Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2018

Túy Hồng: Gia vị tuổi già (Tiếp theo và hết)

Thái là chủ nhân của mấy mẫu đất rộng chim diệc lết đi không tới đích và người võ công Tai-Chi lê bước không tới chốn, một vùng phong cảnh lặng thinh gợi lại hình ảnh những vườn tiên, vườn đào, vườn ngự uyển trong sách thời thượng cổ. Trước mặt nhà Thái là một ao rau muống, loài rau có ống và nở hoa màu tím nhạt, loài rau không ăn cơm mà chỉ uống nuớc giải khát. Công ty thủy lực thành phố mấy lần gửi giấy phạt rau muống uống nước nhiều quá sẽ làm khô héo thị trấn hồng. Tự điển khoa học xã hội Việt Nam định nghĩa rau muống rỗng ruột, uống sương mai, nắng chiều và ánh trăng đêm khuya.

Thái đã vào Good will ra tay kéo về hai cái hồ bơi inground biberglass pool. Đó không phải là loại bồn tắm nhỏ bằng cao su trẻ con đập tay đạp chân tập bơi mà đúng nghĩa là cái hồ nước rộng chôn dưới đất. Thái, người đàn bà trời cho sức khỏe và sắc đẹp, đã bỏ ra hai tháng trời đào đất, đập đá, khó khăn hốc hác như Ngu Công dọn núi ngày xưa và với một thiên tài về ngành trồng tỉa đã làm chủ một ao rau muống chim diệc bơi lội mấy mùa.

Hồ sơ của khu vườn được cất giữ trong ngăn kéo, chia ra mười chín khoảng đất riêng biệt. Ao rau muống đào được đặt vào vị trí một. Khu đất thứ hai trồng mười loại rau đủ để cho người Huế nấu một tô canh thập toàn. Kế đó, Thái làm giàn tre dành cho rau leo. Bên cạnh, Thái cưa hai cây thông già, chặt tre, xẻ gỗ dựng thêm bốn cái giàn nữa dành cho su le, bí ngô, bí đao, mướp ngọt, mướp đắng. Xong, Thái nung sắt, đẽo hai cái trụ đồng chặt hai cây cổ thụ dựng một pháo đài để trồng năm cây dưa Hồng tiên, người Huế gọi là dưa Tây vì do ông Tây thuộc địa đưa vào Việt Nam cùng một lượt với cây phượng vĩ. Cây dưa Hồng tiên nằm trên, bốn mươi tám cây su le nằm dưới chung một giàn gồm có hai tầng, bên cạnh mấy cái thang gỗ, lá bí ,lá bầu tuy khác giống nhưng phải mọc chen nhau và kế cận dàn dưa là loại rau có chất cay dùng làm gia vị nấu ăn: ớt mọi, ớt chìa vôi, rau sâm thương, ngò gai, húng lủi, húng quế, tía tô, kinh giới, diếp cá... Xê ra một chút là loại cây trị bệnh có chất thuốc gia truyền như cây ích mẫu, cây thuốc cứu, cây trần bì, cam thảo, quế chi...

Thái tỉ mỉ làm công việc của một nghệ nhân: vót tre đan rỗ đựng lan, làm dàn tre cho lan bò, lan leo và cưa gỗ đóng những cái giường nhỏ cho lan ngủ treo dưới mấy dàn dưa. Cạnh đó, Thái đóng mấy chục ngăn kéo, người Huế kêu là kệ, để trồng loài cây không ăn được: lan Tố tâm, lan Thanh ngọc, Giáng xuân, Hồ điệp, Cát tường, Thiên thần... đặt sát tám cây thông phấn vàng và mười ba cây mai Huỳnh tỉ nở hoa trăm cánh...

Hảo chỉ coi hết ba vạt đất thôi, phần còn lại để dành khi khác. Trên mấy mẫu đất của Thái có mặt đầy đủ tất cả loài cây Việt Nam từ phượng vỹ, xoài, quế Huyền Trân, mít tố nữ, hoè, xoan và ba cây bàng trăm năm... và cả cây cao su đặt mua từ Indonesia hoặc Malaysia... Người nghệ sĩ làm vườn tôn thờ anh linh của tất cả cỏ cây, họ không uống rượu không hút thuốc lá... Hảo thường thấy họ ăn chay và thương yêu súc vật, họ nuôi gia súc và săn sóc chó mèo rất cẩn thận. Công tác làm vườn cao cả quá khiến họ học được phép tu thiền và phép thở của đạo Phật. 

Hảo quay sang Thái: “Khu vuờn của chị là một kỳ công, một tuyệt phẩm nói lên được đức tính chịu khó của chị. Ngày xưa, Napoleon hoặc Augustus Ceasar mỗi khi chỉ tay vào các thuộc địa gồm trong đế quốc rộng lớn của mình, thường chỉ nói một tiếng ‘My empire.’ Hôm nay, chị có thể đứng giữa khuôn viên của chị, tự hào, rất tự hào, nói rằng: “Mảnh đất tôi,” vì chị không phải chỉ moi đất để chôn xuống đó một thân cây, một hột giống mà thôi, bởi chị đã vùi theo xuống đó một mảnh lòng, và mấy hơi thở của chị. Chị sở hữu một chỗ ở trong đó chị đã viết và vẽ. Và chị, chị đã làm cho tuổi già của chị có một gia vị riêng.” 

Hảo đã ăn của Thái những bữa cơm thiền tức là những bữa cơm thanh bạch không có thịt bò mỡ heo. Buổi trưa hai người thưởng thức món rau muống luộc chấm nước tôm kho đánh, món Huế. Buổi chiều họ ăn rau muống xào kiểu Bắc nồng nàn mùi tỏi, mắm tôm, kinh giới, mè rang... Hai người đàn bà ngồi ăn trong căn bếp mà cái máy hút bụi Eureka đã hít sạch cả đến những hạt rác chỉ bé bằng một phần bảy mươi lăm đường kính của một sợi tóc: Bếp sạch, cơm thơm, thức ăn bổ lành. Hảo quan sát cung cách ăn uống của Thái: ba lần xới cơm tức là ba chén cơm lưng lưng ngang miệng ăn với tôm rim bóc vỏ bỏ đuôi. Vừa ăn vừa húp một tô nước luộc rau muống dầm cà chua vắt chanh, loại chanh giấy xứ Huế chứ không phải là lime hay lemon của Mỹ. Sau đó, Thái tráng miệng một trái thanh trà lão, lớn bằng trái bưởi Biên Hòa.

Thái nói: “Chị có thể ăn một lúc bao nhiêu cái đùi gà?”

“Ba bốn cái là nhiều. Đêm Trung thu, tôi chỉ ăn một cái bánh nướng thôi.”

Hảo nhìn ra khu vườn tuyệt vời và ngắm ngôi nhà tuyệt mộng của Thái rồi nói: “Nếu mình làm việc gì, cái gì và cái đó, việc đó... nó nhai nó nuốt hết cả thì giờ của mình như hiện tại chị và cái vườn của chị đây, chị dành hết tuổi già của chị cho nó thì nó, tức là cái vườn là tác phẩm chị đã viết ra cho đời mình và chị là một nghệ sĩ.”

Trong tác phẩm “My son. My son” nhà văn Anh quốc Howard Spring kể chuyện một người viết văn và một người thợ mộc, Dermot và William. Dermot yêu gỗ. Oak, Ash, Walnut ,Teak... gỗ lim, gỗ mun, kiền kiền, trắc bá diệp... Như thi sĩ ngâm thơ vịnh nguyệt, chàng thợ mộc kêu tên mọi loài gỗ quý, chàng nâng niu tất cả những dụng cụ của kẻ làm nghề gỗ như búa, kìm, cưa, kéo, đẽo, đục, chỉ trừ cái đinh ốc là cái chàng ghét. Chàng quan niệm người thợ mộc hữu tài không bao giờ xử dụng cái đinh ốc tức là con vít. Phòng làm việc của chàng là nơi sản xuất tất cả bàn ghế giường tủ, đồ chơi bán ra thị trường. Chàng cao gầy, mặt xương xương, hai má hơi hóp, chỉ trừ một điểm khác với người hùng trong tiểu thuyết Lê VănTrương là hai đường lông mày của chàng thường xuyên bám những hạt bụi của bột gỗ từ mạt cưa bay ra. Khi chàng chưa chính thức trở thành danh tướng trong nghề gỗ của nước Anh, thì vợ chàng đã coi chàng như một danh nhân của ngành nghệ thuật quan trọng là gỗ.

Thành công chậm hơn, William tức Bill được gia đình Dermot nâng đỡ trong những ngày William chưa có sách bán chạy hàng đầu nước Anh. Cuốn tiểu thuyết là một màn kịch bi đát với nhiều vấn đề khác.

Thái không thích câu chuyện đó, lảng sang chuyện khác. “Chị làm ở nhà băng nào vậy nhỉ?”

Hảo không thích nhắc tới công việc làm ăn lúc này nên nói: “Băng vệ sinh.” Rồi trả lời tiếp: “Tôi sắp bị cái nhà băng vệ sinh Bạch Tuyết này sa thải rồi.”

Thái lại nói. “Thằng con của tôi cũng đã tự tiện lấy vợ rồi.”

“Vợ người gì?” Hảo hỏi mau.

Thái tự hào. “Người Việt Nam.”

Hảo khen. “Thằng đó có hiếu quá. Chị có phước.”

Đêm thứ bảy trời hầm, gió Thái Bình Dương không thổi vào lục địa được, cây liễu và những cây nhược tiểu cũng không lắc mình. Hảo thao thức nhớ một câu chuyện cũ: Thể Phụng ngày xưa cùng học trường Đồng Khánh Huế, yêu một chàng Hoa Kỳ sang Nam truyền đạo Tin Lành. Gia đình không chấp thuận. Thể Phụng cứ việc đẩy tình yêu đi đến hôn nhân với Mark. Mark bảo rằng trước anh và em đã có những cuộc tình Việt Mỹ rồi. Hai quốc gia liên kết để chống Cộng nhưng anh, anh yêu đạo Tin Lành và anh yêu em. Đây là lần thứ hai Mỹ đổ quân vào Việt Nam. Lần thứ nhất xẩy ra năm 1845, thời gian cấm đạo gay gắt nhất dưới triều Nguyễn: giết giáo dân và chôn sống giáo sĩ. Tàu USS Constitution của hải quân Hoa Kỳ đã đổ bộ hải cảng Đà Nẵng để giải cứu một vị chân tu Công giáo người Pháp sắp bị chôn sống. Thủy thủ Hoa Kỳ đã ở lại Việt Nam bốn ngày. Đó là lần đầu tiên Mỹ xen vào nội bộ Việt Nam. Trong số những thủy thủ Mỹ đến Nam lần đó có ông nội của anh. Noi gương tiền nhân, hôm nay anh đã đến đây và yêu em.”

Gia đình Thể Phụng đăng tin từ con trên mặt báo Ánh Sáng ở Huế và báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà. Thể Phụng bị tất cả họ hàng lánh mặt khi Mark bảo: “Em hãy quỳ xuống van xin cha mẹ cho phép cưới anh đi. Dù thế nào đi nữa, hùm thiêng cũng không ăn thịt con.”

Thể Phụng bị cha mẹ cấm cửa và họ hàng xua đuổi. Mark vẫn lạc quan với mấy câu tiếng Việt bì bõm. “Em cứ tiếp tục kêu ca, cố biểu tình nỗi lòng của em ra để cha mẹ mềm lòng lại.”

Tỉnh Thừa Thiên, tỉnh lỵ thành phố Huế, lòng người sao đắng cay và đắng chát trăm chiều. Mưa mùa hạ Lào cùng với gió mậu dịch thổi xót xa vào phần đất thần kinh Nguyễn triều, Thể Phụng lao đao nhưng quyết không ngã gục. Mark và Thể Phụng xin đổi vào Sài Gòn và cưới nhau. Hai mùa mưa nắng trôi qua, cha Thể Phụng lâm trọng bệnh và tuy chưa chết, ông đã trối trăn: “Không cho con Thể Phụng lai vãng gần nhà, không cho con Thể Phụng bước qua chính cổng ngôi nhà này, không cho con Thể Phụng lẻn vào các cửa phụ, không cho nó đặt chân vào bên trong, không cho nó có mặt trong căn nhà ba gian hai chái này, không cho nó để tang đen, không cho nó mặc chế phục quần vải to áo sô gai, không cho nó lạy truớc bàn thờ tổ tiên tôi và tôi, cương quyết không nhận một giọt nuớc mắt nào của nó khóc.”

Mark bảo: “Hùm con cũng không ăn thịt hùm thiêng.”

Phụng cùng chồng về Huế chịu tang. Người con truởng và bà mẹ triệt để áp dụng lời trăn trối, triệt để không cho đặt chân vào nhà. Phụng đến thăm cô giáo cũ dạy Việt văn trường Đồng Khánh năm nào và yêu cầu bà thầy cùng đi với mình.

Bà giáo hăng hái bảo: “Chuyện gia gia đình em cô không có quyền nói vô, nhưng quý vị cấm em không được lai vãng gần nhà là không có công lý. Em có quyền đi lại trên con đường ngôi nhà cha em tọa lạc vì đó là đường lục lộ, của công.”

Bà giáo cùng đi với vợ chồng Thể Phụng đến điếu tang. Gia nhân nể mặt nhà mô phạm liền mở cửa nhưng vào tới bên trong thì một cảnh tượng khác diễn ra: từ bà mẹ đến người con út mỗi nguời cầm một cái chổi đứng sau câu biểu ngữ màu mực xạ: “Trọng tội bất hiếu Thể Phụng phải xéo ra khỏi nơi này. Nếu còn lai vãng trước cổng ngôi từ đường này, sẽ có 20 tên ăn mày đứng canh gác để ném phân vào mặt.” 

Chàng rể bất tỉnh trong tay vợ được đưa vào nhà thương dã chiến ở Mang Cá cứu chữa.

Thầy trò Thể Phụng ra về, bà giáo kêu: “Trong gia đình này, thương yêu không còn nữa, mà chỉ còn tình hận. Quý vị La Hán ơi! Gia đình em còn mướn cả mấy chục tên ăn mày từ chợ Đông Ba, chợ Bến Ngự, chợ An Cựu vứt cứt vào mặt em, vào mặt chồng em... Thật là... phải chăng đó là một hình phạt từ thời trung cổ?”

Trong khi bà giáo đến tòa tỉnh trưởng yêu cầu công lý can thiệp, thì từ bệnh viện dã chiến Hoa Kỳ ở tiền đồn Mang Cá, Mark ngậm ngùi bảo Thể Phụng: “Em hãy bỏ anh ra, hãy đừng lấy anh nữa. Anh là người Tin Lành, chính đạo Orthodox, kẻ vâng theo mệnh lệnh truyền từ tiền nhân. Orthodox có nghĩa là tuân theo mệnh lệnh của tiền nhân. Ông cha Tin Lành của anh dạy rằng anh phải kết hôn để duy trì nòi giống và để tạo ra những vị thánh cho đời. Anh vâng theo lời tiền nhân. Người Tin Lành lấy vợ. Anh theo Tin Lành, người hiền, em theo Phật giáo, người từ bi. Người từ bi lấy người hiền lành, thật đẹp đôi.”

Mark nghỉ, rồi tiếp: “Trong đạo Phật, có Phật giáo orthodox không em? Anh nghĩ rằng gia đình em theo truyền thống từ các ngôi thiền tự cổ xưa. Những nhà chùa đó có phản chiến không em? Có đuổi Mỹ cút về Hoa Kỳ không em? Em phải vâng theo lời dạy của cha mẹ, phải kính trọng truyền thống của gia đình và truyền thống của Phật giáo. Nếu đạo Phật và gia đình cùng ngăn cản, hãy dứt khoát bỏ anh ra đừng lấy. Truyền thống của hai tôn giáo khác biệt nhau rồi... có phải vậy chăng?”

Thể Phụng hấp tấp kêu: “Mẹ em chẳng hiểu biết orthodox là cái gì đâu. Mẹ em khi lạy Phật thì xuýt xoa và hít hà thôi.”

Thể Phụng nhìn chàng ngẫm nghĩ rồi tiếp: “Em chẳng hiểu orthodox nghĩa là gì, nhưng nếu em hiểu thì chính nghĩa của lòng em là tình yêu anh. Đời riêng và tâm tư của em là sống để lấy anh.”

Sau khi bà giáo đến khiếu nại tại tòa tỉnh và ty cảnh sát thì xe quân cảnh Mỹ chở Mark và Thể Phụng đến trước cổng nhà đám trước giờ đưa ma.

Tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên, Thị trưởng thành phố Huế, Quận truởng quận cảnh sát hữu ngạn sông Hương, Hội trưởng hội bảo vệ thuần phong mỹ tục tức tốc phái năm nhân viên công chánh và sáu cu li sở lục lộ đến đo đạc một khoảng cách mười mét từ cổng tang gia ra tới đường cái quan của nhà nước. Bốn cảnh binh giao thông kiều lộ và ba công an chìm đứng kèm hai bên để Thể Phụng có một chỗ đất an toàn sụp lạy cha già bốn lạy và sáu cái vái.

Đây chỉ là một câu chuyện cũ thuộc thời gian khá xưa trước khi xẩy ra cuộc đổi đời, và một câu chuyện như vậy không khi nào có thể xẩy ra sau cuộc đổi đời được.

Hảo chưa ngủ được gì hết thì đã sáng chủ nhật. Hôm nay, điện thoại chỉ reo một lần. 

Hảo bảo con: “Mẹ nghĩ con nên có hai ba người bạn trai một lúc để tuyển lựa một người. Đàng này con chỉ đi lại với một người thôi rồi lấy người đó.”

Thúy cãi: “Có sao đâu mẹ, mẹ thật lộn xộn.”

Hảo bực tức: “Nếu bố mầy còn sống, chắc chuyện sẽ xảy ra một cách khác. Nếu mày đem thằng bồ Mỹ về nhà ra mắt bố mày!!! Từ ngày sang Mỹ, bố mày không nói chuyện với người Mỹ, không đến nhà Mỹ, không ăn cơm không uống nước với người Mỹ. Mỗi lần người Mỹ đến nhà, bố mày đùn mẹ ra tiếp, bố mày chạy xuống basement trốn. Đó, những cái bố mày không làm thì bây giờ chúng mày làm đủ.”

Ngoài kia, gió mát trời xanh. Thảm cỏ dày bên kia láng giềng, bà hàng xóm cắt cụt như cắt tóc. Hảo vẫn nhìn ra ngoài, nói tiếp: “Jeffrey... mẹ chỉ sợ nó sẽ bỏ con sau này.”

Giọng Thúy chán nản: “ Đó, bản cũ sao lại, mẹ tôi sắp lôi chuyện cũ ra nói rằng người Mỹ phản bội, người Mỹ bỏ chạy... Mẹ, giáo sư Kallas có cho con mấy tài liệu cũ về chiến tranh Đông Dương. Người Mỹ có chính sách Monroe của họ. Trước giờ phút cáo chung của Nam Việt Nam dưới tay Bắc Việt Nam, nước Mỹ phải lo cho cái thân của nước Mỹ trước đã, nước Mỹ không thể cứu Nam Việt Nam được, và cũng không cứu Campuchia với Laos được. Nước Mỹ, họa may, chỉ có thể cứu nước Canada mà thôi nếu nước này lâm nạn. Chính sách Monroe nói rằng bất cứ quốc gia nào bị Cộng sản tấn công, nước Mỹ cũng phải đứng ngoài không được nhảy vào. Khi kinh đô Moscow hắt hơi sổ mũi, toàn thể thế giới ngứa cổ cảm cúm ho khan.”

Hảo cãi: “Năm 1947, chính sách Truman viện trợ kinh tế và quân sự cho bất cứ quốc gia nào bị Cộng sản hành hung. Mười lăm năm sau, những người Việt Nam chống cộng không quên được nụ cười thân ái của Tổng thống Kennedy.”

Trong bốn đứa con của Hảo, chỉ có đứa con gái đọc sách và không coi tivi quá độ như ba thằng con trai. Con cái không chống Cộng, đó là một chuyện Hảo thấy được. Còn rất nhiều chuyện khác, giữa mẹ và con có những bức tường ngăn cách.

Thúy nói tiếp. “Theo tài liệu giáo sư Kallas cho con, khoảng gần cuối năm 1974 quân Khờ-me đỏ đánh Cao Miên, mất sáu tháng tàn sát, họ mới vào được kinh đô Pnom Penh giết chết ba triệu người. Tiếp theo 1975, quân Bắc Việt tổng tấn công Nam Việt Nam, và miền Nam đã tan ra, rã ra và rớt xuống như trái sầu riêng rụng.”

Hảo ngồi nghe đứa con gái đọc bài tiếp. “Báo chí miền Nam hồi đó đã đăng tin về sự can đảm của một người Miên, Hoàng thân Phó thủ tướng Sirik Matak. Khi kinh đô Pnom-Penh thất thủ, người Mỹ cuốn gói ra về đem theo những ai đã từng cộng tác với họ. Một viên chức bộ ngoại giao Hoa Kỳ hỏi hoàng thân Sirik Matak: “Ông có đi theo chúng tôi không?” Hoàng thân gật đầu, viên chức Mỹ dục: “Vậy thì ông hãy nhanh tay lên, máy bay chúng tôi đang chờ, ông hãy mang theo ít đồ thôi, bỏ những cái không cần thiết lại, không được, không được ôm theo nhiều thứ như vậy, nhanh lên ông, bỏ cái này lại, bỏ cái nớ lại... nhanh lên.” Lập tức ông Phó thủ tướng Miên kêu lên. “Hỡi người Mỹ hãy cút về nước đi! Mới ngày nào, các ông đến quê hương tôi, hứa hẹn này nọ... giờ đây ông la hét tôi phải thế này thế nọ... ông coi thân phận những thằng mãn phu... thân phận tôi như như... Người Mỹ hãy cút về nước, hãy cút đi! Tôi không đi theo ông, tôi ở lại.”

Hảo bảo con: “Bởi đó, mẹ càng không thích người Mỹ chút nào hết, họ cứ nói xấu người Việt Nam quốc gia hoài và họ cứ khen, cứ nói tốt người Việt Nam cộng sản hoài.”

Thúy kêu: “Mẹ, hãy tốp bớt nỗi niềm chống Cộng trong lòng mẹ lại. Bây giờ, cái quan trọng của cuộc đời mẹ nhất là giữ lấy công ăn việc làm của mẹ. Con lo cho mẹ lắm. Con sợ mẹ sẽ bị thất nghiệp.”

Hảo bực mình nhìn ra ngoài kia trời thanh vắng và nắng hanh vàng. Thúy nói tiếp: “Nói chung chung, nước Mỹ là một xứ sở của đồ ăn nước uống, nó không để cho ai chết đói, chết khô. Và nước Mỹ cũng là một xứ sở của quần áo, nó không để cho ai chết queo, chết lạnh. Nhưng, sống ở Mỹ mẹ phải làm việc... để tránh nghèo đói và lạnh lẽo... Thôi con chào mẹ, thời tiết hôm nay khá tốt, mẹ làm việc nhà đi.”

Hảo đem mớ áo quần bẩn ra giặt, nghĩ đến những món đồ dơ khác như màn cửa, và mấy tấm ra trải giường, vạt cỏ phải cắt. Hảo vừa cho máy giặt chạy thì Thúy lại gọi. “Mẹ, hãy cố gắng đến cùng đừng để mất việc. Bố chết, mẹ vẫn đi làm việc như thường, đó mới là mẹ ngoan. Bố chết, nếu mẹ về hưu non, hoặc để mất công ăn việc làm... vậy là mẹ hư. Nếu mẹ để mất cái job mẹ đang làm, mẹ sẽ không thể nào xin được một việc làm nào nữa.” 

Hảo mở rồi đóng cánh cửa máy sấy lại nghĩ rằng con bé này bây giờ lanh quá. Hiện tại, hai mẹ con tiêu tiền chung, ký chi phiếu chung... nhưng mai mốt rồi sẽ đến lúc nó mở trương mục riêng ở một nhà băng nào đó, và mình phải đứng ngoài rìa cuộc đời nó, mình không nắm được cái đầu và cái đời nó sống.

Thúy nghiêm giọng tiếp: “Khi chiến tranh lạnh giữa Nga và Mỹ chấm dứt, những anh hùng lạnh của Mỹ trở về nước, họ bị cưỡng bức phải về hưu non và về hưu bất đắc dĩ... Nước Mỹ không tàn nhẫn, nhưng nạn thất nghiệp trên đất Mỹ thật vô nhân đạo. Mẹ, đừng để thất nghiệp...”

Hảo đứng trước cái máy sấy kê sát máy giặt, đôi chân bỗng mất hơi ấm, cái bụng chợt bóp mạnh. Hảo đến bên bồn nước cạnh đó và mở cửa sổ. Nắng thu với vài lớp mây bão dầy như những tấm ván đang đi về thành phố New York miền đông nước Mỹ để lại vài vết nám lớn trên da trời. Đời tôi cũng có người đi qua và để lại chữ ký. Con chó Nicky nhà hàng xóm có lẽ đói bụng lễ phép sủa gâu gâu vài tiếng ngắn.

Sáng hôm sau trở lại sở làm, anh bạn Hawai thở dài: “Thất nghiệp... đến nơi rồi. Mới ngày nào, những sĩ quan tình báo của chiến tranh lạnh đã thất nghiệp.”

Chàng trai Hạ Uy Di đưa cho Hảo một ít địa chỉ và số điện thoại của những cơ quan tìm việc. Chàng trai này lúc còn ở hải đảo chắc cũng khá đa tình! Hắn nói tiếp: “Nhiều người đang làm đơn xin được nhà băng Wells Fargo lưu dụng sau khi sáp nhập.”

Chiều thứ sáu mây vẫn ba màu. Hảo gọi con thì nó nói: “Ngày mai con sẽ dẫn Jeffrey đi Portland gặp mẹ.”

Sau khi buông điện thoại, Hảo vội vã lái xe đi chợ ngay rồi về nhà rút xương hai mươi cái cánh gà, rồi bâm hành đập tỏi, rồi thái củ đậu, bóc tôm, bằm thịt quấn bốn mươi cuốn chả giò. Sáng hôm sau ngủ dậy, Hảo ướp cá halibut nấu cháo. Theo lời chỉ dẫn của cô em dâu, Hảo mở hai lon nước xúp gà, hai lon sò hến nhỏ, rồi rang gạo, nhặt hành ngò nấu một nồi cháo ấm. Nhà văn Dương Thu Hương dặn rằng khi cháo sôi thì phải xuống lửa ngay đừng để hạt gạo nát ra như tương Cự Đà. Nồi cháo này chắc sẽ thành công, Hảo cảm thấy vui khi nghĩ đến những nồi cháo đặc sệt mình đã nấu để mà, ngoài mình ra không ai ăn được.

Chàng rể Jeffrey của Hảo là một người như mọi người. Hắn không phải là “Người Mỹ thầm lặng” hoặc “Người Mỹ... ugly” hai tác phẩm bán chạy trong giai đoạn người Mỹ Việt Nam hóa cuộc chiến để chuẩn bị rút quân về nước. Hai cuốn sách này đối với Hảo bây giờ chỉ còn là những ngọn đèn mờ đục, không soi thấu hết nỗi niềm kỳ thị trong lòng kẻ phản chiến cũng như nỗi hoài vọng của kẻ chống Cộng.

Jeffrey ăn uống vừa phải và nói ít. Khi nhìn cánh cửa bếp mở rộng, Jeffrey bảo: “Không nên mở cửa nhiều lần, nên đóng cửa lại ngay vì những con bọ con bug bay vào nhà.”

Tức thì con gái Hảo vui thích kêu lên: “Mẹ tôi không sợ nhện.”

Rồi hai người đưa mắt nhìn nhau. Hảo hoang mang không hiểu hai người muốn gì? muốn ngụ một ý nghĩa nào đây.

Sau buổi ăn trưa, Jeffrey đề nghị đi coi vườn hồng và vườn Nhật, hai cảnh đẹp nổi tiếng của tiểu bang Oregon.

Trở về nhà ăn cơm tối, cháo cá và cánh gà rút xương. Jeffrey gật gù khen “very good” rồi quay sang Thúy.

“Rút xương gà mất bao nhiêu công phu.”

Rồi Jeffrey nhìn Hảo: “Nếu Thúy nấu ăn được một phần mười như thế này, tôi chắc chắn là một người hạnh phúc nhất trần đời.”

Hảo vui vẻ nói đỡ cho con gái: “Nó biết làm chả giò. Nó cuốn chả giò nhanh lắm.”

Thúy chỉ vào Hảo cười: “Mẹ tôi ăn được hột vịt lộn.”

Rồi hai người lại đưa mắt nhìn nhau và Hảo lại hoang mang không hiểu hai người ấy muốn tỏ ra một điều gì nữa. “Mẹ tôi không sợ nhện và mẹ tôi ăn hột vịt lộn.” Người không sợ nhện có phải là một người anh hùng, can đảm có thừa? Và mức độ gan góc của một kẻ không sợ nhện lên cao tới bao nhiêu, có đáng phục như một kẻ không sợ cọp beo cá sấu? “Mẹ tôi ăn hột vịt lộn.” Ăn hột vịt lộn là một hành động cao cả hay thấp nhỏ? Tiểu nhân hay quân tử? Liều lượng của lòng can đảm trong tim gan một chiến sĩ ăn hột vịt lộn to bao nhiêu? Trong quả trứng lộn có bao nhiêu chất bổ chất béo chất xơ? Mẹ tôi có nên tiếp tục ăn cái thứ trứng lộn tròng đó nữa không? Hay là phải tốp lại vì ở Việt Nam mẹ đã xơi bao nhiêu đủ rồi?

Lúc từ giã, hai người ôm Hảo. Hảo đứng nhìn theo xe họ chạy chậm rồi bước vô nhà ngó vào một tá hột gà bà hàng xóm muối mặn đem cho. Hình như ai đó nói rằng hột vịt lộn là một bào thai tóc đen và khi bị nấu nóng, bào thai sợ hãi bài tiết ra chất độc. Điều này hoàn toàn trái ngược hẳn với sách thuốc Tàu. Nhà văn kỳ cựu Bình Nguyên Lộc nói với bạn bè rằng ăn hột vịt lộn bổ khỏe như ăn phở vậy. Người Huế ngủ đò trên sông Hương ăn trứng lộn vào lúc đêm khuya trời mát gió trăng giao tình. Người Huế đập nhẹ cái đầu và cái đít của quả trứng rồi ngửa cổ hút.

“Mẹ tôi không sợ nhện” câu nói vẫn còn theo Hảo tới lúc đi ngủ. Hảo hồi tưởng những năm tháng đỏ lửa, quân lính Mỹ nhảy vô chiến cuộc Việt Nam. Mỡ của họ đã sôi vì cái nóng trước khi máu của họ chảy ra trong những trận giao tranh. Có những cậu lính học trò tuổi từ mười tám, họ tự gọi họ là “boy.” Thằng con trai khi mới đặt đế giầy đinh xuống phi trường Đà Nẵng để thấy mặt nước Việt Nam xa lạ lần đầu, nó kêu hoảng lên, nó phát hỏa lên vì hơi nóng nhiệt đới mà nó gọi là lửa. Bộ quân phục bảnh bao của nó ướt đẫm mồ hôi và nó bước đi loạng choạng trong cơn sốt: mắt của nó trít lại vì bụi và cát mù mịt. Bụi Phú Bài, bụi Mang Cá, bụi Huế bu kín tất cả các lỗ chân lông trên người nó. Hai lỗ mũi nghẹt cứng lại, nó há miệng ra thở thì lập tức cát Cam Ranh, cát Đà Nẵng, cát Nha Trang luồn vào kẽ răng, lọt xuống yết hầu và rớt vô khí quản. Nó không nghe được tiếng người nữa vì gió mậu dịch từ Hạ Lào thổi sang đập vào hai tai nó. 

Charlie Việt-cộng không bao giờ dàn bày một chiến trường đúng đắn để hai bên dễ dàng đánh nhau. Quân du kích ở đâu cũng có mặt nhưng không thấy hình. Trong chiến cuộc Việt Nam, Charlie có bao giờ ở yên một chỗ để lực lượng hai bên cài răng lược ăn thua nhau, Charlie ám hết mọi vị trí và làm chủ tất cả tình hình với lối dụng binh theo chính đạo của đức Thánh Trần Quốc Tuấn và xảo thuật du kích Mao tse Tung:

Mỹ Ngụy xông lên, phe ta te chạy
Mỹ Ngụy cắm lều, phe ta ra tay.
Mỹ Ngụy nằm ngơi, phe ta đại chiến.
Mỹ Ngụy thụt lùi, phe ta rượt tới.

(The enemy advances, we retreat;
The enemy camps, we harras;
The enemy tires, we attack;
The enemy retreats, we pursue.)

Thêm vào đó, lính Mỹ khổ đau hơn nữa vì những con bọ, những con vật bé tí ti không thể dùng súng M-16 mà bắn được. Danh sách những con bọ có công giúp Cộng sản đánh Mỹ gồm có kiến, muỗi, vắt, đĩa, ruồi, ốc sên, thằn lằn, gián... nhưng dũng cảm hơn hết là con nhện. Đang ngồi, nằm la liệt ra đó để nghe nhạc, đánh bài hoặc viết thư nhưng hễ thấy một con nhện bò ngang qua là lập tức họ hô lên, tán loạn đi tìm bình thuốc sát trùng xịt mù mịt rồi bỏ đi chỗ khác. Con nhện chắc dốc tổ khi thấy người lính Hoa Kỳ, ngày nào là người hùng của đệ nhị thế chiến, lại sợ nhện, kẻ lãnh đạo đoàn ‘bọ binh’chống Mỹ.

Đối lại với nỗi sợ của người lính Mỹ, người Việt Nam khi đến Hoa Kỳ đã không sợ những gì? Ngủ không sợ muỗi đốt, không mất công treo mùng. Uống nước không cần đun sôi mất thì giờ.Và hay hơn hết là được sống trong thời tiết lành mạnh và thở khí trời trong sạch chưa bị ô nhiễm. Tuy nhiên, những an toàn đó không đủ làm cho ngôi nhà của người di tản có một hồn phách riêng, một ngôi nhà có thể xác không quan trọng bằng một ngôi nhà có linh hồn, một chỗ ở có nền văn hóa riêng: nhà Việt Nam ngày xưa có linh hồn tổ tiên, có đức Phật, đức Khổng và bậc đại hiền Lão Tử.

Ngày xưa Huế, những ngày xưa tôi phá sản đời con gái, những ngày xưa không có người xưa tôi bị đàn ông cho ế, mỗi đám mây đi qua tháp chuông nhà thờ Phú Cam đều đã đi qua lòng tôi và để lại một chữ ký, một nỗi vui ngậm ngùi. Ngày xưa Huế và bây giờ thì còn gì nữa đâu ngoài Huế, đi đâu thì đi, đứng đâu thì cũng chỉ đứng một chỗ thôi, tôi vẫn không bao giờ quên được mùi dầu dừa xứt tóc cho láng khi thân thể còn con gái. Ngày xưa Huế, cô giáo già lam đi chùa Từ Đàm nhiều hơn đi những nơi khác, tôi đã ngắm chùa Từ Đàm nhiều lần hơn những nơi cảnh đẹp hữu tình. Các vì vua triều Nguyễn đã đúc cho chùa Từ Đàm một pho tượng Phật rất to lớn và chùa chỉ thờ một bức tôn tượng này mà thôi. Tôi đi những ngôi chùa khác để ngắm những bức tượng nhỏ. Chùa nào cũng rất nhiều tượng nhỏ. Tượng Phật, tượng Bồ tát, tượng La Hán.

Hảo bỗng giật nảy người lên vì một quả điện thoại đểu reo trong lúc mãi suy nghĩ.

“Mẹ, mẹ... chúng con sẽ làm đám cưới...”

“Sao gấp vậy Thúy?” Hảo hoảng hốt hỏi.

“Con định nói với mẹ lúc ăn cơm chiều nhưng mắc cỡ quá không nói được. Mẹ, con sẽ cưới Jeffrey cuối tháng tới.”

Hảo vẫn còn mất bình tĩnh. “Sao lẹ quá vậy?”

“Không lẹ đâu mẹ ơi, chúng con biết nhau hơn mười năm rồi mà mẹ. Đám cưới sẽ được tổ chức tại nhà thờ. Đám cưới chúng con lớn lắm mẹ ơi... lớn lớn lắm.”

Hảo dịch một câu cách ngôn Việt ra English: ‘Không ai khen đám cưới, chẳng ai cười đám ma.’ Người ta không khen đám cưới tổ chức sang trọng, đầy đủ mặt quan khách; và người ta không ai coi nhẹ gia đình chết nghèo không đủ sức chi phí đám ma.

“Mẹ, không phải đám cưới lớn là một đám cưới giàu, mà là một đám cưới tốt được tổ chức tại nhà thờ do các ông cha đứng ra chủ hôn, đúng nghi lễ và giấy tờ hôn thú.”

Hảo lo lắng hỏi. “Mời bao nhiêu người? đãi ăn món gì?”

“Ăn cá salmon ám khói... Ngon lắm mẹ ơi.”

Hảo cười. “Bố mày chỉ ăn thịt thôi, bố mày tẩy chay cá.”

“Mẹ, cá salmon, tiêu biểu cho tiểu bang Washington, còn con cá halibut tiêu biểu cho tiểu bang Oregon, nhưng cá halibut mắc lắm.”

Hảo cảm thấy vui: “Hoa sơn lựu tiêu biểu cho tiểu bang Washington...”

Thúy ngắt lời. “Chi phí do cả hai đứa chịu, mẹ chỉ đóng góp ba trăm cái chả giò thôi.”

Ui chao thân già này phải đứng thẳng cái lưng còng để quấn ba trăm chả giò đem tới nhà thờ, cái sức khỏe này phải cầm dao phay thái mấy chục củ đậu to đại chang, chưa kể tôm thịt hành tỏi phải băm hạt lựu rồi thì phải gỡ bánh tráng đang dính nhau ra khỏi nhau... rồi thì đứng chiên... Đầu bếp chính hiệu Trung Hoa không có làm phần việc cắt thái rau quả hành tỏi, cá thịt... Đó là phần việc của đầu bếp phụ, đầu bếp chính chỉ giữ việc nêm và nấu thôi... Đức mẹ La Vang ơi! con vừa là đầu bếp chính vừa là đầu bếp phụ!

Thúy nói: “Mẹ còn một phần việc nữa là mẹ walk con, mẹ sẽ được thực tập phần việc walk cô dâu trong đêm rehearsal dinner do nhà trai đãi.”

“Thúy, mẹ chưa thấy một phim, hoặc một màn ảnh ti vi nào chiếu cảnh đám cưới mà người mẹ phải ‘goát’ con gái mình đi từ phòng thay quần áo ra tới chỗ ông cha chủ lễ đứng để trao đứa con gái mình tận tay chàng rể, mẹ chỉ thấy người đàn ông dìu con gái mình đi chầm chậm theo nhịp nhạc ‘here comes the bride’...”

“Mẹ, bố chết rồi, các cha bảo mẹ phải walk con.”

Hảo kêu. “Mẹ sẽ điện thoại cho cậu ở Cali và nhờ cậu làm chuyện đó. Mẹ chưa thấy người đàn bà nào ‘goát cô dâu’ cả.”

Thúy cương quyết: “Cha Slivers muốn vậy. Bố mất, mẹ còn, mẹ phải walk con.”

Hảo không trả lời, ngó con chim nhỏ bay lại gần bếp phẹt bậy lên mặt cửa kính. Hai cây lê hàng xóm chín thơm khiến đàn bướm kéo tới rắc phấn trên những trái tròn mọng nước. Da trái lê nhám chắc tại đánh phấn bướm.

Sau đó, Hảo điện thoại cho chàng em trai. “Cuối tháng tới, con Thúy làm đám cưới.”

Giữa hai giây im lặng, cậu em trả lời: “Vậy là con đặt đâu, cha mẹ ngồi đấy.”

“Chị nhờ Văn thay mặt nhà gái, dẫn nó đi trong nhà thờ. Nó đòi đi với chị.”

Văn chưa trả lời, Hảo vội nói luôn. “Đám cưới phải tổ chức tại nhà hàng Tàu mới vui. Phải không em?” 

Đâu đây chừng hai giây im lặng nữa rồi người em đọc cho Hảo nghe hai câu thơ:

Liễu tích nghiệp chướng bổn lai không.

Vị liễu ưng tu hoàng túc trái.

Hảo nói nịnh: “Em giỏi tiếng Tàu quá, chắc em là đệ tử của Hòa thượng Thích Mãn Giác?”

Rồi Hảo nói lảng sang chuyện ăn uống hằng ngày. “Chị ăn gạo lứt. Chị làm sữa đậu nành... đúng theo lời em khuyên.”

“Em khuyên chị thêm một lời nữa. Đừng ở một đời riêng, phải giao thiệp với bạn bè nhiều hơn. Sống chung hòa bình với tất cả mọi người trong cộng đồng. Có người có ta thì mới vui.”

Hảo nghĩ đến nỗi vui khe khẽ và tiếng nói nhè nhẹ nằm trong câu hát ‘nắng có buồn bằng đôi mắt em, mưa có buồn bằng đôi môi em’ trong khi chàng em tiếp:

“Bây giờ, chị hãy tưởng tượng con Thúy lấy một thằng chồng Việt Nam đàng hoàng, hai bên cha mẹ đứng ra tổ chức một đám cưới lớn, một đám cưới long trọng được đôi bên bốn bậc phụ mẫu mời ăn ở một nhà hàng Tàu hoặc một tiệm Mỹ sang trọng... Trước đó, thời gian tổ chức, cỡ một tháng rưỡi, thiệp hồng đã được gửi đi theo đường bay. Bạn bè của hai nhà trai gái có đủ thì giờ để chuẩn bị đi mừng một phong bì đúng theo như... như... lâu nay trong cộng đồng vẫn đi lại với nhau. Nếu đi dự cả hai ông bà hai phần ăn, thì phải đưa ra một cái phong thư trong đó có bao nhiêu đô-la. Nếu chỉ một nhân mạng đi dự tiệc thôi thì trong bao thư số tiền chỉ bằng một nửa chẳng hạn. Cái đó đã có giá nhất định trong cộng đồng rồi. Chỗ mời của tiệc cưới phải là tại nhà hàng ăn Tàu — đồ ăn ngon- hoặc là nhà hàng Mỹ —chỗ ngồi sang trọng. Sau đó một thời gian, có hai nhân vật rất uy tín trong cộng đồng, một đại diện cho nhà trai, một đại diện cho nhà gái hy sinh đôi chút thì giờ để kêu điện thoại hoặc nói chuyện trực tiếp thân mật thuyết phục mọi người hãy đi dự đám cưới thật đông. Sau hết, phụ huynh của đôi trẻ mới gọi giây nói mời miệng một lần nữa cho chắc và để biết số người sẽ đi dự là bao nhiêu để đặt phần ăn.

“Đến khi đám cưới, tưng bừng đại nhạc hội và dập dìu khiêu vũ, khi quan khách ăn uống vừa lưng bụng, đôi bên cha mẹ dẫn đôi trẻ đi chào từng bàn ăn một, giờ phút thắm tươi nhất, các phong bì được đưa ra. Người Việt Nam trước đám cưới đám ma thường ăn ở phúc hậu. Khi tiệc vui tàn, ai nấy về nhà, đôi trẻ cũng theo cha mẹ về nhà, mở bao thư ra đếm tiền. Và, số tiền mừng sau khi trang trải mọi thứ tốn kém, số tiền mừng đó... đủ cho đôi trẻ sang năm mua được một ngôi nhà trả góp.”

Hảo lắng nghe lời nói của chàng em mà ngậm ngùi! Đức Giáo hoàng Phao-Lồ ơi! Con vừa mất một cái nhà. Chàng em nói tiếp: “Đàng này, chị tôi tổ chức đám cưới ở nhà thờ Mỹ, ăn uống trước mặt đức Chúa chứ không phải trước mặt đức Đạt Lai Lama! Khách khứa tham dự đem quà đến mừng, ôm đồm một cái hộp gói giấy màu rực rỡ, cột giây satin bóng loáng, ghim vào một cái nơ to như cái bông thược dược đang nở... Đến giờ phút mở quà, cô dâu chú rể hồ hởi nêu lên tên người tặng quà, và mở cái hộp ra, trong đó có khi chỉ đựng một hòn đá mài dao mài kéo!

Chàng em trai Hảo là con trai một trong gia đình nhiều con gái. Hắn vốn rất ít nói, nhưng hôm nay khá nhiều lời. “Đây là kinh nghiệm được rút tỉa sau hơn ba mươi năm xa xứ. Nếu chị sống tách riêng ra khỏi cái bè mà tất cả cộng đồng Việt Nam đang cùng nhau chèo chống, đời chị sẽ lúa.”

Hảo không ưa kiểu nói năng chắc nịch như những câu định nghĩa trong từ điển Oxford nên gác máy. Từ điển thì chỉ nói đúng thôi, không bao giờ hay. Trước giấc ngủ có ai đọc từ điển bao giờ đâu.

Hảo thường hay nhìn ra cửa kính. Thiên nhiên có liên can gì đến tấc lòng? Từ lâu Trời đã cuối mùa hạ, nhưng không có nghĩa là cuối tháng tám, mà hình như đang giữa tháng chín, có đúng vậy không? Nhưng chắc không phải là thời kỳ thu phân. Lễ lao động đã qua, mùa hè của người Indian đã đến. Hảo ngồi xuống cái ghế đan bằng cọng cây wicker với những ý nghĩ giản dị đang kéo tới trong đầu. Cái đầu như cái máy hút bụi bên trong có một khoảng trống tối ám. Cái đầu như trái dừa thốt nốt dẹp lép. Tôi đã lấy một người chồng không uống được nước, chỉ uống rất nhiều budweiser và mỗi ngày có thể giải cứu được ngót hai chục lon bia bị giam cầm lạnh lẽo trong nước đá cục.

Hôm sau, Hảo trả lời chàng em: “Để con gái tự do lấy Mỹ và... lại còn làm đám cưới ở nhà thờ Mỹ không có tiền mừng để mua một cái nhà như con người ta. Lỗ to em ơi! Nhưng... nhưng thôi, hãy đặt hi vọng vào tương lai, cái sẽ xảy ra về sau vậy. Nếu mình là người tốt, ăn ở tốt... very nice, người Mỹ họ không ly dị mình, họ đi làm vì mình và khi họ chết, họ để của cải lại cho mình.”

Chàng em lật đật đổi sang giọng an ủi: “Thỉnh thoảng em thấy trong vài đám cưới tại nhà thờ Mỹ, có người đi mừng cả bộ nồi niêu son chảo, có người cho cô dâu chú rể hai cái va li bằng da để đi du lịch. Chị đừng buồn rầu tiếc của quá hại cho sức khỏe.” 

Hảo vẫn ngồi nhìn trời qua cửa kính và vẫn nói chuyện đều đều với chàng em khi trên cao những đám mây vẫn cụm vào nhau để sau đó tách riêng ra từng giải.

Tiếng chàng em vẫn đều đều. “Chị hãy dùng thì giờ rảnh để lên mạng đọc những bài viết trên computer. Có nhiều bài viết về đạo Phật vô cùng quý giá và những tài liệu về chiến tranh chị không bao giờ tìm thấy trên sách báo.”

Hảo vội ngắt lời chàng em: “Lâu nay chị thích đọc sách trên giấy hơn trên màn kính vì có nhiều câu văn cần phải tra từ điển... ngồi trước computer chị đọc không kỹ.”

Chiều cuối tuần làm biếng trôi qua, chiều thứ hai khá nhiều công việc, ngày thứ ba đi làm về Hảo ghé chợ mua nửa cân đường phèn giả nhỏ để dành nêm vào nhân món chả giò thay bột ngọt. Hành tây thái mỏng, tỏi phải băm chứ không được đâm nát. Mọi thứ đem cất vào ngăn đá trước mấy tuần lễ, gần ngày cưới mới đem ra quấn chả giò. Công phu nhất là việc thái hạt lựu từng củ đậu Mễ Tây Cơ to như cái sọ người. Có khi cả mấy công việc cùng hiện ra một lúc, có khi cả hai tay đều rảnh để Hảo lo lắng đến cái áo cái quần sẽ mặc trong ngày cưới. Con Thúy sẽ là một cô dâu trắng tươi kéo lê một cái áo cưới dài quét đất đi trong tiếng nhạc chậm ‘Here comes the bride.’ Con Thúy sẽ mặc áo rộng quấn khăn vành, ngọc giắt vàng giát giống như ba cô trong Nội, những nàng công chúa cấm cung mặt nhồi phấn nụ, tay đeo vòng mã não. Một bạn ở Florida gửi Hảo chiếc áo vẽ để tặng Thúy, một bạn ở Seattle mua cho nó cái áo thêu. Chàng em trai bỏ chút thì giờ gọi điện thoại: “Chị thấy đó, trong cộng đồng rất nhiều người tốt, rất ít người xấu.” 

Hảo vui vẻ tiến hành công tác làm ba trăm cái chả giò. Hành, tỏi, củ đậu, đường phèn... Người Huế gọi chả giò là ram. Ông xã Hảo hồi còn sống nói rằng tất cả những món ăn Huế ông chỉ thích ăn ram. Người Huế làm nhân ram với bún Tàu và tôm quết tươi cho thật nhiều hành hương vào. Hảo mơ màng nghĩ tới những ngày xưa tươi thắm xác pháo vu quy, mẹ Hảo mang áo Cẩm-tự màu vàng phủ ngoài tấm áo dài Vân Nội thướt tha. Bên trong, sau lớp áo kép kín bưng và nóng bức đó, mẹ Hảo mặc áo cụt hàng vân vảy cá và quần chân què bằng hàng anbel màu trắng. Hảo như nhìn thấy lại nhiều và hơi nhiều... Ông nội gửi lời mời cả tỉnh Thừa Thiên đến dự đám cưới con trai. Bà nội Hảo làm hai trăm cái ram, thơm nức cả làng Chí Long. Trẻ con bu lại coi đứng chật đường sá. Hảo mơ màng nghĩ tới một xã hội sống chung vui vẻ, một cộng đồng của ngày xưa, thật xa xưa, một thời kỳ cổ điển nghèo túng, người dân thiếu ăn thiếu mặc, những ngày xưa đó, ca dao và tục ngữ đã xuất hiện, và xuất hiện thật nhiều. Ngàn xưa đó, đã có văn nhân, đã có thi sĩ rồi... nhưng những người đó không biết họ là ai, không biết cây bút, không biết quyển sách, và công việc viết lách là gì. Họ không sống tách riêng lẻ loi mà hòa mình chung vui với mọi người trong cộng đồng. Gặp nhau trong đám cưới, trong tiệc vui, hội hè đình đám, thi sĩ nói ra ca dao giữa thính giả tức cộng đồng và văn sĩ thốt ra lời vàng, ý bạc tức là những câu tục ngữ cách ngôn... trước mặt toàn thể công chúng... Cho đến lúc cuộc đời đổi mới nới cũ, các ông bà văn nhân thi sĩ tự biết mình là chút gì đó. Họ có tư tưởng, có nguồn hứng, có tình cảm, họ không thổ lộ cùng người trong cộng đồng nữa, họ giấu, họ giữ kín bưng để làm vốn liếng sáng tác xuất bản, họ viết văn làm thơ đăng báo và in sách!



23 tháng 9 năm 2006



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét