Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2018

Mauro Senesi: Lỗ Hổng (Trần Doãn Nho dịch)

(Mauro Senesi là một khuôn mặt lớn trong văn giới Ý hiện đại. Ông sinh ở Volterra Tuscany vào năm 1932, nhưng sống ở Florence. Ông là một nhà văn sung sức viết nhiều và viết về mọi đề tài. Truyện ngắn “The Breach” (Lỗ hổng) sau đây được đăng trên tạp chí “The Atlantic”, Hoa Ky). 

Con đường đi vào nghĩa trang hẹp và mấp mô. Gần đây, người ta phủ một lớp nhựa đường mới và ngày đưa đám Alderman trời lại mưa, nên con đường trở nên bóng láng như gương đến nỗi người ta có thể soi mình vào được. Vì thế, nên các cô gái của Viện Mồ Côi cứ nhìn trộm mãi bóng mình trong đó. Tôi cũng thế, tôi nhìn hình dáng phản chiếu của các cô gái lộn ngược chống lại một nền trời đầy mây xám, với những bím tóc đong đưa như cái đuôi diều.

Thế rồi cơn mưa lớn dần khiến các bà nữ tu phải bảo các cô mở dù ra che.

Các cô được điều đi phục vụ trong mọi tang lễ - thị trấn chúng tôi nhỏ, nhưng ngày nào cũng có người chết - ngoại trừ tang lễ của những người nghèo không đủ tiền để trả chi phí cho Viện Mồ Côi. Các cô gái xếp từng hai cô một, ngoằn nghoèo thành một dãy dài, những cô nhỏ nhất đi đầu, tay cầm những bó hoa huệ, còn các cô lớn thì xếp ở những hàng phía sau. Những người đứng cuối cùng hầu như đều đã ở tuổi trưởng thành, và dưới cái áo choàng đen mỏng manh, người ta có thể thấy rõ đường nét của những cặp vú.

Giọng hợp xướng thánh ca của các cô vang lên đều đặn buồn tẻ và mệt mỏi nhưng hơn hết thảy, chính cái nhìn chằm chằm của các cô làm tinh thần ta bối rối. Hình như ta có thể bắt gặp một điều tương tự khi nhìn bầu trời lúc rạng đông, bầu trời thực sự trống rỗng, không màu sắc mà ta có cảm giác y như đang rơi vào trong đó. Chắc chắn là các cô không hề có đôi mắt như đôi mắt của chúng ta khiến ta tưởng như những nữ tu đã mang chúng từ các bức tượng trong viện bảo tàng về gắn vào cho các cô.

Người chết nằm im lìm trong chiếc xe ngựa sơn màu vàng như mạ vàng còn các cô gái mỗi ngày đi theo nó giống như đàn cừu cứ phải đi theo lối đi đầy cỏ của chúng. Thỉnh thoảng, bắt chước những con cừu, các cô cũng thử phản kháng bằng cách đứng lì tại chỗ, miệng lẩm bẩm những điều ngớ ngẩn. Các cô ngậm miệng lại không chịu đọc kinh hoặc bỗng nhiên cười lớn với nhau. Ai mà biết được vì sao các cô làm như thế ở đám tang, trong khi những cô gái lớn cứ nhìn chằm chằm vào bọn con trai chúng tôi với cái vẻ van nài khẩn khoản khiến chúng tôi phải đỏ mặt.

**

Một ngày sau tang lễ của Alderman, chúng tôi mới thực sự biết đến mùa xuân. Bầu trời xanh tươi và thị trấn chúng tôi như mới hẳn, nhưng trên đỉnh đồi, khu nhà chỉ còn hình dáng bên ngoài, nhiều bức tường đã sụp xuống thành từng mảng do ẩm ướt và cũng do quá lâu đời.

Chính vì thế mà anh chàng thợ nề đến gọi tôi. Năm nào cũng vậy, anh ta kéo tôi đi làm thợ phụ. Tôi xếp gạch và trộn vữa cho anh ta, thỉnh thoảng, tôi cũng giúp anh ta xây tường. Đây là một công việc tôi rất thích vì ta có thể tiếp tục nhìn thấy thành quả của mình để ước tính bao lâu thì xong.

Công việc đầu tiên là sửa chữa lại bức tường cuối khu vườn của Viện Mồ Côi - một bức tường cao, dáng khum khum như cái lưng gù với cây cỏ mọc đầy ở trên. Phía bên kia bức tường, thực sự đó là một xứ sở rộng mở, một khoảng đất với nhiều cây ô liu oằn xuống. Tường hư hỏng nhiều chỗ nên anh thợ nề nói với Mẹ Bề Trên rằng để làm cho chắc thì phải xây lại hoàn toàn từng mảng một.

Mẹ Bề Trên là một nữ tu dáng người nhỏ nhắn, da nhăn nheo, khô khốc. Khuôn mặt bà hầu như chẳng có gì ngoài đôi mắt, bên trong thì sáng còn bên ngoài được viền bằng những đường tối. Bà nói:

- Chúng ta phải tin cậy được ở bức tường, tôi nhân danh Đức Chúa Trời khẩn nài anh làm cho tốt.

Bà nhìn một cách muộn phiền vào những cây ô liu nằm rải rác dưới chân đồi y như chúng là những kẻ thù sắp hàng sẵn sàng tấn công khu vườn.

Đây quả là một nơi lý thú để làm việc. Buổi sáng, chúng tôi nghe ở phía sau là tiếng đọc kinh và phía trước là những cây ô liu với cành lá đong đưa trong làn gió xuân dịu. Đầu tiên, chúng tôi kéo đổ một khoảng tường. Anh thợ nề dùng cuốc chim để cuốc, còn tôi thì lượm đá sắp thành từng chồng ở bên trong khu vườn. Khu vườn nhỏ hẹp tối tăm nhưng khi lỗ hổng được mở ra thì ngọn gió mùa xuân cũng len được vào bên trong.

Ít hôm sau, các cô gái cùng ba nữ tu giám sát cũng đi vào khu vườn. Tất cả đứng thành một vòng tròn chung quanh lỗ hổng của chúng tôi, nhìn một cách thèm thuồng ra phía ngoài. Các cô là những người đã đi trong đám tang Alderman. Tôi nhận ra các cô người nào người nấy đều có một vẻ mặt giống nhau y như tất cả đều là con gái của cùng một bà mẹ duy nhất, to lớn và kỳ quái. Nhìn gần, chúng tôi thấy các cô đều xấu xí, dáng điệu cứng đờ như thể thuộc về người của thế hệ trước.

Ngay cả những cô nhỏ nhất cũng chẳng muốn chơi dù rằng có nhiều viên đá tròn trong khu vườn và rải rác đây đó là những bông hoa xanh vàng đẹp đẽ từ những bắp cải nhú ra - những bông hoa mà các cô phải hái vì bây giờ là mùa xuân. Nhưng tất cả các cô đều mặc bộ áo quần đen nặng nề sát đến tận cổ và có lẽ vì vậy mà các cô cũng chẳng cảm thấy muốn chơi đùa.

Ba cô nữ tu cố bắt các cô nối nhau thành một cái vòng và các cô vâng lời một cách lơ đãng. Khi quây thành vòng tròn, các cô đều quay đầu về phía lỗ hổng, nhất là những cô lớn. Anh thợ nề nói với nụ cười nhăn nhó: “Tôi biết đó là cái duy nhất mà họ có thể làm.”

Các nữ tu, thay vì hát và quây thành vòng tròn, bắt đầu im tiếng và đứng lặng đi một cách buồn bã. Trong lúc đó, tôi bắt đầu trộn vữa và hai trong số các cô gái đến thọc ngón tay vào trong thùng vữa. Tôi nói với các cô là vữa sẽ làm cháy tay đấy, nhưng hai cô gái vẫn giữ ngón tay trong thùng, thậm chí còn nhúng vào sâu hơn cho đến khi một nữ tu nắm vai hai cô kéo đi.

Trời quá nóng, anh thợ nề phải cởi áo ra. Ngực anh ta vẫn còn gầy gò và trắng vì thời gian nghỉ đông. Thấy vậy, các nữ tu vội vàng dẫn các cô gái đến cuối khu vườn, nhưng các cô cũng cố ngoái nhìn chúng tôi, nhất là cái nhìn của một trong những cô gái lớn, có lẽ là lớn nhất trong tất cả. Cô ta có bím tóc nâu với dải ru-băng cột ở cuối và một khuôn mặt đầy mụn đỏ.

Tên cô là Letitia. Chính cô đã nói cho anh thợ nề biết như thế vào một trong những ngày kế tiếp khi các nữ tu bắt đầu quen thuộc với sự hiện diện của chúng tôi và các cô gái có thể lân la đến phần có lỗ hổng - cái lỗ hổng từng khoảng một tiếp tục đóng lại rồi mở ra dọc theo bức tường. Một lúc nào đó, ba hoặc bốn cô đến nhìn chúng tôi rất kỹ trong khi những cô khác đánh lạc hướng các nữ tu.

Chỉ có Letitia đến thường xuyên hơn vì cô ta chẳng đợi đến phiên, và khi cô đến thì anh thợ nề thường cố tình mở nút áo ra để lộ những nhúm lông ngực đen ngòm mặc dù anh ta đã bị Mẹ Bề Trên bắt phải mặc áo đàng hoàng trong suốt thời gian làm việc

Cũng có đôi điều trong khu vườn mà tôi không tài nào hiểu được, đó là một cái gì nặng nề đang cố thoát ra hoặc chui vào xuyên qua lỗ hổng, dù thực ra, Mẹ Bề Trên có nói là bà đòi hỏi chúng tôi đoan chắc lỗ hổng phải được đóng lại cẩn thận mỗi buổi chiều khi xong việc.

Nhưng điều phi lý và khó hiểu nhất đã xảy ra vào một buổi chiều khi Mẹ Bề Trên nhìn vào trong khu vườn, vỗ đôi bàn tay nhỏ nhắn, nhợt nhạt của bà để gây tiếng động đủ để xua đuổi bầy chim đậu ở những cây ô liu gần nhất bay đi. Hình như rằng sau đó, một đám mây che phủ cái mặt trời mờ nhạt vốn từ lỗ hổng của chúng tôi chiếu lên khuôn mặt của các cô gái. Mắt của các cô trở nên buồn thảm và bất động, hình như tất cả vụt trở nên rỗng không nhưng nếu ta nhìn các cô gần hơn, ta sẽ có thể nói, chúng chứa đầy sợ hãi và hận thù.

Tôi cảm thấy có một nỗi thúc bách phải di chuyển khỏi cái lỗ hổng để các cô tự do lang thang rong chơi giữa các cành ô liu trên dải đất sáng có những đường nứt. Hình như anh thợ nề cũng thế, anh cảm thấy một nỗi thúc bách như tôi bởi vì anh vẫn còn giữ cái bay giữa khoảng không, mắt nhìn Letitia một cách nghiêm trọng.

Mẹ Bề Trên tiến tới chỗ chúng tôi, làm dấu thánh giá, và nói cùng một câu như thường lệ: “Này các con hãy gắng lên, vì Chúa đã gọi đến với Người một trong những ân nhân đáng yêu nhất của chúng ta và chúng ta phải theo Người đi vào nước trời vinh quang của Người."

“Thưa mẹ, con đau chân”, một trong các cô gái nói. Một cô khác nói cô đau đầu nhưng Mẹ Bề Trên biết các cô nói dối nên nhìn các cô một cách nghiêm khắc với đôi mắt trắng dã bên trong cái vòng tròn tím của những vết nhăn. “Người ta phải biết ơn những ân nhân của mình,” bà nói, “sự vô ơn sẽ dẫn đến hỏa ngục.”

Khu vườn đã trống không và cái lỗ hổng của chúng tôi trở nên vô dụng. Anh thợ nề và tôi vội vàng dùng đá lấp kín để ngăn không cho cái chết đi vào khu vườn. Nhưng cái chết cũng cứ vào. Cái chết như được ghi khắc trên những cái nhìn của các cô gái khi họ trở lại với chúng tôi. Từ nơi các cô gái toát ra mùi sáp ong và mùi những đóa hoa thối rữa trong khi da của các cô sáng và căng ra trên những cái trán vồ thấp y như từ rất lâu các cô đã phải mang trên đầu một cái gì rất nặng nề.

Các cô đứng túm tụm vào với nhau chung quanh cái lỗ hổng và thầm thì nói chuyện khi các cô trở lại. Lúc đầu, thật không thể biết các cô nói những gì, nhưng rồi chúng tôi cũng biết ra là các cô đang nói xấu những người chết. “Ông kia nằm đó với cái miệng méo xẹo” và “Ông này thì lại chẳng biết đến cả khép mắt lại.” Giọng các cô the thé và chứa đầy sự thù ghét. Họ nói: “Cậu có để ý cái gã kia không, hắn ta bốc lên cái mùi sao sao ấy!”

Chúng tôi ở lại hầu như suốt ngày, tai vễnh lên nghe ngóng và rồi khi có tiếng chuông chậm chạp vang lên thì chúng tôi cảm thấy rùng mình vì điều đó có nghĩa là có thêm một kẻ thù nữa cần phải đối phó. Mỗi người chết đều có một kẻ thù mới.

Các cô gái Viện Mồ Côi cứ mỗi ngày một héo hon đi, những cô nhỏ tuổi thì không thấy lớn dù đang là mùa xuân. Ngay cả những nốt mụn trên má của Letitia cũng hầu như lặn xuống, nhưng hơn tất cả mọi thứ, cái chết như cứ hút cạn dần sinh lực bên trong của các cô gái từng ngày từng ngày qua các đám tang khiến cho họ trở nên như vô hồn.


Tôi biết mọi chuyện rồi cũng có lúc kết thúc. Chúng tôi đã làm đến đoạn cuối của bức tường và như thế thì sau đó, chúng tôi phải vĩnh viễn đóng kín cái lỗ hổng của chúng tôi, con đường duy nhất mà mùa xuân có thể đi vào khu vườn ủ rũ của Viện Mồ Côi.

Tôi chẳng rõ anh thợ nề có cùng ý nghĩ như tôi không, nhưng hôm đó, một buổi chiều, cả hai chúng tôi ra về mà vẫn để lỗ hổng mở rộng. Trời đã mờ mờ, mặt trời xuống ở chân trời, thấp hơn ngọn đồi, đang dọi những tia sáng của nó xuyên qua lỗ hổng tràn vào trong khu vườn. Tuy nhiên, chỉ một khoảng thời gian ngắn sau, bóng tối tràn đến và Mẹ Bề Trên không để ý là bức tường đã hoàn toàn để ngõ, hướng đến các cành ô liu vui vẻ.

Tôi đến núp sau một cây ô liu còn anh thợ nề núp ở một cây ô liu khác, mình mặc cái áo sơ mi trắng, không gài nút. Chúng tôi lặng lẽ đợi, lòng rộn ràng trong một buổi chiều thoang thoảng mùi hương đầy tiếng dế kêu và lá non. Bỗng nhiên, hồi chuông báo tử ngân lên và tiếng dế vụt im bặt.

Anh thợ nề và tôi băn khoăn chờ đợi và trước khi tiếng chuông buồn thảm ngưng lại thì có một cái gì lay động ở lỗ hổng của chúng tôi.

Những cái bóng nhỏ lưỡng lự chun ra khỏi lỗ hổng, bóng này kế tiếp bóng kia và một khi đã ở bên ngoài rồi, những cái bóng chạy ùa xuống đồi đầy cả những cành ô liu.

Bây giờ các cô gái chạy một cách thoải mái giữa các cây ô liu giống như bầy cừu ra khỏi chuồng lúc rạng đông, sung sướng đến nỗi toàn vùng ngập tràn tiếng la của các cô để rồi cũng từ lỗ hổng, một, hai, ba, năm nữ tu mặc đồ trắng chạy đuổi theo, tay vẫy vẫy như những con quỷ.

Đây là một cuộc săn đuổi kỳ lạ trong đêm. Anh thợ nề cũng tham dự vào đó. Những cô gái vừa chạy vừa cười từ cây ô-liu này đến cây ô liu kia, còn các nữ tu thì vừa đuổi vừa thở hổn hển nhưng chính họ cũng hạnh phúc khi được chạy trên khoảng đất đầy hương.

Cuối cùng thì họ cũng bắt được tất cả các cô gái, chỉ trừ có một người, đó là Letitia. Chính anh chàng thợ nề đã giữ được nàng lại. Suốt đêm dài, các nữ tu vẫn tiếp tục gọi Letitia giọng ngân nga như đọc kinh, để rồi mất hút trong bản hợp xướng vang vang của bầy dế.

Sườn đồi đầy các bước chân của các nữ tu áo trắng mảnh khảnh đang lom khom dò tìm trong các nương rãnh. Và thị trấn của chúng tôi, vốn nằm ở vị trí cao nhất trong vùng, đêm đó, chẳng biết bao nhiêu đèn đuốc được thắp lên, tạo nên một bầu không khí của lễ hội và phép lạ.

Nhưng rồi hôm sau, tôi phải tự mình đóng kín lỗ hổng trên bức tường của Viện Mồ Côi.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét