Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018

Ngô Nguyên Dũng: Ký ức xào chua ngọt


Phóng dịch từ bản Đức ngữ 
“Eine süß-saure Erinnerung”,
của chính tác giả.

Một tối đông muộn, vừa lúc ông Lê bước ra, toan đóng cửa quán, thì ông Finke đã nhanh chân lách vào như một cơn lốc, và tới ngồi vào chỗ quen thuộc. Ông là thực khách gắn bó với Monsieur Le,một quán ăn á đông, tuy nhỏ nhưng thanh lịch và được giới sành điệu ưa chuộng. Như hầu hết những thực khách quen mặt khác, ông Finke có riêng một món tâm đắc. Số bốn mươi mốt. Vịt chiên giòn với rau cải xào sốt chua ngọt.

“Ông Finke ơi, tôi buộc phải làm ông thất vọng”, người chủ quán bước lại, cất giọng lễ độ. “Quán của chúng tôi đã tới giờ đóng cửa. Đầu bếp về nhà mất rồi.”

“Lại thêm chuyện rắc rối. Hôm nay là ngày gì không biết!”, ông Finke than thở. “Ông có món luân tuyển nào kháccho tôi không?”

“Luân tuyển?”, ông Lê nhíu mày lặp lại. “Là cái gì vậy? Món ăn mới à? Chưa nghe bao giờ.”

“Không phải, luân tuyển có nghĩa là … ơ, mà thôi … Ông có món nào thay thế không? Tôi đói lắm rồi.”

“Nhưng mà thằng đầu bếp đi về mất tiêu rồi!”

“Ông cũng biết nấu, đúng không? Hay là?”

Không đợi ông Lê phản ứng, người khách đã cất tiếng nài nỉ: “Tôi thật lòng đang thèm ăn bất cứ thứ gì xào chua ngọt. Hôm nay là ngày tính sổ chi tiêu, tôi phải làm thêm giờ, nên tới trễ. Làm ơn đi ông chủ!”

“Thứ gì chua ngọt …”, ông Lê nghĩ ngợi. “Được rồi, tôi có một thứ chua ngọt cho ông. Có điều món này nằm ngoài thực đơn.”

“Không sao cả. Ông cứ việc đem ra đây!”

“Xin ông chờ cho vài phút!” Ông Lê quay lưng, bước ra khoá cửa. “Cái gì kỳ cục. Món luân tuyển chua ngọt”, ông làu bàu khẽ và quày quả đi vào bếp.

Dì Ba là em gái của má. Dì từ quê lên Sài Gòn, phụ việc nhà và đi chợ, nấu cơm cho cả gia đình chín người. Lê là đứa thứ năm trong bảy anh chị em. Thuở nhỏ, vì lý do gì không rõ, cậu thường được phép ngủ chung với dì Ba ở nhà sau. Cậu coi dì như mẹ nuôi và gọi dì là má Ba. Lê có tật đái dầm. Còn tệ hại hơn nữa. Những khi cả nhà đi chơi xa, dọc đường, thỉnh thoảng cậu lại làm một bãi ra quần. Đơn giản vậy thôi. Chỉ vì rụt rè.

“Khuya nào nghe mày ré khóc là tao biết liền”, dì Ba thuật lại và thêm thắt: “Mày làm tao thiếu điều sạt nghiệp, vì tao cứ phải bỏ tiền ra mua chiếu mới liền tay.”

Dì Ba là một đầu bếp khéo nấu nhiều món dân dã. Bánh xèo nhân tép, thịt ba rọi và giá. Bò cuốn lá lốt nướng. Hay canh chua cá lóc. 

Sau ngày đất nước thống nhất theo chế độ xã hội chủ nghĩa vào giữa thập niên một chín bảy mươi, nhiều cư dân thành thị ở miền Nam bị cưỡng bách trở lại quê quán. Dì Ba là một trong số những người ấy.

“Tối nay, một ngoại lệ, tôi dọn cho ông món canh tôm nấu chua ngọt với rau cải á đông, cay the the”, ông Lê diễn tả và đặt tô canh lên bàn. “Ngoài ra còn có cá măng phi-lê kho tộ, và lẽ đương nhiên ăn chung với cơm.”

Không đợi ông Finke lên tiếng về mấy món ăn lạ, ông Lê đã ngập ngừng:

“Tộ cá măng phi-lê … dà … dạ … chỉ còn vài miếng. Bữa ăn tối của tôi … dạ … còn dư ấy mà!”

Người khách ngắm nghía hai món ăn luân tuyển. Ánh mắt và vẻ mặt của ông ngó giống một đứa trẻ con đang ngồi trước một món ăn được mẹ thử nghiệm lần đầu tiên. Những mùi hương lạ bốc ngào ngạt. Của đường cháy. Của hành tỏi phi. Của rau thơm và gia vị xứ nhiệt đới.

“Mời ông và chúc ông ngon miệng!”, ông Lê nhoẻn cười khích lệ. “Tôi được phép mời ông bữa ăn đặc biệt này.”

Chòi lá của dì Ba nằm cạnh xẻo nước miệt đồng bằng Cửu Long. Lúc Lê tới nơi, đêm đã chập choạng buông. Từ ruộng lúa bên kia sông, trong bóng tối cuối ngày, vẳng lại tiếng bìm bịp kêu nước lớn. Có tiếng lũ dơi loạc xoạc dọc ngang trên rặng dừa. Ánh đèn dầu le lói bên trong vuông cửa sổ mở rộng. Cửa chòi chỉ khép hờ. 

“Má Ba ơi, con đây!”, Lê cất giọng gọi và cởi ba lô đựng mớ hành trang ít ỏi. 

“Má ở trong bếp nè con!”

Cảnh dì Ba sửa soạn bữa cơm cho Lê lần sau cùng trong chéo bếp giản dị, đã khắc sâu trong tâm trí Lê. Tựa như có ai dùng lưỡi dao bén cứa một đường thành sẹo lên ký ức cậu. 

Bữa ăn tối được nấu trên lò đất chụm lửa tàu dừa khô. Cá lóc cắt khứa, để nguyên đầu, được dì Ba chiên sơ với tỏi và hành tím băm. Trong cái nồi ám khói đen đủi, cá được nấu chung với cà chua, khóm, bạc hà, giá, me dầm và vài loại rau thơm khác làm món canh chua. Thêm vào đó là món cá đồng kho tộ.

“Món khoái khẩu của con lúc nhỏ. Còn nhớ không con?”, dì Ba hỏi.

“Làm sao con quên được”, Lê sà xuống, ngồi cạnh dì. “Tại sao cá kho trong tộ đất có vị ngon đặc biệt vậy má Ba?”

“Cách nấu này dì học của bà ngoại con”, dì Ba quay sang, tia mắt dịu dàng. Ánh lửa bếp soi bập bùng vầng trán dì rịn mồ hôi. “Có lẽ vì tộ được làm bằng đất, nên vị cá đậm đà hơn chăng? Mùi vị của đất mẹ chăng? Má chưa hề nghĩ tới chuyện đó, con à!”

“Hương đất quê nhà …”, Lê không thể nói trọn câu.

“Con có buồn và hồi hộp không Lê?”, dì Ba hỏi.

“Dạ, có …”, Lê cố nén xúc cảm.

“Đâu có gì phải lo! Mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp”, dì Ba cười trấn an. “Bao giờ tới nơi, con nhớ báo tin cho dì biết! Bây giờ con sửa soạn chén đũa và thưởng thức món con ưa thích!” Hai mắt dì hoen ướt. Của khói hoả lò. Có lẽ vậy. “Lần sau cùng … với dì.”

Lê ăn ít. Món ăn dì Ba nấu tối nay không đậm đà như mọi lần. Nước màu kho cá đăng đắng. Canh chua hơi lạt.

“Ăn thêm đi con!”, dì Ba hối thúc. “Con cần nhiều sức cho chuyến vượt biển khuya nay.”

Trong giây khắc này, Lê chợt hiểu ra: Cái cảm xúc chia lìa đã trộn lẫn vào những món ăn của dì Ba, làm hư hao mùi vị. Như thể đó là bữa ăn trước giờ bước ra pháp trường dành cho kẻ tử tội chịu hàm oan.

Người dẫn đường tới lúc nửa đêm. Đi theo tôi lẹ lên và tuyệt đối giữ im lặng, anh ta nói. Đêm tháng mười một không trăng và mờ sương. Phút chia tay diễn ra trong bóng đêm. Dì Ba siết chặt lấy Lê. Cậu cảm nhận được hơi ấm đất quê mẹ thơm thoảng hương dầu dừa, đường cháy và rau ngò.

“Cầu xin trời Phật phò hộ cho con!”, dì Ba thầm thì và buông cậu ra.

Trong khoang thuyền, Lê ngoảnh nhìn. Chỉ thấy bóng đêm. Cứ mỗi nhịp dầm, thêm một cách chia, xa hơn, xa mãi chốn quê nhà. Một nỗi giao động dâng trong lòng Lê. Điều gì bất chợt cắt hai đời sống cậu. Ngắn ngủi, nhưng đau đớn như vết cắt của một phẫu thuật gia thiếu kinh ngiệm. 

“Ba người lớn và hai trẻ em qua đời vì kiệt sức. Xác được ném xuống biển. Sau mười ngày, thuyền chúng tôi tới bờ Phi luật tân. Một năm sau, tôi được qua Đức định cư”, ông Lê bộc bạch mẩu chuyện đời cho vị khách quen.

Ông Finke xúc động ra mặt. “Tôi xin chia sẻ nỗi đau này cùng ông”, ông nói. “Thuở đó tôi còn quá nhỏ để hiểu thấu những oan nghiệt đã xảy đến cho đất nước ông.”

“Người ta thường nói văn vẻ, thời gian chữa lành mọi thương tích”, ông Lê triết lý. “Có điều, vết thương của tôi, không có liều thuốc thời gian nào chữa nổi. Lúc nào nó cũng rỉ máu.”

“Dẫu sao ông cũng mang theo vài điều lạc quan qua đây.”

“Ý ông là sao?”

“Tôi muốn nói tới kỹ năng làm bếp của ông”, ông Finke cười mỉm. “Món canh chua cá của ông rất ngon miệng. Nhất định ông phải thêm nó vô thực đơn.”

“Vậy sao? Ông thấy món đó ngon thật à?”, ông Lê hỏi giọng dè dặt, nét mặt tươi rói, rồi thêm vào: “Tôi đã nêm nếm nó với thật nhiều gia vị của tình cảm. Tình quê hương, ông hiểu chứ? Có lẽ tôi sẽ đặt cho nó cái tên "Súp cá má Ba", được chứ?”



(09.2018)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét