Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

Mai Kim Ngọc: Du ký - Ai Lên Xứ Lạng (Tiếp theo và hết)

Sự đơn giản của nàng vọng phu Quebec làm tôi ghi nhận sự súc tích của chuyện Tô Thị. Cả một nền văn hóa của quê cũ hiện ra, tầng tầng lớp lớp, mỗi tầng mỗi lớp là một chiều sâu khác nhau của tâm hồn Việt Nam. Lớp ngoài giản dị nhất, là cái đạo lý Khổng Mạnh với chuyện chung thủy vợ chồng, chuyện tiết hạnh của người đàn bà, chuyện chí trai phục vụ đất nước... 

Dưới cái hình thức phải đạo này là cái u uẩn của tội loạn luân. Nhưng loạn luân ở đây không đơn giản và dứt khoát một ngả như ở văn hóa khác. Trong hoàng tộc cổ Ai Cập, loạn luân không phải là tội. Hoàng tử lấy công chúa em gái mình với sự chúc phúc của hoàng gia, triều đình, và thần dân. Có lẽ cũng không có chữ loạn luân với ý nghĩa phê phán, mà sự việc được chỉ định bằng những từ trung lập đại để như ‘hôn nhân đồng máu huyết.’ Ngược lại sự cấm đoán có thể tuyệt đối đến nghiệt ngã tại những xã hội không hẳn văn minh hơn mà có khi còn bán khai. Tại một bộ lạc Phi Châu, cặp trẻ song sanh một trai một gái vừa ra đời tức thì bị hy sinh để tế thần. Chúng bị coi như đã phạm tội gần gũi người cùng máu huyết suốt thời gian chung chạ trong bụng mẹ. Hai xã hội là hai thái cực, mà hai cách luận tội cũng là hai thái cực khác.

Trở về quê hương, sự tích nàng Tô Thị không đơn giản như vậy. Nó phản ánh một văn hóa đã phát triển đến mức tinh vi, và tư duy của quần chúng đã đến mức tế nhị. Chuyện định tộiloạn luân tuy cũng giống như trong mọi xã hội văn minh khác, nhưng chuyện luận tộilại đặc thù ở chỗ uyển chuyển và tinh vi. Người anh vô tình phạm tội, cho đến khi chưa biết sự thật thì không có tội. Nhưng một khi sự thật đã tỏ tường, tức thì tội lỗi hồi sinh và anh phải đón nhận hình phạt. Anh phải lẳng lặng dứt tình vợ con mà bỏ nhà ra đi. 

Còn nàng Tô Thị cũng phạm tội ấy, nhưng nhờ chồng và anh che chở, đến chết cũng không biết mình phạm tội nên không bao giờ có tội. Ngược lại nàng được vinh danh bởi phong hóa, đạo lý, luân lý đời này qua đời khác. Hình ảnh người đàn bà đứng trong mưa gió nhìn ra xa xăm từ khi có núi từ khi có người là hình ảnh thiêng liêng của tiết hạnh và lòng chung thủy vợ chồng. Hòn đá trông chồng trở thành miếu đền của trinh bạch mà phong hóa và luân lý dựng lên cho nàng. Và còn tráng lệ hơn mọi miếu đền, miếu đền trong lòng dân gian bảo tồn sự tích của nàng đời này sang đời khác. 

Còn nữa, nàng Tô ngự trị trong văn học khoa bảng. Nằm chốn địa đầu, đá vọng phu đã được chiêm ngưỡng suốt chiều dài lịch sử bởi những tinh hoa văn học của đất nước trên đường đi sứ sang Tàu (xin xem chú thích).

*

Phải nói người chồng xứng đáng về mặt đức hạnh bằng hay hơn vợ. Ngoài cái khổ đau chung với vợ về chuyện chia ly, anh còn cái khổ đau riêng khi giấu vợ sự thật để một mình nhận lấy tất cả tội lỗi. Vậy mà gần như không ai nhắc đến anh trong những thơ văn quanh đá Tô Thị. Các văn nhân rất ít lời về anh. Cao Bá Quát dành cho anh một câu độc nhất là “Âm thư cửu đoạn hà nhân xứ?”, còn Nguyễn Du thì hoàn toàn quên anh. Phải đợi đến thế hệ chúng ta, nhà nhạc sĩ yêu nước Lê Thương mới tặng cho anh những dòng nhạc hùng tráng, và phong cho anh chức tướng quân lãnh mệnh vua đi giết giặc. Tuy vậy, những câu hát thắm thiết nhất của ‘Ai Xuôi Vạn Lý’ Lê Thương vẫn dành cho người đàn bà, cũng như cái tựa chung ‘Hòn Vọng Phu’ của toàn thể bản trường ca ba phần. Phải chăng người nữ dễ gợi hứng và vì vậy thường làm người mẫu cho sáng tác văn học nghệ thuật nhiều hơn nam giới. 

Đáng để ý là hầu hết những bài thơ vịnh đá vọng phu của giới khoa bảng không ghi nhận chuyện loạn luân. Chỉ có Lý Văn Phức trực diện vấn đề ‘Em gái anh trai’để thanh toán tức thì ngay trong câu đầu ‘Em gái anh trai lọ phải bàn.’ 

*

Tất cả chỉ là chuyện gái trinh trai trung. Có lẽ các bậc thâm nho trong tư cách cột trụ của đạo lý khoa bảng, không muốn nói đến những chuyện trái đạo lý. Một giải thích khác là chuyện ‘anh trai em gái,’ bản chất đã phức tạp lại càng phức tạp hơn với những yếu tố giảm khinh nơi họ Tô. Chừng đó khúc mắc sẽ quá tầm xử lý của một bài Đường luật tám câu bảy chữ. 

Nhưng không ghi nhận chuyện ‘anh trai em gái’ khi thưởng lãm sự tích đá trông chồng, không có nghĩa là nỗi uẩn loạn luân không cần thiết cho sự thưởng lãm sự tích của các cụ. Nàng Tô Huệ một liệt nữ có thật đời Đường về mặt trinh bạch nào có kém gì nàng Tô Thị, nhưng mấy ai nhớ và mấy ai tặng thơ.

Nhận định trên đưa tới suy ngẫm về vai trò của cái u uẩn ‘em gái anh trai’ khi sự tích được hư cấu bởi tác giả, và sự trường tồn của sự tích ấy qua năm tháng. Tôi nói đến tác giả, vì mọi sáng tác văn học dù khoa bảng hay dân gian đều có tác giả. Tác giả có khi là một có khi là nhiều cá nhân. Với ca dao, tác giả vì lẽ này lẽ nọ ẩn danh. 

Riêng sự tích Tô Thị, tác giả lại còn hư cấu, vì sự thật là người ta có sầu muộn đến đâu cũng không bao giờ bao giờ hóa đá, dù là bây giờ, mười ngàn năm trước, hay từ thủa hồng hoang. Vậy thì với cái tự do hoàn toàn khi ẩn danh mà đặt chuyện hư cấu, tác giả đã chọn lựa và chủ tâm nói chuyện phi luân thường trong khung cảnh luân thường của phẩm tiết và chung thủy. 

Hành động của tác giả phải chăng là cái phản ứng của buổi giao thời văn hóa và phong hóa. Hôm qua xã hội còn vô luân vô luật nên chưa có tội, hôm nay cũng tình yêu cũng ái ân nam nữ ấy đã bị cấm đoán và trở thành muôn vàn điếm nhục. Luật lệ hôm nay là thế, nhưng phong tục phóng túng của hôm qua chưa hẳn đã quên được. Phải chăng tác giả vẫn tưởng nhớ lối sống cũ, cảm thấy sự cấm đoán quá ngặt nghèo. 

Ta không biết huyền thoại đá trông chồng xuất hiện từ bao giờ. Trước Bắc thuộc lần thứ nhất, trước Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp và đồng liêu là những quan cai trị mang phép tắc Trung Quốc sang áp dụng bên ta? Hay về sau này khi phong hóa còn định chế hơn nữa với luật lệ. 

Văn thơ xưa nhất tôi được biết về đá Tô Thị thuộc thế kỷ 15, khi Nguyễn Trãi trong Dư Địa Chí cho rằng huyền thoại nàng Tô Thị là một với sự tích nàng Tô Huệ bên Tàu đã nói đến ở trên. Tô Huệ có chồng là Đậu Thao đi lính lâu năm không về, bèn thêu thơ lên tấm gấm để dâng vua Đường xin cho chồng giải ngũ. Bài thơ dài hơn 600 chữ, gọi là Chức Cẩm Hồi Văn vì viết theo lối thước thợ tận cùng với chữ thiên tửbằng đại tự ngay trung tâm khổ gấm. Vợ chồng Tô Huệ không phải là anh em, vợ không hóa đá, chồng không biệt tăm, và hai người sau cùng được đoàn tụ. 

Có thể Nguyễn Trãi không biết đến huyền thoại Tô Thị lấy lầm phải anh ruột. Có thể Nguyễn Trãi biết huyền thoại mà vờ đi, và đem truyện Tô Huệ đời Đường thế vào. Cả hai giả thuyết đều xem ra không vững vì nhiều lý do. Thứ nhất, Nguyễn Trãi lăn lộn với dân gian suốt chín năm bình Ngô, khó mà ngài không biết sự tích Tô Thị. Thứ nhì, Nguyễn Trãi dù thâm Nho nhưng với ý chí độc lập với Tàu, chắc cũng không lấy câu chuyện nhập cảng từ Trung Quốc về áp đặt lên huyền thoại dân gian của đất nước. Thứ ba, bản thân Nguyễn Trãi cũng là kết quả của một cuộc tình không hoàn toàn phải đạo, tiêu thụ trước hôn thú bởi hai bậc sinh thành. Ông tất hiểu chuyện con người, và sẽ phóng khoáng với anh em họ Tô ít nhất là bằng các nhà nho hậu sinh như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Huy Oánh, Lý Văn Phức, vân vân. Vậy thì có lẽ huyền thoại đá trông chồng có sau Nguyễn Trãi, nghĩa là sau thế kỷ 15. 

Mặt khác, ái ân hay hôn nhân đồng máu huyết cho tới nhà Trần vẫn không phải là chuyện cấm đoán ngay trong hoàng tộc, nên chi dân gian chắc không đến nỗi khắc nghiệt về chuyện này. Cuộc tình nàng Tô dù có thật sự xảy ra, chắc cũng không gây ra bấy nhiêu trăn trở khốn khổ cho các đương sự. Bối cảnh xã hội và phong tục đã dễ dàng như vậy, không lý do gì tác giả lại phải khúc mắc dựng lên một cuộc tình loạn luân ẩn dụ, để bênh vực nó bằng những lý do vô cùng phức tạp, là vô tình mà phạm tội, là phạm tội mà biết hối cải, là hai chữ trung trinh giáo điều của Khổng Mạnh đều đã được thỏa mãn.

Vậy thì huyền thoại Tô Thị phải xảy ra sau đời Trần. Cũng với những lý lẽ trên, nó phải xảy ra sau thời Bắc thuộc dưới nhà Minh. Bận tâm chính của Truơng Phụ và đồng bọn là khai thác thuộc địa, và phong hóa không phải là ưu tiên lớn của họ. 

Thời điểm thích nghi cho sự tích Tô Thị ra đời có lẽ là khi nước đã ổn định và luật Hồng Đức đã được công bố. Ở đây hội tụ những điều kiện giao thoa giữa mới và cũ, giữa tình yêu vô luật vô luân của ngày hôm qua và cương thường phong hóa đã được định chế chặt chẽ của ngày hôm nay. Chính cái hoàn cảnh phức tạp ấy đã tạo ra cái trăn trở súc tích đa diện của huyền thoại đá trông chồng...

*

Chừng đó giả thuyết về gốc nguồn sự tích Tô Thị, còn lại là vấn đề tại sao chi tiết ‘em gái anh trai’ có thể tồn tại nguyên vẹn trong sự tích suốt những thế kỷ qua. Ca dao nói chung trong dạng thức ta biết hôm nay là kết quả của sự biên tập không ngừng của dân gian. Vậy mà truyền miệng đời này qua đời khác, dân gian đã không biên tập đi chi tiết tình yêu và hôn nhân cùng máu mủ. Phải chăng đây là cái uẩn ức hay cái tâm tưởng nhớ thủa vô luân vô luật cũ vẫn còn dai dẳng, ít nhất trong tiềm thức mọi con người. 

Câu chuyện còn nhiều câu hỏi nhân chủng học chưa có trả lời, hoặc có mà tôi chưa có cơ hội đọc tới. Tuy nhiên, dù sao huyền thoại Tô Thị vẫn phản ánh văn hóa súc tích và đa dạng của chúng ta. Nó phản ánh cuộc sống giằng co giữa nhiều động lực xuôi ngược, đòi hỏi một khả năng tổng hợp và thích nghi cao độ. Nó tuân theo luật lệ phong hóa và những giáo điều của xã hội ‘văn minh,’ nhưng đồng thời lắng nghe cái lẽ của con tim ngay khi vì nó mà người ta sa chân vào những hoàn cảnh éo le hay sóng gió. Nó phản ánh một trí tuệ cao độ, luôn luôn lật đi lật lại vấn đề cho đến ráo riết. Và khi thám hiểm những vùng cấm địa của nhân tâm, nó can trường nhưng không bừa bãi. 

So với La Roche Pleureuse của Quebec, tôi thấy cái khác nhau của đông và tây. Sự so sánh ấy làm cho tôi yêu mến cái chân chất của Gia Nã Đại gốc Pháp, ấm áp tình người và lòng quý khách. Nhưng đồng thời, tôi kiêu hãnh về cái tế nhị và mặn mà của văn hóa quê cũ, mà mỗi tầng lớp của nhân tâm là mỗi trăn trở, mỗi suy ngẫm ráo riết, để tìm ra giải pháp thích nghi cho mỗi hoàn cảnh éo le. 

Tôi lại nghĩ đến vú Nguyệt. Vú thất tình, thất học, cuộc sống thua thiệt của vú điển hình cho quần chúng đã biên tập văn học nghệ thuật dân gian của đất nước. Cái phóng túng của vú là cái phóng túng của ca dao. Chắc vú không còn ở trên đời này, và tôi ước mong vú đã được an lạc trong miền vĩnh phúc. Tôi cũng mong cuộc sống của vú từ khi ra khỏi nhà tôi đã được hạnh phúc, và kinh nghiệm của vú với đàn ông êm ả hơn. 

Tôi không ví vú với Tô Thị, vú không có cái phẩm tiết ấy. Nhưng tôi thấy nơi vú cái hiện thân của văn hóa dân gian, cái văn hóa đã hư cấu ra và bảo tồn chuyện đá trông chồng. Cái xấu lẫn với cái tốt, cái xinh đẹp lẫn với cái thô bạo. Cái yêu đời tha thiết đầy đủ hai mặt. Mặt xấu là những phiêu lưu vô kỷ luật, nhưng mặt tốt lại bảo tồn cho cuộc sống tất cả sinh khí sinh lực của nó. Chính vú và những người đàn bà như vú khi kể lại sự tích nàng Tô cho con cháu đã không biên tập đi những gì không phải đạo với hiện tại, hay chính xác hơn với phong hóa mới định chế thành luật bởi những triều đại Lê Nguyễn và sau cùng nhập cảng thêm từ dân luật Nã Phá Luân...

Ngồi viết bài này, tôi bỗng thèm trở về vùng Cao Bắc Lạng. Lần này ngoài thú thăm lại thắng cảnh cũ, tôi sẽ tìm gặp để học hỏi thêm với những nhà học giả đã bỏ công nghiên cứu về miền đất phiên dậu của tổ quốc. Tin đồn đá Tô Thị đã bị sát nhập vào đất Trung Quốc làm tôi bất an. Theo câu nói đùa cay đắng của người dân Hà Nội, nàng Tô Thị đã bồng con sang Tàu. Với tôi, cả hai mẹ con đá vọng phu đã mang đi một kho tàng văn hóa quan trọng. 

Câu chuyện chưa rõ thực hư, vì nhà cầm quyền cho đến bây giờ không tiết lộ đã nhượng bao nhiêu đất, và nhượng đến đâu. Tôi hy vọng là lời đồn đãi không đích xác. Nhưng tin xấu không làm tôi tuyệt vọng. Tôi nghĩ đến một tiền lệ trong lịch sử của vùng đất nước này về chuyện thu hồi những lãnh thổ mất mát cho người láng giềng miền Bắc. Tiền lệ đó xảy ra dưới thời nhà Lý. Sau những chiến thắng oai hùng của Lý Thường Kiệt tại châu Ung, châu Khiêm và Như Nguyệt (1075-1077), ta và Tàu hòa đàm để hai bên trao trả đất lại cho nhau. Cuộc đàm phán gay go khi sứ Tàu không chịu đưa vào nghị trình những bản và động các tù trưởng các sắc dân thiểu số dâng cho nhà Tống. Sứ Tàu nói: 

“Nơi nào quân thiên triều chiếm đóng trong cuộc chiến thì nay mới trả lại. Còn những nơi các tù trưởng tự ý dâng nạp cho Tống thì không liên quan gì đến việc tranh chấp mà phải bàn tới.”

Chánh sứ của ta đã trả lời một câu sắc sảo sử Tàu còn ghi:

“Đất có chủ. Bọn tù trưởng trông coi cho chủ, đem đất đi dâng cho người khác là bọn ăn trộm. Sao Thiên Triều lại giữ đất ăn trộm để làm nhơ bẩn sổ sách của nhà vua.”

Đất tranh chấp là vùng bắc Cao Bắc Lạng, và chánh sứ Việt Nam là Lê Văn Thịnh, trạng nguyên đầu tiên của nhà Lý. 

Với võ như Lý Thường Kiệt và văn như Lê Văn Thịnh, ta thu hồi được phần lớn những đất đai đã mất. Châu đã về Hợp Phố. Không có lý do gì mà trong tương lai, nhân tài văn võ nước Nam sẽ không được như Kiệt như Thịnh một ngàn năm trước.


M.K.N.

Chú Thích:

Thơ văn vịnh đá Tô Thị:

Nguyễn Du có:

Vọng Phu Thạch
Thạch đa? Nhân đa? Bỉ hà nhân?
Độc lập sơn đầu thiên bách xuân
Vạn kiếp liêu vô vân vũ mộng
Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân
Lệ ngân bất tuyệt tham thu vũ
Đài triệu trường minh nhất đoạn văn
Từ vọng liên sơn diễu vô tế 
Độc giao nhi nữ thiện di luân”

Với bản dịch của Vũ Ngọc Khánh: 

Vọng Phu Thạch
Ai đây? là đá? là người?
Trơ trơ đầu núi đội trời bao năm
Thân người thanh bạch là thân
Ngàn đời mưa Sở mây Tần không ham
Mưa thu như lệ chảy tràn
Rêu in nét triện thành trang tâm tình
Bốn trời đồi núi mông mênh
Riêng người phụ nữ gương lành treo cao.

Nguyễn Huy Oánh có 

Vọng Phu Sơn
Hoa vi cốt cách ngọc vi thân
Tạo hóa trường lưu cữu thị then
Tích vũ sơ tình vân kế hiện
Hàm sơn đán thổ nguyệt mi thần
Nhạn thư tái ngoại truyền phương tín
Ba trữ giang trung chức cẩm vân
Kính tiết nham nham thùy tỉ tịnh
Ngã tâm phỉ thạch hữu trung thần”

Với bản dịch của Vũ Ngọc Khánh:

Vọng Phu Sơn
Hóa công lưu giữa hồng trần
Hoa cốt cách ngọc tinh thần là đây
Mưa ngưng hiện áng tóc my
Núi ôm đất ngậm nét mày trăng in
Ải xa cánh nhạn mừng tin
Sóng đưa núi gấm trên nền sông trong
Gương cao ai muốn sánh cùng
Lòng không phải đá cũng lòng trung can

Lý Văn Phức có‘Vọng Phu Sơn’:

Vọng Phu Sơn
Dĩ hỷ thùy phân muộn dữ kha
Các an ngô nghĩa nại ngô hà
Nhân sinh phong hóa quan tâm trọng
Thiên hiển luân thường phụ hồi đa
Thạc tọa thiên niên tồn khổ tiết
Nam suy kỷ độ phản chính đà
Liên cừ phong vũ không hành viễn
Bất vấn cô nhi vấn lão bà

Với bản dịch của Vũ Ngọc Khánh: 

Vọng Phu Sơn
Em gái anh trai, lọ phải bàn
Cũng đều vì nghĩa đã là hơn
Giữ nền phong hóa, niềm trân trọng
Hận đạo cương thường, nỗi xốn xang
Núi đá ngàn năm ôm tiết đắng
Mái chèo mấy độ ngóng nồm nam
Người đi xa mãi trong mưa gió
Vợ yếu con côi chẳng đoái màng.

Cao Bá Quátcó:

Vọng Phu Thạch
Độc lập sơn đầu đệ nhất phong
Chu điêu phấn tạ vị thùy dung
Âm thư cửu đoạn nhân hà xứ
Thiên hải vô nhai lộ ký trùng
Huyết lệ yên hòa minh nguyệt thấp
Hương hoàn vân tích lục đài phong
Thiên hoang địa lão tình do tạc
Dạ dạ xao tàn bích động chung

Với bản dịch của Vũ Ngọc Khánh:

Một mình đứng đỉnh non cao
Son phai phấn lạt, dám nào làm duyên
Người đi biền biệt vắng tin
Mênh mang trời biển dặm nghìn bao xa
Khói sương trăng đẫm lệ nhòa
Rêu xanh mây phủ ngỡ là tóc thơm
Tình còn trơ giữa tang thương
Chuông ngân động biếc đêm trường lại đêm




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét