Thế ra thật à?

Dũng cũng cười:

-Thế ra cô bắt nọn tôi?

Loan nói trạnh ra ý khác ...

Là người đa cảm và giàu tưởng tượng, chưa lên đường ra đi Dũng đã hình dung cảnh hai người xa nhau. Với chút lãng mạn, hình dung cả tiếng mưa rơi đêm khuya đánh thức Dũng khiến chàng nhớ Loan đang sống nơi quê cũ: 

Dũng khẽ nói với Loan:

-Mưa thế này thì cô về sao được?

Dũng lấy làm lạ rằng khi hỏi câu hỏi rất thường, giọng chàng đổi khác hẳn đi. Loan áp hai bàn tay vào má, hai ngón tay út khẽ đập trên thái dương, thẫn thờ nói:

-Thì cứ ngồi đây suốt đêm.

Một lúc sau, nàng mỉm cười tiếp theo:

-Ngồi nghe mưa rơi.

Tiếng nói của Loan nghe trong căn phòng ấm áp, thốt nhiên gợi Dũng nghĩ đến cảnh một người phiêu lưu ngủ trọ trong quán hàng nước ở một bến đò xa vắng, đêm khuya lạnh, sực thức dậy nghe tiếng mưa rơi trên sông và nhớ tới người yêu ở quê cũ.

Vì vậy cái buồn luôn luôn đến với Dũng:

Tay nàng lùa vào trong giàn đậu nhanh nhẹn như con chim non tìm mồi nhưng qua lá cây Dũng thấy hai con mắt nàng đương long lanh nhìn chàng dò xét. Loan hạ thấp giọng để bà Hai nghe không rõ, bảo Dũng:

-Lúc nào em cũng thấy anh buồn.

Rồi nàng vờ như không để ý đến câu nói của mình, kiễng chân với một cành cao, vui vẻ nói:

-Cành này vô số là quả nhưng cao quá anh Dũng ạ.

Dũng hiểu, nói:

-Ý cô muốn tôi giúp cô.

Kỷ niệm thời thơ ấu của hai người thường luẩn quẩn quay về:

Dũng nhìn lên mặt trăng cao mà tròn khuất sau lá cây. Ở thành phố nên Dũng thấy mặt trăng có vẻ buồn bã hình như đương nhớ những quãng rộng rãi ở các vùng quê xa xôi, nhớ những con đường vắng gió thổi cát bay lên trắng mờ mờ như làn sương, nhớ những con đom đóm bay qua ao bèo, lúc tắt lúc sáng như những ngôi sao lạc biết thổn thức ... Chàng dịu dàng nói với Loan:

-Thế mà mới độ nào, cô còn nhớ không, những đêm trăng sáng chúng mình còn ngồi ở sân đợi có đom đóm bay qua rồi đứng lên reo đom đóm xuống đây ăn cơm với cá.

Loan nói:

Hình như nó biết chúng mình đánh lừa hay sao nên nó lại bay cao. Lạ thật, đến khi lớn lên thì mình không biết là có đom đóm nữa.

Người làm cách mạng sẵn sàng chấp nhận tù đày và cái chết. Trong một xã hội bế tắc, khốn quẫn như xã hội ta thời nô lệ Pháp, chết là thoát ly. Một số bạn của Dũng đã chết, nghĩa là đã được thoát ly, Dũng ngẫm nghĩ. Không những thế, Dũng còn cảm thấy như chính mình được thoát ly, nghĩa là mình cũng chết theo, hay chí ít nơm nớp đợi đến lượt mình từ giã cõi đời:

Đính nói:

-Cái anh Thái ấy hình như bắn xoàng. Bắn ông phủ hai phát không trúng, bắn mình một phát lại trúng ngay...

Dũng đứng lên, bước vội ra sân. Chàng lấy làm lạ rằng mình chỉ bàng hoàng ngây ngất như người mới nhận một tin đột ngột quá, chứ không thấy đau khổ, không thấy thương xót người bạn mới khuất. Sau một hồi khích động mãnh liệt, Dũng thấy dần dần thấm vào trong lòng một nỗi êm ả xưa nay chưa từng thấy. Chàng có cái cm tưởng rằng mình sắp thoát một nơi u ám, nặng nề và một sự gì mới mẻ sắp nẩy nở ra trong tâm hồn. Cái chết của Thái đối với Dũng chỉ là một sự thoát ly nhưng Dũng thấy rằng người được thoát ly là chàng chứ không phải Thái. Nhiều ý nghĩ trái ngược hỗn độn hiện ra một lúc khiến Dũng không biết rõ hẳn lòng mình ra sao: chàng cũng không muốn nhân cái chết của một người bạn để suy nghĩ về mình và tìm tòi cho mình...

Các bạn chàng đối với nhau chỉ có mỗi một dây liên lạc chung là tình bạn hữu, còn ngoài ra mỗi người đi theo một ngả đường, sống theo một cảnh đời riêng, yếu ớt, rời rạc. Thỉnh thoảng lại nghe tin một người trong bọn chết đi hay bị tù tội, rồi ai nấy, trước số mệnh, chỉ việc cúi đầu, yên lặng, nơm nớp đợi đến lượt mình.

Nhưng là một thanh niên đầy sức sống, tình yêu trai gái nồng nàn và thèm muốn nhục dục có khi dậy lên như sóng: 

Ánh trăng đương mờ bỗng sáng hẳn lên. Gió đưa tà áo Loan khẽ chạm vào tay khiến Dũng sực nghĩ mình đi sát gần bên Loan quá. Chàng nhớ đến hôm lễ thọ và cái mơ ước được đi chơi với Loan trong vườn cỏ thơm, gió đưa tà áo nàng phơ phất chạm vào tay êm như một cánh bướm ... Dũng không dám quay mặt nhìn Loan; chàng chỉ thấy bên chàng có một bóng trắng hoạt động nhẹ và thơm, lúc sáng hẳn lên dưới ánh trăng, lúc mờ đi trong bóng cây lưa thưa. Dũng nghe rõ tiếng chân bước của Loan nhịp nhàng xen với tiếng chân chàng bước. Quả tim chàng đập mạnh ... Chàng trông thấy trước mặt bàn tay hơi run run của Loan, hôm nào, cời những quả đậu non trong rá, chàng nhớ đến cái cảm tưởng ngây ngất được thấy đôi môi Loan mềm và thơm như hai cánh hoa hồng, bao nhiêu thèm muốn ngấm ngầm bấy lâu trong một phút rạo rực nổi dậy. Bốn bàn chân vẫn bước đều đều ... Chàng nghĩ nếu lúc đó ngừng lại; chàng sẽ đưa cánh tay đỡ lấy Loan và miệng chàng sẽ nói câu mà chàng vẫ thầm nhủ với Loan đã bao lần trong giấc mơ:

-Anh sẽ yêu em trọn đời.

Tuy nhiên Dũng yêu mà không chịu thổ lộ tình yêu. Tại sao? Phải chăng tại vì Dũng biết trước rằng tình yêu đó sẽ không đi đến đâu, chàng phải xa nàng, không có ngày về, nên không muốn có những ràng buộc làm khổ nàng về sau? Hay cũng có thể yêu theo kiểu cổ điển phương Đông, để thèm muốn xác thịt chen lẫn vào là tầm thường, là “có tội”? Hay Dũng muốn người yêu của mình, ái tình của mình đẹp như đoá hoa hàm tiếu đang ngậm sương, như một chiếc bình cổ quý giá, một mối tình trong sáng, lý tưởng, thì hãy đừng chạm mạnh vào nó, gìn giữ cho nó luôn luôn nguyên vẹn, tươi thắm để nâng niu, tôn thờ. Dù gì đi nữa, quả Dũng là con người kỳ dị, có phần lãng mạn, có phần khó hiểu, nhưng đầy quyến rũ. Và những trang mô tả mối tình e ấp, xa xôi đó cũng đẹp như những bài thơ. 

Chỉ khi chuyện tình cờ xẩy ra mới khiến họ có dịp trao đổi nhau những ánh mắt âu yếm, “liều lĩnh”:

Dũng vòng hai tay ra phía sau làm gối ngửa mặt nhìn lên. Ánh nắng trên lá thông lóe ra thành những ngôi sao; tiếng thông reo nghe như tiếng vọng xa, đều đều không ngớt; Dũng có cái cảm tưởng rằng cái tiếng ấy đã có từ đời kiếp nào rồi nhưng đến nay còn vương lại âm thầm trong lá thông.

Không nghe tiếng Loan và Thảo nói chuyện nữa, Dũng nghiêng mặt về phía hai người. Chàng thấp thoáng thấy hai con mắt đen của Loan. Thấy Dũng bắt gặp mình đang nhìn trộm, Loan vội nhắm mắt lại làm như ngủ; song biết là Dũng đã trông thấy rồi, nàng lại vôi mở mắt ra, rồi qua những ngọn lá cỏ rung động trước gió, hai người yên lặng nhìn nhau.

Loan chắc Dũng có ý nghĩ gì đổi khác hẳn trước nên mới nhìn nàng như nhìn một tình nhân mà không tỏ ý ngượng; Loan sinh liều, âu yếm nhìn lại Dũng. Giây phút thần tiên của đôi bạn vẫn yêu nhau từ lâu nhưng lần đầu dám lặng lẽ tỏ ra cho nhau biết.

Cuối cùng, khi vừa vượt qua khỏi biên giới đặt chân trên vùng an toàn là đất Tàu, khi mọi cạm bẫy, hiểm nghèo không còn là mối bận tâm nữa, khi những lo âu không còn dấy động, rình rập, khi lòng lắng xuống, bình tâm, thì kỷ niệm của những ngày qua dồn dập về. Dũng nghĩ ngay đến “người của quê hương cũ, người của tuổi thơ”, và hồi tưởng “cái vui sướng đầu tiên khi biết mình yêu Loan”: 

Dũng thốt nhiên thấy quả tim đập mạnh: chàng nghĩ đến cái vui sướng một ngày kia, một ngày xa xôi lắm và không chắc còn có không, lại được gặp mặt lại Loan, người của quê hương cũ, người của tuổi thơ mà chàng biết không bao giờ có thể quên. Dũng nhớ lại cái vui sướng đầu tiên khi biết mình yêu Loan bốn năm trước đây. Một buổi sáng đi chơi về nhìn qua vườn, chàng thấy sân bên kia có tấm lụa trắng còn mới nguyên phơi trên dây thép, gió đưa bay tha thướt trong nắng. Chàng lấy làm lạ nhìn tấm áo một lúc lâu rồi sực nghĩ ra:

“Loan ở tỉnh đã nghỉ học về.”

Tìm ra được điều ấy, chàng lấy làm ngạc nhiên sao mình có thể vui sướng đến như thế, chàng đứng lặng người đi ít lâu và từ lúc đó chàng biết rằng trong đời chàng đã có một người yêu.

Bắt đầu từ giây phút này, cuộc sống của Dũng rẽ qua một bước ngoặt mới, chưa biết sẽ về đâu, đầy phiêu lưu, mạo hiểm, mà cũng đầy thương nhớ. Dũng muốn thoát, thoát khỏi những gì, Trúc đã đoán biết. Vâng, nói như Trúc, trốn thoát chưa đủ, còn phải thoát khỏi những ràng buộc cũ:

Dũng và Trúc không bảo nhau, cùng đi rẽ sang con đường leo lên đỉnh đồi. Tới một khoảng rộng hai anh em ngừng lại nhìn bốn phía. Trúc giơ tay bảo Dũng:

-Mai chúng mình đi về phía kia.

Dũng nói:

-Sao anh biết là phía ấy?

-Đoán thế, vì phía ấy nhiều núi, có vẻ nguy hiểm tợn.

Những quả núi đá màu lam thẩm, chen nhau hỗn độn ở chân trời hình như không bao giờ hết.

Trúc nói tiếp:

-Rồi chúng ta cứ đi, đi mãi không quay đầu nhìn lại phía sau.
...

Dũng cau mày lấy ngón tay đập mạnh điếu thuốc lá cho rơi tàn và nói:

-Miễn là thoát được.

Trúc đoán được những ý nghĩ của Dũng ngụ trong câu nói vắn tắt. Trốn đi thoát không đủ, còn phải thoát được hết những dây ràng buộc mình với đời cũ. 

*

Hãy trở lại với dòng đầu tiên của cuốn sách. Đôi Bạn bắt đầu bằng bốn chữ:

Trời muốn trở rét. 

Bốn tiếng ngắn ngủi, mình nói mình nghe, như vô tình buột miệng khi thấy một mùa đang về, mùa thu. Nhưng đúng ra những tiếng tưởng là vô tình ấy quả đã báo trước những gì sắp xẩy ra trên con đường dài của một cuộc đời quạnh quẽ. Bốn tiếng vang lên réo rắt. Chữ thứ nhất âm bằng, nối tiếp bằng ba chữ âm trắc, nghe như tiếng chim báo bão cho những năm tháng sắp tới cô liêu, kéo dài thành một xâu chuỗi nối tiếp nhau mãi bằng những mảnh vỡ của chia lìa, của biệt ly, của mùa thu, của băn khoăn, của hoang mang, để kết thúc bằng một điệu buồn miên man bất tận như một nỗi nhớ xa xôi, trong câu cuối cùng của Đôi Bạn: 

Trước mặt hai người, về phía bên kia cánh đồng, ánh đèn nhà ai mới thắp, yếu ớt trong sương, trông như một nỗi nhớ xa xôi đương mờ dần ... 

Trên đây chỉ là những trích dẫn thiếu sót, không thể diễn tả đầy đủ mọi điều tác giả muốn nói trong một tác phẩm gần 200 trang giấy mà hầu như trang nào cũng chứa đựng không ít thì nhiều những khía cạnh khác nhau của Biệt Ly.

Nếu nàng Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du là hiện thân của đau khổ, của nước mắt, của bẽ bàng, kể cả khi Kiều được tái ngộ với người tình cũ, thì Dũng trong Đôi Bạn của Nhất Linh là sứ giả của Biệt Ly, của hồi ức, của sầu muộn. Trong Đôi Bạn, chất lãng mạn lẩn khuất thấp thoáng bên cạnh chất thơ bàng bạc, man mác. Và Dũng, nhân vật chính của Đôi Bạn, quả xứng đáng với lời tán tụng của Vũ Khắc Khoan trong Mơ Hương Cảng: “... Bởi vào năm 1940, không chỉ có một Dũng, Dũng của Đoạn Tuyệt, mà còn có một thứ Dũng nữa, tuy sinh sau đẻ muộn mà ma lực quyến rũ (nhất là đối với chính Nhất Linh) lại khủng khiếp gấp bội người anh đầu lòng ... Dũng dần dần trút bỏ hình thù thô kệch giả tạo ban đầu, vụt lớn lên thần tượng, vóc dáng bao trùm cả một thế hệ ... Dũng kỳ dị, beau ténébreux, hiện lên lãng mạn trên một nền mờ dịu của mây trắng mùa thu và gió heo may thổi lộng mặt sông hoang vắng ...” 


Chú thích

Từ một tiểu thuyết của Tàu, Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một tác phẩm bằng văn xuôi không có có giá trị gì đáng kể, Nguyễn Du đã viết lại thành một áng thơ tuyệt tác đầy sáng tạo, thấm đẫm tâm hồn dân tộc, và, theo Đào Duy Anh, đã phát triển, hoàn chỉnh và thống nhất hai thành phần quan trọng của Ngôn ngữ Văn học Việt Nam, yếu tố Văn học Dân gian và yếu tố văn học chữ Hán để tạo nên một ngôn ngữ Văn học mới dồi dào, uyển chuyển (Từ Điển Truyện Kiều. Đào Duy Anh. Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam. 2009 ). Áng thơ tuyệt tác đó có nhan đề mới, Đoạn Trường Tân Thanh (Tiếng Mới Đứt Ruột). Thế nhưng theo thói quen, hay muốn được ngắn gọn, hậu thế dùng nhan đề Truyện Thúy Kiều, hay Truyện Kiều. Có lẽ nên trở lại với cái nhan đề nguyên thuỷ của chính tác giả Nguyễn Du. 

2 Kiều trong những bước chìm nổi lưu lạc, thường nhớ đến cha mẹ, hai em, người yêu cũ, và cố hương. Do đó luôn luôn mơ tưởng đến ngày về, và “khi về”. Khi còn sa chân lỡ bước trong chốn thanh lâu, có lúc nghĩ đến cảnh ngộ người yêu cũ trở lại vườn Thúy mà không gặp được mình, Kiều cảm thấy bẽ bàng và hình dung nỗi đau đớn của Kim Trọng (Khi về hỏi Liễu Chương Đài/Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay). Cuối cùng, ngay cả “khi về” tái ngộ với Kim Trọng, theo tôi, Kiều lại càng bẽ bàng hơn. Thử tưởng tượng một nàng Kiều xinh đẹp mới trên 30 tuổi (Hoa tàn mà lại thêm tươi/Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa) phải kéo lê cuộc đời còn lại của mình bên lề gia đình êm ấm của em gái với người yêu cũ. Có lẽ Kiều sẽ trở lại với tấm áo cà sa. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét