Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2018

Phan Thượng Hải: Thơ Mộng Hoàng Hạc Lâu


Hoàng Hạc Lâu ở bên bờsông Trường Giang (sông Dương Tử), thuộc thành phố Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Hoàng Hạc Lâu được xem là một trong bốn tứ đại danh lâu của Trung Quốc và là ngôi lầu nổi tiếng với bài thơ "Hoàng Hạc Lâu" của Thi sĩ Thôi Hiệu đời nhà Đường. Ba ngôi lầu nổi tiếng kia là: Nhạc Dương Lâu, Đằng Vương Các và Bồng Lai Các.

Bố Cục
Hoàng Hạc Lâu (trang 1)
Thơ Chữ Hán 
      Thôi Hiệu (trang 2)
      Lý Bạch (trang 6)
      Đường Thi (trang 8)
      Sứ Thần Nước Việt (trang 9)
Thơ Chữ Quốc Ngữ 
      Thơ Dịch bài thơ của Thôi Hiệu (trang 16)
      Thơ Sáng tác (trang 20)
Kết Luận (trang 21)

HOÀNG HẠC LÂU

Hoàng Hạc Lâu là ngôi lầu được xây dựng ở trên ghềnh đá "Hoàng Hạc" của núi Xà Sơn thuộc huyện Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc. 

Có 3 truyền thuyết cho rằng có người thấy:

Tiên ông Vương Tử An (Wang Zi An) cởi hoàng hạc từ ghềnh đá nầy của núi Xà Sơn mà bay lên trời.

Tiên ông Phí Văn Vi (Fei Wen Yi) cởi hạc hạ cánh xuống nghỉ ở ghềnh đá nầy.

Tiên ông Lữ Đồng Tân (Lu Dong Bin) trong Bát Tiên từ trời giáng hạ xuống Xà Sơn.

Do đó ngôi lầu nầy có tên là Hoàng Hạc Lâu.

Theo như lịch sử thời Tam Quốc, sau khi thắng Quan Vũ (Quan Công) và chiếm đất Kinh Châu của nước Thục (gồm 2 tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam bây giờ) vào năm 219; triều đình nước Ngô dưới thời Tôn Quyền cho xây 1 tòa thành (Citadel) ở Vũ Xương để phòng thủ đường sông Trường Giang thì Hoàng Hạc Lâu đầu tiên được xây cất cùng một lúc ở đây (năm 223).

Hoàng HạcLâu ngày xưa là nơi gặp mặt tao đàn của các văn nhân mặc khách đương thời. Trong thời Đường (618-907), các thi nhân đến Hoàng Hạc Lâu để vừa thưởng ngoạn phong cảnh non nước mây ngàn hữu tình, vừa uống rượu làm thơ.

Đến nay đã gần 1800 năm Hoàng Hạc Lâu đã có 12 lần bị thiêu hủy(vì chiến tranh), 12 lần xây cất lại. Năm 1957 khi cây cầu đầu tiên vượt sông Trường Giang được xây cất, vị trí cũ của Hoàng Hạc Lâu bị trưng dụng và các kiến trúc Hoàng Hạc Lâu được dời cách vị trí cũ 1 km.

Tháng 10 năm 1981, Hoàng Hạc Lâu được tái thiết và tháng 6 năm 1985 được khánh thành. Đó là một công trình được xây lại bằng vật liệu hiện đại và có một cầu thang máy. Hoàng Hạc Lâu hiện đại nằm trong Hoàng Hạc Công Viên là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước Trung Quốc.

Hoàng Hạc Lâu nằm ở Vũ Xương ngay chỗ sông Hán Thủy chảy vào sông Trường Giang làm thành như hình chữ "nhân" (của Hán tự). Hai con sông nầy chia Thành phố Vũ Hán (Wuhan) ra làm 3 vùng: Vũ Xương (Wuchang) ở hữu ngạn sông Trường Giang và Hán Khẩu (Hankou) và Hán Dương (Hanyang) ở tả ngạn sông Trường Giang (2 bên bờ sông Hán Thủy). 

Mặt tiền của Hoàng Hạc Lâu (ở Vũ Xương) nhìn qua Hán Dương bên kia bờ sông Trường Giang. Bãi Anh Vũ ở bờ sông Trường Giang, thuộc Hán Dương.


THƠ CHỮ HÁN (HÁN TỰ)


1) Thôi Hiệu


Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng với một bài thơ của Thôi Hiệu (710-754) làm vào thế kỷ thứ 8. Có sách cũ viết là "Thôi Hạo".

HOÀNG HẠC LÂU 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ 
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu 
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 
Bạch vân thiên tái không du du 
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ 
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu 
Nhật mộ hương quan hà xứ thị 
Yên ba giang thượng sử nhân sầu. 

(Thôi Hiệu)

* Nội Dung bài thơ
(Dịch nghĩa)

HOÀNG HẠC LÂU (= LẦU HOÀNG HẠC)

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
= Người xưa đã cỡi hoàng hạc (=hạc vàng) đi(rồi)

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
= Đất ấy không chở (đi) Hoàng Hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 
= Hoàng hạc (=hạc vàng) một đi không trở lại lần nữa

Bạch vân thiên tái không du du 
= Ngàn mây trắng lửng lơ đầy bầu trời

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ 
= Sông quang tạnh (thấy) rất rõ ràng cây (của vùng đất) Hán Dương

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu 
= Cỏ thơm buồn bã tịch mịch bãi (đất bồi) Anh Vũ

Nhật mộ hương quan hà xứ thị
= Trời tối quê nhà là nơi đâu?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
= Khói sóng trên sông khiến người (thấy) buồn (=sầu).

(DịchThơ)

Hạc vàng ai cởi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

(Tản Đà)

Nội Dung của bài thơ có 3 Đoạn:

Đoạn 1 kể chuyện người xưa cỡi hạc đi không trở lại chỉ còn ngôi lầu Hoàng Hạc:
Người xưa đã cỡi hoàng hạc (=hạc vàng) đi(rồi)
Đất ấy không chở (đi) Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc (=hạc vàng) một đi không trở lại lần nữa

Đoạn 2 tả cảnh chung quanh trên dưới lầu Hoàng Hạc:
Ngàn mây trắng lửng lơ đầy bầu trời
Sông quang tạnh (thấy) rất rõ ràng cây (của vùng đất) Hán Dương
Cỏ thơm buồn bã tịch mịch bãi (đất bồi) Anh Vũ

Đoạn 3 tức cảnh sinh tình, nhìn sông (Trường Giang) vào buổi chiều mà buồn nhớ quê nhà:
Trời tối quê nhà là nơi đâu?
Khói sóng trên sông khiến người (thấy) buồn (=sầu).

Bài thơ không tả "Hoàng Hạc lâu" ra sao.

Bố cục không theo đúng thể thức "Đề, Thực Luận, Kết" của Thơ Đường cổ điển.

* Hình Thức của bài thơ

Trên lý thuyết bài thơ được sắp theo thể thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú.

Nếu như vậy thì bài thơ thất luật.

- Thất Luật 1:

Trước hết là "trật âm luật"
Những chữ in đậm là những chữ trật âm luật:

HOÀNG HẠC LÂU 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ 
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu 
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 
Bạch vân thiên tái không du du 
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ 
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu 
Nhật mộ hương quan hà xứ thị 
Yên ba giang thượng sử nhân sầu. 

(Thôi Hiệu)

- Thất Luật 2:

Câu 3 và câu 4 phải "đối" nhau nhưng chúng đối không chỉnh trong bài thơ:

HOÀNG HẠC LÂU 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ 
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu 
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 
Bạch vân thiên tái không du du 
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ 
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu 
Nhật mộ hương quan hà xứ thị 
Yên ba giang thượng sử nhân sầu. 

(Thôi Hiệu)

- Thất Luật 3:

Nói về vần thì nếu Câu 1 không có vần, nó phải đối với Câu 2. Câu 1 của bài thơ không có vần mà lại đối không chỉnh với câu 2:

HOÀNG HẠC LÂU 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ 
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 
Bạch vân thiên tái không du du 
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ 
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu 
Nhật mộ hương quan hà xứ thị 
Yên ba giang thượng sử nhân sầu. 

(Thôi Hiệu)

- Thất Luật 4:

Cuối cùng, bài thơ có điệp ngữ một cách không thứ tự hay không cân đối. 

Chữ "hoàng hạc" có thể được dùng lại ở câu 1 và 2 nhưng không được dùng ở câu 3 vì như vậy thì không khéo.

Chữ "khứ" ở câu 1 dùng lại một cách vụng về ở câu 3.

HOÀNG HẠC LÂU 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu 
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 
Bạch vân thiên tái không du du 
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ 
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu 
Nhật mộ hương quan hà xứ thị 
Yên ba giang thượng sử nhân sầu. 

(Thôi Hiệu)

Bài thơ nầy thất luật rất nhiều nhưng mọi người đều cho là tuyệt tác nên Thi sĩ Quách Tấn trong sách "Thi Pháp Thơ Đường" của mình đành dùng từ ngữ "phá luật" cho bài nầy chứ không dám dùng từ ngữ "thất luật"!

* Hình Thức khác của bài thơ

Theo Trần Trọng San thì có một bản khác của bài thơ chỉ khác 2 chữ ở câu 1: Chữ "bạch vân" thay thế chữ "hoàng hạc" ở câu 1:

HOÀNG HẠC LÂU 

Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ 
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu 
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 
Bạch vân thiên tái không du du 
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ 
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu 
Nhật mộ hương quan hà xứ thị 
Yên ba giang thượng sử nhân sầu. 

(Thôi Hiệu)

Nếu theo hình thức của bản nầy, Bài thơ không thất luật 3 và 4.

- Câu 1 và 2 đối chỉnh

- Điệp ngữ "bạch vân" và "hoàng hạc" đều là điệp ngữ khéo léo vì có thứ tự và cân đối.

Câu 1 lại không trật âm luật.

Tiếc thay bản nầy không được ai kể đến cho tới bây giờ! Nếu dùng nó và sửa chữ "khứ" (thành chữ khác có âm Bằng) và sửa chữ kép "du du" (thành 2 chữ đơn khác nhau) thì bài thơ có hình thức toàn hảo (perfect). Điều nầy nào có khó khăn cho một Thi sĩ như Thôi Hiệu?

HOÀNG HẠC LÂU 

Tích nhân dĩ thừa bạch vânkhứ 
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu 
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 
Bạch vân thiên tái không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ 
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu 
Nhật mộ hương quan hà xứ thị 
Yên ba giang thượng sử nhân sầu. 

(Thôi Hiệu)

2) Lý Bạch


*
Lý Bạch (701-762) bị tội phải đi đày xuống ở miền nam Trung Quốc (năm 758). Trên đường đi, tới Vu Sơn, Tứ Xuyên thì được triều đình tha tội (năm 759). Ông ghé qua ở vùng Hán Dương của Hoàng Hạc Lâu (năm 759-760). Tương truyền Lý Bạch khi thăm Hoàng Hạc Lâu đọc bài thơ của Thôi Hiệu (chết năm 754) thì có đọc lên hai câu thơ:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc 
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

(Lý Bạch) 

Dịch nghĩa:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
= Trước mắt có cảnh (mà) đạo lý không thích hợp,hay:Trước mắt có cảnh (mà) nói không được (nên lời).

Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
= Thôi Hiệu (đã)đề thơ ở trên đầu (của ta).

Đọc 2 câu thơ nầy ta khó lòng biết được ý của Lý Bạch là khen hay chê bài thơ của Thôi Hiệu, chỉ biết là ông không muốn làm thơ vì bài thơ của Thôi Hiệu đã "tại ngay trên đầu (của ông)".

*

Tuy không làm bài thơ nói về Hoàng Hạc Lâu nhưng Lý Bạch có làm 3 bài thơ có liên quan tới Hoàng Hạc Lâu trong khi ông ở vùng Hán Dương (759-760).

TỐNG MẠNH HẠO NHIÊN CHI QUẢNG LĂNG

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu
Yên hoa tam nguyệt hạ Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tuế lưu.

(Lý Bạch)

TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG (Dịch)

Cố nhân từ giã lầu Hoàng Hạc
Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu
Bóng buồn mất hút trong trời biếc
Chỉ thấy Trường Giang trôi chảy mau.

(Trần Trọng San dịch)

ĐỀ BẮC TẠ BI

Nhất vi thiên khách khứ Trường Sa
Tây vọng Trường An bất kiến gia
Hoàng Hạc Lâu trung xuy ngọc địch
Giang thành ngũ nguyệt lạc mai hoa.

(Lý Bạch)

Chú thích:

Bắc Tạ bi: bia đá Bắc Tạ ở Hoàng Hạc lâu

Trường Sa: thủ phủ của tỉnh Hồ Nam

Trường An: kinh đô nhà Đường (lúc bấy giờ), nay thuộc tỉnh Thiểm Tây

ĐỀ BIA BẮC TẠ (Dịch)

Đi đày mình đến đất Trường Sa
Trông lại Trường An chẳng thấy nhà
Tháng năm thổi sáo lầu Hoàng Hạc
Thành sông vang khúc Lạc Mai Hoa.

(Trần Trọng San dịch)


ANH VŨ CHÂU

Anh Vũ lai quá Ngô giang thủy
Giang thượng châu truyền Anh Vũ danh
Anh vũ tây phi Lũng sơn khứ
Phương châu chi thụ hà thanh thanh
Yên khai lan diệp hương phong khởi
Ngạn giáp đào hoa cẩm lãng sinh
Thiên khách thử thời đồ cực mục
Trường châu cô nguyệt hướng thùy minh.

(Lý Bạch)

Chú thích:

Anh vũ: là con chim két.

Anh Vũ Châu: tên bãi sông ở Hán Dương, Hồ Bắc. Bên kia bờ sông Trường Giang là Hoàng Hạc lâu.

Ngô giang: khoảng sông Trường Giang ở đất Ngô. Hán Dương thuộc đất Ngô.

Lũng Sơn: tên núi ở huyện Lũng Sơn, Thiểm Tây

Bài thơ nầy thất luật!

BÃI ANH VŨ (Dịch)

Ngày xưa anh vũ đến sông Ngô
Nên bãi mang tên tự bấy giờ
Anh vũ sang tây qua núi Lũng
Xanh xanh cây bãi ngát hương đưa
Gió lan thơm tỏa tan làn khói
Sóng gấm đào dâng sát cạnh bờ
Hờ hững kẻ đày buồn ngắm cảnh
Soi trên bãi nguyệt thấy bơ vơ.

(Trần Trọng San dịch)

3) Đường Thi


Tương truyền Hoàng HạcLâu ngày xưa là nơi gặp mặt tao đàn của các văn nhân mặc khách đương thời. Trong thời Đường (618-907), các thi nhân đến Hoàng Hạc Lâu để vừa thưởng ngoạn phong cảnh non nước mây ngàn hữu tình, vừa uống rượu làm thơ.

Tuy nhiên trong tài liệu Đường Thi của thế kỷ 20 ở Việt Nam không thấy có nhiều bài thơ liên quan tới Hoàng Hạc Lâu. Ngoài bài thơ của Thôi Hiệu và những bài thơ trên của Lý Bạch vào thời Thịnh Đường (713-766) chỉ tìm thấy một bài thơ của Thôi Đồ (chết năm 901) vào thời Vãn Đường (836-905).

ANH VŨ CHÂU XUÂN VỌNG

Trướng vọng xuân khâm uất vị khai
Trùng lâm Anh Vũ ích kham ai
Tào Công thượng bất năng dung vật
Hoàng Tổ hà nhân phản ái tài
U đảo noãn văn Yên nhạn khứ
Hiểu giang tình giác Thục ba lai
Thùy nhân chính đắc phong đào tiện
Nhất điểm khinh phàm vạn lý hồi.

(Thôi Đồ)

Chú thích:

Anh Vũ châu: thời Tam Quốc, Nễ Hành làm bài phú "Anh Vũ" tại bãi nầy nên có tên (là Anh Vũ).

Nễ Hành có văn tài nhưng ngạo mạn nên Tào Tháo (Tào công) sai đi sứ gặp Hoàng Tổ ở Hán Dương, mượn tay Hoàng Tổ giết Nễ Hành và chôn tại Anh Vũ Châu.

(Đất) Yên: nay là tỉnh Hà Bắc

(Đất) Thục: nay là tỉnh Tứ Xuyên

NGẮM CẢNH XUÂN TRÊN BÃI ANH VŨ (Dịch)

Ngắm cảnh lòng xuân bực bội hoài
Lại qua Anh Vũ càng bi ai
Tào công còn chẳng hay thương khách
Hoàng Tổ làm sao lại tiếc tài
Đảo ấm, nhạn Yên bay đã hết
Trời quang, sóng Thục chảy sang ngay
Sóng xuân gió thuận, ai người được
Một chấm buồm về vạn dặm khơi.

(Trần Trọng San dịch)

Từ những bài thơ nầy, độc giả biết thêm về xuất xứ tên Anh Vũ châu và biết rằng có bia Bắc Tạ ở Hoàng Hạc lâu.

4) Sứ Thần Nước Việt

Sứ thần nước Việt vào thế kỷ 18 và thế kỷ 19 thường viếng Hoàng Hạc Lâu khi đi sứ sang Trung Quốc và để lại nhiều bài thơ bằng Hán tự.

Đây là danh sách các Sứ thần có thơ vịnh Hoàng Hạc Lâu:

Năm 1715: Lê Anh Tuấn (Chánh sứ). Ông là cha nuôi bà Đoàn Thị Điểm

Năm 1761: Lê Quý Đôn (Phó sứ), Chánh sứ là Trần Huy Bật

Năm 1790: Phan Huy Ích (Chánh sứ) và Đoàn Nguyễn Tuấn (Phó sứ). Phan Huy Ích làm 3 bài thơ, Đoàn Nguyễn Tuấn làm 4 bài thơ (nhưng nay chỉ còn lưu lại 1 bài).

Năm 1807: Ngô Thì Vị (Phó sứ), sau nầy làm Chánh Sứ (năm 1821). Ông là em Ngô Thì Nhậm.

Năm 1813: Nguyễn Du (Chánh sứ)

Năm 1834: Phan Thanh Giản (Chánh sứ)

Hoàng Hạc Lâu vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19



Những bài thơ của Lê Anh Tuấn, Lê Quý Đôn, Đoàn Nguyễn Tuấn và Phan Thanh Giản đều chịu ảnh hưởng từ bài thơ của Thôi Hiệu với tình ý gần giống vậy nhưng không kể lại chi tiết chuyện Hoàng Hạc bay đi mất.

ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU VỌNG HÁN DƯƠNG THỤ

Dực Chẩn danh phong chí Hán Dương,
Tứ hoàn cảnh sắc nhập bình chương.
Yên ba hạo diểu sầu nhân tứ,
Phong nguyệt chiêu yêu túy khách thương.
Già ngạn mạc liêm hoành cổ thụ,
Mê tân lâm mộc thụ phong tường.
Cư tân thùy thị trượng nhân giả,
Tu thuyết cơ tâm cứu thượng hương.

(Lê Anh Tuấn) 1671-1731

LÊN LẦU HOÀNG HẠC NHÌN CÂY HÁN DƯƠNG (Dịch)

Dực, Chẩn danh lam đất Hán Dương,
Bốn bề cảnh sắc vào văn chương.
Mênh mang khói sóng buồn lòng khách,
Trăng gió gọi mời say chén suông.
Cổ thụ giăng màn che bến nước,
Cột buồm dựng thẳng tựa rừng sương.
Trượng phu trên bến là ai đó?
Có thẹn lòng bao nỗi vấn vương.

(Nhất Uyên dịch)

HOÀNG HẠC LÂU

Tình Xuyên các ngoại hựu phương chu,
Hoàng Hạc lâu đầu ức cựu du.
Phương thảo phi quan tiền cổ hận,
Bạch vân hồn tự khứ niên thu.
Thanh sơn lịch lịch như tương thức,
Ngọc địch mang mang bất khả cầu.
Nam vọng gia hương kim giáo cận,
Yên ba giảm khước nhất phân sầu.

(Lê Quý Đôn) 1726-1784

HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Ngoài gác Tình Xuyên thuyền lại qua
Trước lầu Hoàng Hạc nhớ chơi xa
Cỏ thơm hệ lụy niềm thương hận,
Mây trắng còn nguyên thu đãqua.
Núi xanh mồn một dường quen biết,
Sáo ngọc miên mang chẳng thiết tha,
Vời ngóng quê Nam gần chút nữa,
Nhìn khói trên sông bớt nhớ nhà.

(Nhất Uyên dịch)

ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU

Bách xích phi lâu ỷ bích không,
Nhất điều tịnh luyện giới tây đông.
Phương châu thảo mật dao song thúy,
Tình các phong sơ cách ngạn hồng.
Hùng bá tranh hành kỳ cục lý,
Thần tiên khiếu vịnh địch thanh trung.
Thừa xà hữu khách đăng cao vọng,
Thanh điếu trường giang khởi mộ trung.

(Đoàn Nguyễn Tuấn) 1750 - ?

LÊN HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Trăm thước lầu cao dựa khoảng không,
Một làn lụa trắng cách tây đông.
Bãi thơm cỏ mượt xanh ngoàicửa,
Gác nắng rừng phong đỏ cách sông.
Hùng bá cuộc cờ tranh hợp lý
Thần tiên ngâm vịnh sáobên trong
Cưỡi bè có khách lên cao ngắm,
Tiếng cối chiều hôm nổi giữa dòng.

(Nhất Uyên dịch)

ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU

Tích thời hạc dĩ hà niên khứ,
Thiên tải nhân tòng nam cực lân.
Anh Vũ châu tiền phong thảo lục,
Tình Xuyên các thượng bạch vân thâm.
Bán liêm lạc nhật phù Giang Hán,
Nhất phiến hàn lưu tống cổ câm (kim)
Mãn mục yên ba chuyễn trù trướng,
Du du trần mộng thập thu tâm.(*)

(Phan Thanh Giản) 1796-1867

(*) Nếu viết bằng Hán tự, chữ "thu" nằm trên chữ "tâm" thành chữ "sầu". "Thu tâm" ám chỉ "sầu" buồn như câu kết của Thôi Hiệu.

LÊN CHƠI HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Hạc vàng xưa khuất đã bao năm,
Từ góc trời Nam người đến thăm.
Anh Vũ trước bờ xanh cỏ mượt,
Tình Xuyên gác lửng trắng mây râm,
Nửa màngtrời lặn trôi Giang Hán,
Một dãi sông dài xuyên cổ kim.
Khói sóng mênh mông lòng cảm xúc
Nhặt chút lòng thu giấc mộng trần.

(Nhất Uyên dịch)

Qua những bài thơ trên, độc giả nhận ra một danh từ riêng mới là "Tình Xuyên các", ngoài những danh từ riêng đã có trong bài thơ của Thôi Hiệu (Hán Dương và Anh Vũ). (Các là tầng lầu hay tầng gác, đó là tầng của một ngôi nhà hay ngôi lầu mà không phải là tầng dưới đất). 

Như vậy có 2 nhận định:

Trong Hoàng Hạc lâu có một tầng tên là Tình Xuyên 

Trong bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu, chữ "Tình xuyên" có thể là danh từ riêng ám chỉ Tình Xuyên các đã có vào lúc đó? Cũng có thể một tầng trong Hoàng Hạc lâu được đặt tên là Tình Xuyên các lấy từ bài thơ của Thôi Hiệu? "Tình xuyên" nếu là danh từ chung thì có nghĩa là "sông quang tạnh", nó đã được hiểu như vậy trong bài thơ của Thôi Hiệu. Dùng như danh từ chung, chữ "tình xuyên" trong bài thơ của Thôi Hiệu có ý chính xác hơn.

*

Riêng Phan Huy Ích (1751-1822)có viết bài văn xuôi tả lầu Hoàng Hạc với những câu:

"Truyền thuyết Phí Văn Phi đắc đạo thành Tiên, thường cỡi hạc vàng chơi ở đó".

"Nay tầng thứ nhất thờ Phí Văn Phi. Tầng thứ nhì thờ Lã Đồng Tân cạnh là tượng thờ Lư Sinh".

"Cách bờ là bến lớn sông Hán người đông đúc hàng hóa chất đầy".

"Núi Quì sơn, gác Tình Xuyên và bãi Anh Vũ thật là những cảnh đẹp trong trời đất".

Không như những Sứ thần khác, chuyến đi sứ của Phan Huy Ích vào năm 1790 rất quan trọng về phương diện chính trị. Sau khi thắng quân Thanh, vua Quan Trung phải kết ngoại giao với Tàu bằng cách cho cháu của mình là Phạm Công Trị (giả làm vua Quan Trung) sang Trung Quốc gặp vua Càn Long nhà Thanh. Chánh sứ là Phan Huy Ích và Ngô Văn Sở và Phó sứ là Đoàn Nguyễn Tuấn. Ngô Thì Nhậm ở Lạng Sơn để tùy cơ ứng biến. 

Khi Phan Huy Ích tới thăm Hoàng Hạc Lâu thì ông có làm tất cả 3 bài thơ.

Ngày đầu, Phan Huy Ích làm thơ tả Hoàng Hạc Lâu cũng như những Sứ thần khác:

DU HOÀNG HẠC LÂU

Khê ki duy lãm phỏng tiên du,
Bách xích phi manh nhiếp thượng đầu.
Hoàng Hạc bạch vân nga tuyệt diệu,
Bích ba hồng thụ điếu thanh thu.
Thị thành hoa lệ đồ phi tiếu,
Yên thủy thương man khách diệc sầu.
Chân cảnh mãn tiền ngâm vị cánh,
Tá đề liêu kí thử đăng lâu.

(Phan Huy Ích)

ĐI CHƠI HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Ghềnh đá buộc neo thăm cảnh tiên,
Mái cao trăm thước đỉnh lầu trên.
Hạc vàng, mây trắng, lời ngâm tuyệt,
Sóng biếc cây hồng thu gió lên.
Thành thị vẽ tranh lầu chẳng giống,
Khói sông man mác khách sầu thêm.
Cảnh đầy trước mặt ngâm chưa đã,
Mượn thơ ghi lại thú lầu tiên.

(Nhất Uyên dịch)

Và Phan Huy Ích cũng làm bài thơ gởi anh rể của mình (là Ngô Thì Nhậm) đang lo lắng ở Lạng Sơn.

HOÀNG HẠC LÂU (Nguyên bản)

Vạn lý trì khu thủy bán trình,
Phân phân hoa phát đới sầu sinh.
Tình Xuyên các ngoại cô phàm ảnh,
Hoàng Hạc lầu tiền đoản địch thanh.
Hồi ức chi hương đồng chí khí,
Phân giao tảo bút diệc cư hành.
Giang thành nhất phiến đoàn viên nguyệt,
Tưởng diệc Đông kiều nguyệt dạ minh.

(Phan Huy Ích)

Chú thích:

Đông Kiều (Cầu Đông) bắt ngang sông Tô Lịch ở phía đông Thăng Long.

HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Muôn dặm ruổi dong được nửa đường
Bạc phơ mái tóc nhuốm sầu thương
Tình xuyên ngoại cảnh buồm đơn chiếc
Hoàng Hạc trong lầu sáo đã ngưng
Nhớ lại rượu thơm, cùng chí khí
Phân chia bút viết, thảy lo lường
Sông nầy chung một vầng trăng sáng
Soi tới Cầu Đông sáng lạ thường.

(Phan Thượng Hải dịch)

Ngày hôm sau, Phan Huy Ích trở lại Hoàng Hạc Lâu làm một bài thơ tự họa bài thơ hôm trước cũng gởi cho Ngô Thì Nhậm:

TẠC LAI HOÀNG HẠC LÂU (Tự họa)

Phương thảo tình xuyên cựu khứ trình,
Qui biền hỉ tự vũ hàn sinh.
Thu quang tỉnh chiếu lâu tam điệp,
Hương tứ mang tùy nhạn nhất thanh.
Thoan sự thư hồi bưu kỵ mẫn,
Chu tư lộ viễn khách chu hành.
Nam quan bả ác tưong kỳ cứu,
Thời phán sơn đài nguyệt sắc minh.

(Phan Huy Ích)

TRỞ LẠI HOÀNG HẠC LÂU NGÀY HÔM QUA (Dịch)

Sông tạnh cỏ thơm lại tới đây
Trong xe mưa lạnh thấy vui đầy
Rạng lầu ba gác, mùa thu đó
Mang nỗi nhớ quê, tiếng nhạn nầy
Xong việc, gửi về, thư chóng tới
Hết lo, xa cách, khách về ngay
Nam Quan chắc chắn như thời hạn
Trăng sáng đầu non, định chẳng sai.

(Phan Thượng Hải dịch)

Phan Huy Ích mượn hai bài tự xướng họa trên ở Hoàng Hạc lâu để nói tâm tình của sứ thần và việc nước tại Hoàng Hạc lâu.

*

Những bài thơ của Nguyễn Du và Ngô Thì Vị đối đầu với bài thơ của Thôi Hiệu:

ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU

Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì,
Do lưu tiên tích thử giang mi.
Kim lai cổ vãng Lư Sinh mộng,
Hạc khứ lâu không Thôi Hiệu thi.
Hạm ngoại yên ba chung diểu diểu,
Nhãn trung thảo thụ thượng y y.
Trung tình vô hạn bằng thùy tố,
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.

(Nguyễn Du) 1766-1820

Chú thích:

Lư Sinh đời Đường đến một quán trọ, nằm đợi chủ quán nấu nồi kê (hoàng-lương), ngủ quên, nằm mộng thấy lấy vợ, đẻ con, sinh cháu, giầu sang, vinh hoa, phút tỉnh dậy thấy mất cả (Hoàng Lương Mộng/Giấc Mộng Kê Vàng của Lư Sinh). (theo TĐ Đào Duy Anh).

Lư Sinh có tượng thờ trong Hoàng Hạc lâu

LÊN HOÀNG HẠC LÂU(Dịch)

Xa khuất thần tiên trải bấy lâu
Bến sông dấu cũ vẫn bên lầu
Xưa đi nay lại Lư còn mộng
Hạc vắng lầu hoang Hiệu mấy câu 
Ngoài gác nước mây vời vợi thẳm
Trong tầm cây cỏ vẫn xanh mầu
Ý tình chan chứa cùng ai ngỏ?
Trăng gió vô tình có biết đâu?!

(Hoàng Hoa Nguyễn Hoài Trung dịch) 

LÊN HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Thần tiên đã đến tự bao giờ?
Còn lại dấu tiên trên bến mơ.
Giấc mộng Lư Sinh kim cổ vọng,
Vần thơ Thôi Hiệu hạc lầu trơ.
Ngoài hiên khói sóng bay mờ mịt,
Trước mắt cỏ cây vẫn thuở xưa.
Nỗi niềm có biết cùng ai tỏ.
Trăng thanh gió mát cũng thờ ơ!
(Nhất Uyên dịch)

ĐỀ HOÀNG HẠC LÂU

Hán thủy thành biên vân thụ thụ,
Tiên nhân bất kiến, chỉ không lâu.
Hà thời tiên tế lai hoàng hạc,
Đề ý giang trung phó bạch âu.
Lý bá vị ưng thâu bút lực,
Thôi quân bất hợp tác tương sầu.
Việt Nam sứ giả Ngô Thời Vị,
Đấu đảm đề thi ký thử du.

(Ngô Thì Vị) 1774-1821

Chú thích:

Lý bá là Lý Bạch, nhắc tới hai câu thơ của Lý Bạch

Thôi quân là Thôi Hiệu, nhắc tới bài thơ của Thôi Hiệu

ĐỀ THƠ TẠI HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Sông Hán bên thành rợp lá mây,
Người tiên không thấy, thấy lầu đây.
Hạc vàng đi mãi bao giờ lại?
Âu trắng dành riêng dãi nước đầy.
Lý bá cớ chi chùn bút vội?
Thôi quân sao lại nhớ quê ngay?
Sứ thần nước Việt: Ngô Thời Vị,
Chẳng sợ làm thơ viếng cảnh này.

(Nhất Uyên dịch)

THƠ CHỮ QUỐC NGỮ


1) Dịch bài thơ "Hoàng Hạc Lâu" của Thôi Hiệu


Sau khi có chữ Quốc Ngữ, bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu được dịch ra từ Hán tự và trở nên phổ thông trong văn học Việt Nam nhất là bản dịch bằng thơ Lục bát của Tản Đà.

Bản dịch đầu tiên là của Ngô Tất Tố rồi tới Tản Đà và Trần Trọng Kim. Những bài thơ dịch dùng mộttronghaithể thơ: Đường Luật hoặc Lục Bát.

Đến thời VNCH, bài thơ của Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu và bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế nổi tiếng nhất trong tất cả Đường Thi nói riêng và thơ Trung Quốc nói chung. Đa số học sinh Trung học đều biết và nhớ haibài nầy.

Học giả Trần Trọng San của bộ Văn hóa Giáo dục lúc bấy giờ và là mộttrong những dịch giả thơ Hán tự nổi tiếng có viết:

Tôi bước vào cảnh giới Đường thi từ bến Phong Kiều cho tới lầu Hoàng Hạc. Phong Kiều Dạ Bạc và Hoàng Hạc Lâu là hai bài đã in trong tôi ấn tượng sâu đậm nhất trong số những bài thơ Đường mà gia nghiêm dùng dạy tôi học chữ Hán trong lúc ấu thời.

Từ đó cho tới bây giờ có không biết bao nhiêu người dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.

* Nghệ thuật của Dịch giả

Trước khi đọc những bài thơ dịch, ta phải biết rành và rõ nội dung của bản chính để coi bản dịch có sát và đúng với bản chính hay không. 

Bản chính:

HOÀNG HẠC LÂU 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ 
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu 
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 
Bạch vân thiên tái không du du 
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ 
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu 
Nhật mộ hương quan hà xứ thị 
Yên ba giang thượng sử nhân sầu. 

(Thôi Hiệu) 

Dịch nghĩa:

HOÀNG HẠC LÂU (= LẦU HOÀNG HẠC)

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
= Người xưa đã cỡi hoàng hạc (=hạc vàng) đi(rồi)

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
= Đất ấy không chở (đi) Hoàng Hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 
= Hoàng hạc (=hạc vàng) một đi không trở lại lần nữa

Bạch vân thiên tái không du du 
= Ngàn mây trắng lửng lơ đầy bầu trời

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ 
= Sông quang tạnh (thấy) rất rõ ràng cây (của vùng đất) Hán Dương

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
= Cỏ thơm buồn bã tịch mịch bãi (đất bồi) Anh Vũ

Nhật mộ hương quan hà xứ thị
= Trời tối quê nhà là nơi đâu?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
= Khói sóng trên sông khiến người (thấy) buồn (=sầu).

Sau đó ta phải nhận xét giá trị riêng về thể cách và chữ nghĩa của các bài thơ dịch.

* Thời Pháp Thuộc

LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)

Người xưa cỡi hạc đã lên mây
Lầu Hạc còn suông ở chốn nầy
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng
Xanh ngút châu Anh, lớp cỏ dầy
Trời tối quê nhà đâu tá nhỉ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây.

(Ngô Tất Tố dịch)

GÁC HOÀNG HẠC (Dịch)

Hạc vàng ai cỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

(Tản Đà dịch)

LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)

Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.

(Trần Trọng Kim dịch)

* Thời VNCH ở Miền Nam

HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời mây trắng bay.
Hán Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy 
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.

(Trần Trọng San dịch)

HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Xưa hạc vàng bay vút bóng người
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc đi đi mất
Trắng một màu mây vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống đâu quê quán
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi

(Vũ Hoàng Chương dịch)

* Quốc Nội ngày nay

LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)

Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút,
Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi!
Hạc vàng một đi đã đi biệt,
Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.
Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời.
Hoàng hôn về đó, quê đâu tá?
Khói sóng trên sông não dạ người.

(Khương Hữu Dụng dịch)

LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)

Người xưa cưỡi hạc biết đi đâu? 
Hoàng hạc trơ đây một mái lầu. 
Biền biệt hạc vàng không trở lại, 
Phiêu diêu mây trắng vẫn trên đầu. 
Sông quang rõ nét Dương Hán thụ. 
Cỏ mướt xanh màu Anh Vũ châu. 
Quê cũ chiều tà đâu chẳng thấy. 
Trên sông khói sóng khiến ai sầu.

(Văn Toàn dịch)

LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)

Người xưa cưỡi hạc bay đi, 
Trơ lầu Hoàng Hạc còn gì nữa đâu! 
Một đi hạc chẳng quay đầu, 
Ngàn năm mây trắng một màu phiêu diêu. 
Hán Dương cây cối mỹ miều, 
Bãi xa Anh Vũ, bóng chiều cỏ xanh. 
Hoàng hôn đâu bóng quê mình? 
Khói lan sóng nước, buồn tênh ai người?

(Văn Toàn dịch)

LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)

Người xưa theo cánh hạc vàng
Còn đây dư một bóng Hoàng Hạc lâu
Hạc vàng đi chẳng về đâu!
Nghìn năm vời vợi trắng mầu mây bay....
Hán Dương hun hút dòng cây
Mênh mang Anh Vũ cỏ say hương ngàn
Quê xưa mơ ảnh chiều tàn
Trên sông khói sóng miên man nỗi buồn...

(Tử Đinh Hương dịch)

LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)

Người xưa hạc lánh phương trời,
Lầu hoang Hoàng hạc ngậm ngùi còn đây.
Không về nữa! Hạc vàng bay,
Mênh mông mây trắng trôi dài thiên thu.
Bóng cây sông Hán lặng lờ,
Cỏ xanh Anh Vũ đầy bờ chơi vơi.
Quê hương đâu bóng chiều ơi?
Khói sông man mác, đầy vơi lòng sầu.

(Nhất Phiến Vân dịch)

* Nơi Hải Ngoại ngày nay

HOÀNG HẠC LÂU(Dịch)

Người theo cánh hạc vút về đâu
Còn lại quanh đây quạnh mái lầu
Một chuyến hạc vàng biền biệt dạng
Ngàn năm mây trắng quẩn quanh đầu
Hán Dương sông lặng cây nghiêng bóng
Anh Vũ bờ thơm cỏ biếc mầu
Nắng ngã chiều rồi quê chẳng thấy
Trên dòng, khói sóng chợt dâng sầu.

(Thiên Tâm Đặng Phương Trạch dịch)

2/9/2004

2) Thơ Sáng Tác


Tuy không có dịp viếng thăm Hoàng Hạc lâu, nhưng có rất nhiều Thi sĩ làm thơ bằng chữ Quốc ngữ để vịnh Hoàng Hạc Lâu như Thôi Hiệu.

* Thời VNCH

Vũ Hoàng Chương vừa có dịch thơ Hoàng Hạc Lâu vừa có thơ vịnh Hoàng Hạc lâu. Thơ vịnh của Vũ Hoàng Chương mượn tứ thơ của Nguyễn Du.

HOÀNG HẠC LÂU

Đã bao giờ có hạc vàng đâu
Mà có người tiên để có lầu!
Tưởng hạc vàng đi mây trắng ở
Lầm Thôi Hiệu trước, Nguyễn Du sau
Hạc chưa thoát khỏi mê hồn kịch
Tiên vẫn nằm trong vạn cổ sầu
Trăng gió hão huyền như khói sóng
Nồi kê đã chín nghĩ mà đau.

(Vũ Hoàng Chương)

* Nơi Hải Ngoại

Thi sĩ hải ngoại ngày nay vẫn giữ tình tứ của Thôi Hiệu.

Đây là 2 bài tiêu biểu:

HOÀNG HẠC LÂU

Thần tiên ngày ấy biệt chơi vơi
Để dấu bên sông chẳng thấy người
Sự thế xưa nay dường giấc mộng
Thơ Thôi còn đó hạc xa khơi
Gợn buồn khói sóng bên hiên vắng
Cỏ biếc mênh mang tận cuối trời
Cảnh ấy tình nầy ai thấu rõ?
Gió trăng man mác mặc tình đời.

(Bùi Đắc Hùm)

1/28/13

HOÀNG HẠC LÂU 

Nào có bao giờ có hạc đâu
Thần tiên nào có có chăng lầu
Tao nhân trông thấy dâng nguồn hứng
Mặc khách nhìn mây vớ vẩn sầu
Cây bến Hán Dương lồng bóng nước
Cỏ bờ Anh Vũ thắm tươi mầu
Khách thơ qua đó bâng khuâng dạ
Thương hải tang điền chạnh xót đau.

(Hoàng Hoa Nguyễn Hoài Trung)

1/20/13

KẾT LUẬN

Tháng 10 năm 1981, Hoàng Hạc Lâu được tái thiết và tháng 6 năm 1985 khánh thành. Đólà một công trình được xây lại bằng vật liệu hiện đại và có một cầu thang máy. Hoàng Hạc Lâu hiện đại nằm trong Hoàng Hạc Công Viên là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước Trung Quốc. Vũ Hán thành một thành phố lớn, mệnh danh là Chicago của Trung Quốc.

Hoàng Hạc Lâu ngày nay

Ngày nay từ Hoàng Hạc Lâu nhìn về sông Trường Giang và Tp Vũ Hán: Vũ Xương bên nầy và Hán Dương bên kia sông
Du khách viếng thăm Hoàng Hạc Lâu vào thế kỷ 21 có bài thơ:

THĂM HOÀNG HẠC LÂU HIỆN ĐẠI

Hoàng hạc nghe danh, có gặp đâu
Thế mà tái dựng lắm ngôi lầu
Thi nhân thử vận đề hoa tự
Du khách khai quan thượng mỹ lâu
Anh Vũ nơi nao, toàn phố xá
Hán Dương chốn đó, cách cây cầu
Khó lòng giả bộ theo Thôi Hiệu
Tức cảnh thành thơ, dạ chẳng sầu.

(Phan Thượng Hải)

5/3/2007

PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

Tài Liệu tham khảo:

1) Đường Thi (Trần Trọng Kim)

2) Đường Thi (Trần Trọng San)

3) Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị (Trần Trọng San)

4) Thi Pháp Thơ Đường (Quách Tấn)

5) Làm Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú (Phan Thượng Hải / phanthuonghai.com)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét