Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

Mai Kim Ngọc: Du ký - Ai Lên Xứ Lạng (Kỳ 1)

Nàng Tô Thị, hình Internet

Những xôn xao thời sự về mất biển mất đất với Trung Quốc làm tôi nhớ lại nhiều sự việc liên hệ đến biên thùy Hoa Việt, trong đó có sự tích Tô Thị. Rồi tôi liên tưởng đến bài đồng dao‘Ai Lên Xứ Lạng’, nhắc đến tiết phụ hóa đá ngay trong câu 2. Và sau cùng, tôi nhớ đến một người đàn bà trẻ đẹp mà không may mắn, đã có hồi gắn bó mật thiết với cuộc sống của bản thân tôi. Người đàn bà đó là vú tôi, và vú thường ru tôi với bài ‘Ai Lên Xứ Lạng’... 

Một tam giác tình tự xuất hiện, tiềm tàng trong tâm thức tôi, với ba người đàn bà chiếm giữ ba góc. Đó là nàng Tô Thị, người đàn bà không tên trong ‘Ai Lên Xứ Lạng’, và vú tôi. Tôi không nghĩ đến tam giác này cho đến năm ngoái nhân tham quan vùng cửa sông Saint Laurent của Quebec, thấy người lại ngẫm đến ta, tôi cảm thấy phải ngồi xuống viết lại câu chuyện.

*

Bắt đầu bằng bài đồng dao. Tôi nhớ hôm đó tôi đã lớn, và tôi được nghe mẹ tôi ru cháu nhân dịp anh tôi mang vợ con về trình diện bà. Mẹ tôi ru:

“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh...”

Tôi buột miệng:

“Con biết bài hát này.” 

Và tôi đọc mấy câu tiếp theo:

“Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em
Tay cầm bầu rượu nắm nem
Mảng vui quên mất lời em dặn dò
Gánh vàng gánh bạc đi đổ sông Ngô
Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương...”

Mẹ tôi ngạc nhiên, vì đã lâu lắm nhà tôi không có trẻ con. Bài hát ru em rất Bắc Kỳ lại không phổ thông tại tỉnh lỵ miền Trung nơi chúng tôi đang cư ngụ. Còn nữa, tôi lớn lên với vú Cần, và vú không ru em bằng ca dao, mà thuộc lòng mấy ngàn câu thơ Kiều. Vú gốc gác khá giả ở nông thôn, cảnh nhà bất ngờ sa sút vì chuyện kiện tụng mới phải lên tỉnh làm vú. 

Tôi nghĩ tôi vẫn nằm mơ thấy người ta ru em bằng bài ca dao này. Tuy nhiên học ca dao khi nằm mê, nói ra nghe kỳ dị nên tôi lặng yên. Ba tôi ngồi đọc sách gần bên, có lẽ đã theo dõi câu chuyện nên bỏ tờ nhật trình xuống. Ông nhắc mẹ tôi là trước vú Cần, tôi còn vú khác hay ru em bằng sự tích Tô Thị.

“Vậy mà em quên đi mất...” mẹ tôi nói.

Tôi nghĩ mải ôm cháu, bà nói cho có nói. Nhưng ba tôi nói tiếp:

“Còn tôi thì không quên nổi vú Nguyệt. Chỉ vì vú mà tôi phải hai lần đích thân lên cẩm lãnh con và người làm về...”

Tôi không hẳn nhớ mà không hẳn quên người vú sữa của tôi. Vú thôi làm khi tôi chưa đầy hai tuổi. Vú lại không giữ liên lạc. Có thể tôi thuộc ‘Ai Lên Xứ Lạng’nhờ về sau đọc hay nghe ở một nơi khác, thay vì nghe vú ru mà nhớ khi còn là một hài nhi. 

Chuyện ba tôi phải lên cẩm (sở cảnh sát thời Pháp bảo hộ) lãnh vú và tôi về làm tôi tò mò. Và kỳ lạ chưa, những sự kiện gom góp về vú được nghe lần đầu mà cảm thấy quen thuộc như nhớ lại từ một giấc mơ. 

Như ba tôi nói, vú tên Nguyệt, một cái tên ít thấy nơi gái quê. Vú còn trẻ, đẹp người, qua tấm ảnh gia đình trong đó tôi được vú bế. Khác với vú Cần, vú Nguyệt là vú sữa. Nghe nói sữa vú rất tốt, tôi chóng lớn ít đau ốm vặt, nên mặc dầu vú nhiều tật, mẹ tôi cũng gắng chiều, cho đến khi chiều không nổi. 

Tật nhẹ của vú là ham ăn quà. Tật này thật ra cũng không nặng, nhưng thú chắn cạ của vú tạo nhiều phiền phức cho mọi người. Vú lại thích trai, có hồi mê anh tài xế của ông đốc thú-y trước nhà tôi, lần khác vú nhìn với con mắt có đuôi bác tùy phái tòa đốc lý có lần đến nhà tìm ba tôi vì việc sở. Nhưng mối tình lớn của vú -tuy một chiều- là anh lính khố xanh con trai bà già bán hàng nước góc phố bên cổng chùa Tàu sát hội quán Quảng Đông. Hàng nước này ngoài chuyện bán quà bánh vặt, thỉnh thoảng còn có đám chắn hay xóc đĩa. Trong dạng thức đơn sơ nhất, đây là một câu lạc bộ bình dân đầy đủ giải trí cũng như ẩm thực. Khách hàng là giới phu xe, đám chị sen anh nhỏ, hay mấy người nhà quê lên tỉnh có việc quan. Vú Nguyệt hay bế tôi đến đây, vừa tiện ăn quà đánh bạc, vừa tiện ngắm dung nhan anh lính khố xanh chưa vợ mỗi khi anh chàng xuất trại về thăm mẹ. 

Chính tại đây vú bị cẩm bắt về tội đánh bạc. Vú thoát hiểm nhiều lần, nhờ nhanh mồm nhanh miệng, cũng như đôi mắt lẳng lơ. Nhưng nhân viên công lực ngay thời Pháp thuộc cũng có người thanh liêm cương trực, không rơi vào mỹ nhân kế của vú. Lần đầu được lãnh về, vú khóc lóc với mẹ tôi và hứa từ nay xin chừa. Lần thứ hai, ba tôi tình cờ gặp người tuần viên đã bắt vú. Anh ta cho hay là khi bị bắt, vú đang dở ván chắn sắp ù to, và tôi đang bò một mình trên xi măng thềm cửa bốc cát bỏ vào miệng. Giọt nước cuối cùng đã tràn ly, và mẹ tôi cho vú nghỉ. Bà thuê vú Cần thay thế và đổi qua nuôi tôi bằng sữa đặc có đường.

Tôi nghĩ nếu quả thật tôi đã học thuộc mấy câu ru em trong lúc còn bế ngửa, chưa biết nhìn mà cũng chưa biết nghe, thì thần thức trẻ thơ đã có khả năng chọn lựa. Ngoài mấy câu hát, tôi không nhớ gì thêm về những sinh hoạt của thế giới vỉa hè, nơi vú ăn quà, đong đưa, và đánh bạc. Trên những chiếc ghế gỗ thấp của hàng nước, bao nhiêu anh phu xe giữa hai cuốc xe đã ngồi uống bát chè tươi hay kéo điếu thuốc lào, bao nhiêu chị hàng xén đã hạ gánh để tạm dưỡng đôi vai ê ẩm, bao nhiêu bác nhà quê lên tỉnh đã dừng lại ăn chiếc bánh gai lót bụng trước khi vào dinh hầu quan. Ấy là chưa kể bao nhiêu cô Sen cậu Nhỡ đã tỏ tình với nhau hay hùa nhau nói xấu chủ. Tất cả những con người ấy đã hồn nhiên sinh hoạt trước mặt đứa hài nhi mà họ cho là chưa biết gì, với tất cả vui mừng, lo âu, yêu đương, giận ghét. Vậy mà tôi chỉ nhớ bài hát ru em của vú Nguyệt... 

*

Có khi rảnh rỗi, tôi tìm hiểu nội dung của bài đồng dao. Tôi không có vấn đề gì với hai câu đầu. Chúng gọn ghẽ và mạch lạc, xác định vị trí của một vùng phiên dậu đất nước với những thắng cảnh nổi danh:

“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa...
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

Nhưng hai câu tiếp đã làm tôi suy nghĩ:

“Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em...”

Rõ ràng là một truyện tình, có ‘anh’ có ‘em’. Nhưng anh em nào? Xem ra không phải là chuyện tình của nàng Tô, mà cả đá Tô Thị lẫn xứ Lạng chỉ là bối cảnh cho một cuộc tình hậu sinh khác. Cuộc tình này khác với những cuộc tình trong văn học cổ điển của các tác giả khoa bảng. Nó rất hiện đại không phải chỉ vì chữ ‘anh’ chữ ‘em’ trai gái ngày nay vẫn xưng hô với nhau, mà nội dung rất gần với sự sống và ngồn ngộn sinh lực. Xem ra người con gái tỏ tình trước. Không đợi mà cũng không bắt chàng phải van xin ‘Đài gương soi đến dấu bèo,’ nàng thú thực và cảm ơn tình lang cái ân sủng được gặp và được yêu. Nàng nói:

‘Bõ công bác mẹ sinh thành ra em.’ 

Lời thú nhận mới chân thành làm sao. Tình chàng làm cuộc sống của em có ý nghĩa. Duyên này nếu không xảy ra thì cả cuộc sống đã không đáng công cha mẹ sinh thành. Người nữ đã đầu hàng tất cả cho tình yêu, không còn chút e lệ hay kiêu kỳ thường tình. 

Vậy mà sự việc vẫn không thể hiểu lầm là thiếu tự ái hay tự trọng. Câu nói xứng đáng thoát ra từ miệng một công chúa hay một nữ tì. Không đẳng cấp, nó là sự hiến dâng trọn vẹn và không điều kiện của tình yêu thăng hoa.Chuyện hiếm hoi quý như kỳ nam hay sừng tê giác, phải chăng chỉ xảy ra một lần trong đời người đàn bà, hay có khi không bao giờ xảy ra. Và người tình lang có diễm phúc được nghe lời thú nhận ấy, chắc sẽ ghi tạc vào lòng để mỗi khi nhớ lại sẽ nhớ theo cả một trời êm ả và hạnh phúc. 

Trong văn học khoa bảng, hiếm có những lời tỏ tình như vậy. Kiều chỉ nói được với Từ Hải, ‘Đến bây giờ mới thấy đây, mà lòng đã chắc những ngày một hai.’ Và Ôn Như Hầu cũng chỉ viết được ‘Bõ công đặt cái khăn ngày tắc ơ.’ 

Sự đam mê không tính toán của người nữ trong ca dao làm tôi nghĩ đến vú Nguyệt. Mẹ tôi đoán vì vú đã không chồng mà chửa nên sinh nở xong phải cho con đi rồi kiếm sống bằng nghề vú em. Phải chăng cái đam mê vô kỷ luật của vú đã tạo ra hoàn cảnh khó khăn cho vú. Có lúc tôi nghĩ đến những người đàn ông đã đến với vú. Nghe kể vú đam mê thế nào với những đàn ông sau này, tôi đoán vú phải đam mê lắm với người đàn ông đầu đời của vú. Tôi chắc vú đã được sống những giây phút nhiệm màu để có thể nói như người đàn bà của ca dao, là ‘Bõ công bác mẹ sinh thành ra em.’

Vú đã phải cho con cho người khác nuôi, cuộc tình của vú đã không êm ả. Người đàn ông của vú đã bạc tình như anh chàng bạc tình trong câu năm và sáu của ca dao:

Tay cầm bầu ruợu nắm nem
Mảng vui quên hết lời em dặn dò...

Đây là lời trách của người nữ. Lời trách cay đắng mà không nặng nề. Người đàn ông phụ bạc không bị đồng hóa với tên Sở Khanh. Nàng vẫn thấy nét phong lưu lãng tử nơi kẻ bạc tình. Người trai xứ Lạng sinh động trong cuộc chơi, tay bầu rượu tay nắm nem, ham vui đến nỗi quên mất người em bé nhỏ ở nhà. Xem ra y còn phong lưu hơn chàng Thúc trong Kiều với ‘Thúc Sinh quen thói bốc giời, trăm ngàn đổ một trận cười như không...’ Tốt lẫn với xấu, người tình lang của ca dao hiện thực như bước ra từ một tiểu thuyết hiện đại... 

Còn nữa, kẻ bạc tình biết hối tiếc sau khi lỗi lầm. Anh ân hận đã không trân trọng tấm tình mà bây giờ anh mới biết là quý hóa như vàng như bạc của người em gái nhỏ. Ân hận theo anh đêm ngày, ngủ rồi mà trốn cũng không được: 

Gánh vàng gánh bạc đi đổ sông Ngô
Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương...

Tôi nghĩ người đọc dù phái nữ cũng thấm thía với cái dằn vặt ăn năn của lãng tử mà tha thứ cho tội bạc tình tổ tông của nam giới, không nhiều thì ít, không trong hành động thì cũng trong tư tưởng... 

Có lần viết báo lớp, tôi lấy đề tài ‘Những Bài Hát Ru Em’ và chép lại bài ca dao. Cha tôi xem qua rồi lưu ý tôi là nên sửa ‘Bõ công...’ thành ‘Tiếc công...’ vì ông nghĩ không có dị bản nào có chữ ‘Bõ công.’ Ông lại bảo, câu 5 là ‘Gánh vàng đi đổ sông Ngô,’ thay vì ‘Gánh vàng, gánh bạc đi đổ sông Ngo.’ Tôi rắn đầu không theo lời cha. Tôi biết có nhiều dị bản khác nhau cho bài đồng dao, nhưng tôi không tin dị bản nào hay bằng dị bản tôi nghĩ đã nghe vú ru. Có lẽ chữ ‘Bõ công’ nó phản ánh đúng hơn cái tính đam mê của vú Nguyệt như tôi đã được nghe kể lại. Còn chữ ‘gánh bạc’ ở câu 5 thêm cái kể lể tha thiết vào âm hưởng. Thật ra chính bản thân tôi cũng thích một nhân vật nữ đam mê đến chỗ đủ can đảm bước qua vòng phấn của quy ước, dẹp đi mọi tự ái, và thú nhận trước với tình lang, là nhờ gặp chàng mà cuộc sống của em đáng sống... 

Tôi nghĩ đến đứa con của vú, không biết trai hay gái, đứa con mà phần sữa của nó đã thành da thịt của tôi. Tôi biết không có gì có thể thế chỗ cho máu mủ, và không bao giờ tôi có thể thế chỗ đứa con vì hoàn cảnh vú đã phải cho đi. Nhưng tôi vẫn nghĩ vú thương tôi. Chính mẹ tôi cũng công nhận điều này. Mùa hè, vú cũng không quản nóng nực, nằm ôm tôi suốt những giấc ngủ trưa cho tôi khỏi giật mình. Vú săn sóc tắm rửa cho tôi sạch sẽ, trau chút từng chiếc áo lót cho tới đôi tất sợi. Hai chiếc giày con nít, vú bao giờ cũng thắt dây cẩn thận thành hai cánh bướm gọn ghẽ. Vú kiêu hãnh cho tôi là kháu khỉnh hơn những trẻ con cùng tuổi trong xóm. Nếu không vì những ván bài sắp ù hay sắp thua, hay những giây phút bị anh lính khố xanh thu hồn, vú không bao giờ để tôi lê la trên xi-măng bốc cát bỏ vào miệng. 

Trong dân gian, người ta tin rằng uống sữa vú thì giống tính vú. Tất nhiên là niềm tin không có căn bản y học, nhưng mỗi khi bắt chợt ghi nhận mình đang làm chuyện gì, hay nghĩ chuyện gì với sự tha thiết bất thường, tôi lại liên tưởng đến những đam mê của vú mà người ta kể lại. 

Và đôi khi tôi nghĩ đến cuộc sống vỉa hè của vú, khi mê mệt trên chiếu bạc, khi ruồng rẫy đám phu xe mà vú ghét, khi đong đưa gợi tình với người lính khố xanh bảnh trai, cuộc sống ấy vú đã cho tôi dự phần hơn một năm trời như một nhân chứng hài nhi chưa biết nói, chưa biết nhìn, và chưa biết nghe. Tuy tôi thường cho rằng mình đã không ghi nhận chút gì những chuyện bèo bọt này, nhưng đôi khi tôi phải thắc mắc mà xét lại. Đó là những lần viết lách, bỗng cảm thấy có khả năng thấy được cái đẹp của sự sống dưới cái vỏ ngoài lam lũ tầm thường, tôi tự hỏi phải chăng đây là nhờ kinh nghiệm những ngày thơ ấu lê la với vú tại quán nước vỉa hè...

*

Tôi đã nói xong chuyện vú Nguyệt và bài ru em của vú. Đã đến lúc tôi đề cập đến cái đỉnh thứ ba của tam giác tình tự là hòn đá trông chồng Tô Thị. 

Tôi được mục kích đá Tô Thị cách đây ít năm, nhân vụ đi thăm hồ Ba Bể rồi tạt vào. Kỳ ấy, vừa ngắm cảnh, vừa tìm tài liệu đọc, tôi tiếp thu được một số kiến thức về ba hòn đá trông chồng của nước ta. Hòn ở Bình Định tôi chưa được thấy. Hòn ở Thanh Hóa, tôi đã có dịp thăm viếng từ hồi Pháp thuộc, là một nơi tôi có nhiều kỷ niệm, lại hư cấu thêm nhiều sự việc trong khi sáng tác văn học. Có dịp tôi sẽ trở lại thắng cảnh này. Dù sao, nổi danh nhất cũng là hòn Tô Thị của Lạng Sơn.

Cũng như nhiều chuyện khác trên đời, chuyện nàng Tô Thị tôi nghe đã hơn nửa thế kỷ, vậy mà kiến thức cũng như thưởng lãm của tôi không tiến không lùi, không đi sâu hơn được quá nghĩa hẹp của từ. Và cứ như vậy cho đến hôm đạp xe trên hải đảo cửa sông Saint Laurent, những chi tiết bỗng tổng hợp lại, và tôi bắt dược phần nào cái ý nghĩa sâu xa của huyền thoại. Hiểu rồi, tôi thấy kiêu hãnh về văn hóa dân gian của quê cũ. Không ở đâu khác, cái giá con người phải trả cho nếp sống văn minh quy củ được ghi lại đầy đủ và đẹp như vậy. Tôi nghĩ đá Tô Thị là một viên ngọc quý cho kho tàng nhân chủng học không những cho Việt Nam mà còn cho cả nhân loại... 

Sự tích của cả ba hòn đá trông chồng tương tự giống nhau. Đại khái có hai anh em nhà kia, vì tai nạn bất thường lạc nhau từ hồi thơ ấu, về sau gặp nhau vô tình mà kết duyên vợ chồng. Họ sanh được một con trai. Tình cờ người chồng biết sự thật. Vẫn giấu vợ, anh bỏ nhà ra đi và không trở về. Người vợ lên non trông chồng, đợi mãi không thấy, sau cùng hóa đá. Cốt truyện chung là vậy, còn mỗi nơi lại thêm ít nhiều tình tiết địa phương. Ở Bình Định, người anh chặt mía cho em ăn, dao sút cán chạm vào đầu cô bé. Sợ em chết, người anh bỏ trốn. Về sau tình cờ gặp lại em, yêu em và lấy em làm vợ mà không biết mình đã mắc tội loạn luân. Nàng vọng phu đất Thanh cũng lấy lầm anh ruột làm chồng, cũng hóa đá, chỉ khác là trước khi hóa đá, nàng đã sắp thuyền ra khơi tìm chồng. Lên núi lần chót để nhận phương hướng, nàng bị cơn giông bất chợt ập tới nên hóa đá. Chiếc thuyền cũng hóa đá luôn. Còn ở Lạng Sơn, có ba dị bản khác nhau về nàng Tô Thị. Hai bản, một Nùng một Kinh, khá giống nhau. Bản Nùng thì kể hai anh em mồ côi vào rừng kiếm củi. Người anh chặt cây nho dại kiếm nước trong ruột cây cho em uống, chẳng may tuột tay dao nên gây thương tích cho em. Tưởng em chết, người anh bỏ chạy, về sau được một phú ông nuôi làm con nuôi. Người em không chết, được hổ tha về bỏ tại túp lều một gia đình tiều phu... Còn theo bản Kinh thì hai anh em họ Tô có cha có mẹ, nên nàng vọng phu mang tên Tô Thị. Thương tích là do anh nhặt đá ném chim, đá bay lạc trúng vào đầu em làm em bất tỉnh. Sợ em chết, anh bỏ nhà trốn sang Tàu... Khi khám phá ra tội loạn luân của mình, người anh trăn trở dầy vò mà không cho vợ hay. Nhân vua gọi lính, anh tòng quân, dặn vợ ba năm không thấy về thì cứ việc đi lấy người khác. Nàng thủ tiết ba năm không thấy chồng về, vẫn kiên gan đợi tiếp. Một hôm lên non trông chồng, nàng không trở xuống lại. Khi dân làng lên tìm thì nàng đã hóa đá.

Dị bản thứ ba của đá Tô Thị thì đặc biệt ở chỗ hoàn toàn khác hẳn tất cả những dị bản khác. Nó chỉ minh họa sự chung thủy vợ chồng mà hoàn toàn tách rời khỏi chuyện loạn luân. Ở đây cô gái gốc miền Trung, con nuôi vị quan họ Tô, giỏi thêu thùa. Chồng tên Khiêm đi lính ngoài Bắc lâu mãi không về. Nàng thêu sớ lên gấm dâng vua, xin cho chồng về. Vua thương tình cho nàng ra biên giới tìm chồng mà đoàn tụ. Tới Lạng Sơn, nàng ra lễ chùa Tam Thanh, rồi lên núi để định hướng tìm chồng và hóa đá trên ấy. Dị bản này không phổ thông vì có tính cách áp đặt.

Về Mỹ, tôi quên chuyện đá Tô Thị một thời gian khá lâu. Chữ chung thủy ở văn hóa này không được đặt lên đỉnh cao như ở nước ta. Tôi nghĩ chuyện chung thủy không sâu đậm trong lòng, nên chi người Mỹ nhìn ra ngoại cảnh không thấy được đá vọng phu. Lục địa Bắc Mỹ bao la, bao nhiêu là núi non mà không có được dù một hòn đá trông chồng.

*

Vậy mà năm ngoái tôi biết mình lầm, nhân chuyến đi thăm một hòn đảo nhỏ vùng cửa sông Saint Laurent của Gia-Nã Đại gốc Pháp. Hòn đảo chu vi khoảng 10 hải lý, ước lượng bằng đồng hồ tốc độ tình cờ gắn sẵn trên chiếc xe đạp anh bạn thuê cho để đi vãn cảnh. Anh bảo:

“Đảo nên thơ lắm. Đảo lại có một kỳ quan có một không hai tại Bắc Mỹ.” 

Hỏi kỳ quan gì mà mấy chục năm ở lục địa này tôi chưa từng nghe, anh bí mật trả lời tới nơi rồi sẽ biết...

Trên đường, tôi đạp theo anh qua khu thị tứ, ghi nhận quyền lực rất lớn trên đảo của một vọng tộc. Họ có mặt khắp nơi. Những danh tính nào Jacques D., nào Robert D., nào Juliette D., nào Louis D. được kẻ lên hông xe vận tải, lên cửa siêu thị, lên cổng nhà máy phó mát, lên mái xưởng giấy, lên mũi phà và tầu chạy sông. Phố chính mang tên Francois D... Nhưng anh bạn tôi cũng công nhận là vọng tộc này biết bảo vệ môi sinh. Họ gom nhà máy, tiệm buôn, kho hàng vào một khu gần bến phà, phần đảo còn lại giữ hoang vu để bảo tồn thiên nhiên. Nghe nói gia đình này mới tới đảo khoảng trăm năm nay. Siêng năng và thông minh lại biết đùm bọc nhau, họ sớm thành công. 

Khi sắp tới thắng cảnh, anh bảo tôi sẽ thích công viên ‘La Roche Pleureuse’ này. Tôi nghĩ cái tên khá đặc biệt, và lẩm nhẩm dịch cho mình là ‘Đá biết khóc.’ Anh bạn có hồi đã ở Sài Gòn, khá thông thạo tiếng Việt. Anh nửa trêu nửa trách, bảo nhà văn mà chữ nghĩa nặng thế. ‘Đá biết khóc’ nghe như ‘Khỉ biết đi xe đạp’ hay ‘Chó biết nhảy vòng lửa,’ thích nghi với chuyện kỳ lạ hơn là đau thương. Sao không gọi là ‘Đá khóc’ vừa gọn, vừa đúng với cái buồn của cô gái mất người yêu. 

Mươi phút sau, chúng tôi đến công viên ‘Đá Khóc.’ Hòn đá hình trứng, cỡ người đàn bà trung bình nhưng tất nhiên không có đầu, không có mình cũng như tay chân. Đá dựa vào vách đá, giữa vô vàn hoa dại, vàng có tím có. Một dòng nước từ kẽ nứt ngang đỉnh chảy tràn xuống. Nước rất trong, tục truyền là nước mắt của đá trông chồng. Sự tích được tóm lược trên tấm bảng đồng dựng bên cạnh. Đỡ cho tôi phải đọc những hàng chữ nhỏ li ti, anh bạn kể rằng một mùa Giáng Sinh năm xưa, có cô gái xinh đẹp được người con trai họ D. đón về đảo làm vợ. Anh gửi tạm cô tại một quán trọ để trở lại đất liền sắm sửa quần áo vòng nhẫn, cũng như quà Giáng Sinh cho mọi người. Anh hẹn chỉ hai hôm sẽ trở lại đón cô về nhà để giới thiệu với gia đình và cử hành hôn lễ. 

Đúng hẹn, cô gái ra bến đợi từ sớm, đến chiều anh vẫn biệt tăm. Đêm xuống, một cánh buồm hiện ra phía đầu đảo làm cô mừng rỡ chạy lên sườn đồi để nhìn cho rõ. Nhưng thuyền không cặp bến, tiếp tục đi về cuối đảo và mất hút phía hạ lưu. Ngày sau và ngày sau nữa cô gái vẫn đợi. Sau cùng người chồng chưa cưới trở về. Anh không thấy cô đâu, chỗ cô đứng xuất hiện hòn đá và dòng suối này... 

Gia đình họ D. bấy giờ đã có bề thế, có người trở thành đại doanh thương ở Montreal, có người làm chính trị tới chức dân biểu nghị sĩ tại Quebec và Ottawa. Họ khoanh đất xung quanh hòn đá lại thành hoa viên ‘La Roche Pleureuse.’ Đã giàu có và thế lực, vọng tộc của đảo giờ đây lại được tô điểm thêm huyền thoại của một chuyện tình buồn và đẹp.

“Anh có tin không?” anh bạn hỏi. Như miễn cho tôi câu trả lời, anh bảo nếu tôi có không tin thì anh cũng không buồn, vì anh không có liên hệ gia tộc với những người họ D. Mới một trăm năm, huyền thoại chưa đủ sương khói quá khứ để thành huyền thoại. Anh lại bảo chẳng qua là cô gái đợi chán bèn bỏ đi thôi. Cô gái tứ cố vô thân giữa bến vắng chiều đông, trở lại nhà trọ có thể không tiện vì tiền phòng tiền ăn mấy bữa chưa ai thanh toán. Nên chi trốn về đất liền cũng là thượng sách. Thủa ấy những mỏ vàng miền bắc này khan hiếm đàn bà, cô nàng đi đâu chẳng được, tội gì phải chờ đợi anh chàng trại chủ cù lần. 

Chúng tôi cùng cười, nhưng cười xong cảm thấy không còn gì để nói thêm. Cảnh đá giả cây trồng chỉ có thế, cùng lắm chỉ là hòn non bộ khéo cắt tỉa. Sự việc cô gái tây phương thất tình đơn giản như năm phút du khách dừng lại ngắm cảnh, và tâm tình vọng tộc D. vì mất thể diện mà dựng lên huyền thoại cũng chỉ vỏn vẹn thế thôi.

(Còn tiếp một kỳ)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét