Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2018

Đỗ Thái Nhiên: Trần Đức Thảo và ẩn số của "Vấn  Đề  Con  Người ..." (Tiếp theo)

Chương bốn
Cá Nhân Nhân Cách và Cá Nhân
Lệ Thuộc Điều Kiện Giai Cấp

A.- Phần Trần Thuật

Toàn bộ chương 4 chỉ là sự nhắc lại ý kiến của các chương trước với một vài chi tiết hóa như sau:

1.- Nhân cách và điều kiện giai cấp: Con người có hai nhân cách: nhân cách con người nói chung và nhân cách do giai cấp qui định.

- Đối với giai cấp tư sản: "Chỉ khi nào bị phá sản thì người tư sản mới nhận ra cái nhân cách của anh, tức bản thân con người của anh, là khác biệt với quan hệ giai cấp tư sản đã phá sản của anh" (Vấn Đề Con Người, trang 68).

-Đối với giai cấp vô sản: "Sự mâu thuẫn giữa nhân cách cá nhân người vô sản với cái điều kiện áp đặt vào anh, là lao động làm thuê, thể hiện rõ ràng trước mắt anh, nhất là anh đã bị hy sinh ngay từ tuổi trẻ, và anh cũng chẳng có khả năng gì trong giai cấp của anh mà đạt được điều kiện đưa anh sang giai cấp khác. Để tự lập thân mình theo nhân cách của mình, những người vô sản phải xóa bỏ cái điều kiện sinh hoạt của họ... Như thế họ đứng đối lập với nhà nước tư sản và họ phải đánh đổ nhà nước ấy để thực hiện nhân cách của mình" (Marx và Angen, hệ tư tưởng Đức, Dietz Verlag, trang 76 - 78).

2.- Cá nhân nhân cách với cá nhân lệ thuộc điều kiện giai cấp trong con người vô sản: Những người vô sản chỉ có thể nhận thấy mình trong đấu tranh giai cấp cách mạng xóa bỏ chế độ làm thuê, tức là "họ phải đánh đổ nhà nước tư sản để thực hiện nhân cách của mình" (Vấn Đề Con Người, trang 71).

3.- Sự phát triển nhân cách của con người vô sản: cách mạng xã hội chủ nghĩa, tức là cách mạng vô sản được thành hình trên hai cơ sở:

-Cơ sở chủ quan là sự mâu thuẫn giữa nhân cách của con người vô sản với chế độ lao động làm thuê.

-Cơ sở khách quan là cái cơ chế sản xuất của tư bản chủ nghĩa làm cho giai cấp công nhân càng ngày càng đấu tranh có kỷ luật, đoàn kết và tổ chức chống chủ nghĩa tư bản.

4.- Phép biện chứng Duy Vật cụ thể của chủ nghĩa Marx-Lenine và phép siêu hình máy móc Duy Tâm chung chung của phái lý luận không có con người: Muốn hiểu rõ tiến trình của cách mạng vô sản, người ta "phải phân biệt cá nhân nhân cách với cá nhân lệ thuộc điều kiện giai cấp. Đồng thời phải phân biệt trường hợp giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột. Trong khi đó Althusser không đi vào phân tích cụ thể mà chỉ nói rất chung chung: "Mỗi xã hội... Mỗi giai cấp có những cá nhân của nó... Những con người có thật là cái gì mà những điều kiện giai cấp tạo nên". Như thế là gói trọn tất cả, lẫn lộn khái niệm xã hội với khái niệm giai cấp, lẫn lộn giai cấp tư sản với giai cấp vô sản, cá nhân nhân cách với cá nhân lệ thuộc điều kiện giai cấp" (Vấn Đề Con Người, trang 75). Nhằm phản đối lý luận của Althusser mà Trần Đức Thảo gọi là con người chung chung, ông Thảo đã nhắc lại rằng: "loài người là chủ thể vật chất: tất cả mọi người có thật tức là bản thân loài người làm ra lịch sử của mình trong sự biện chứng của sức sản xuất với quan hệ sản xuất, biểu hiện trong đấu tranh giai cấp, xây dựng tư tưởng cá nhân và xã hội" (Vấn Đề Con Người, trang 76).

5.- Ý chí đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và ý chí đấu tranh bảo thủ và phản động của giai cấp tư sản: Althusser chủ trương: "Những con người có thật là cái gì mà những điều kiện giai cấp tạo nên..., cả ý chí đấu tranh của họ là lệ thuộc những điều kiện ấy" (Réponse à John Lewis, trang 34). Trần Đức Thảo chống lại ý kiến vừa kể của Althusser: "Không thể nói chung rằng "ý chí đấu tranh của họ là lệ thuộc vào những điều kiện ấy". Dĩ nhiên ý chí phản cách mạng của giai cấp phản động là lệ thuộc những điều kiện giai cấp bóc lột. Nhưng ý chí đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị bóc lột là sinh ra từ nhân cách con người phát triển trong và chống những điều kiện của giai cấp bị bóc lột" (Vấn Đề Con Người, trang 80).

6.- Quan điểm lịch sử của chủ nghĩa Marx -Lenine và quan điểm phi lịch sử của chủ nghĩa xét lại hữu khuynh và "tả" khuynh, vừa "tả" vừa hữu: Trần Đức Thảo nhận định: "Chủ nghĩa xét lại hữu khuynh nhân đạo chung chung cho rằng tất cả mọi người, không kể giai cấp nào, đều có tự do trong ý thức sáng tạo. Chủ nghĩa xét lại "tả" khuynh, "lý luận không con người" cũng san bằng các giai cấp, khi họ cho rằng "những con người có thật" - tức là tất cả mọi người - đều "là cái gì mà những điều kiện giai cấp tạo nên... cả ý chí đấu tranh của họ là lệ thuộc những điều kiện ấy". Như thế là cả hai phái xét lại hiện đại đều không có lập trường giai cấp vô sản cách mạng, đều không công nhận ưu thế cơ bản của nhân cách con người vô sản cách mạng. Lịch sử loài người, lịch sử con người, về căn bản là lịch sử cách mạng của quần chúng nhân dân. Cả hai phái xét lại đều làm cho lịch sử cách mạng trở thành một cái gì không thể nào hiểu được" (Vấn Đề Con Người, trang 83 - 84). 

B.- Phần Đánh Giá Lý Luận 

Cuộc tranh cãi giữa Althusser và Trần Đức Thảo là cuộc tranh cãi giữa hai nhà tư tưởng Duy Vật, cả hai đều đứng trên lập trường Duy Vật. Thế nên có nhiều chi tiết trong cuộc tranh cãi này mà những người chống Duy Vật không cần phải bước vào, bởi vì, chỉ cần bẻ gẫy tiền đề Duy Vật, mọi câu chuyện có tính cách vệ tinh của Duy Vật sẽ tự chúng vỡ ra thành từng mảnh vụn. Tuy nhiên để cho độc giả có ý niệm chung về tác phẩm "Vấn Đề Con Người và Chủ Nghĩa Lý Luận Không Có Con Người", một mặt người cầm bút phải trần thuật đầy đủ mọi chủ ý của tác phẩm, mặt khác tôi chỉ đánh giá lý luận đối với những luận điểm cần thiết.

Chương 4 có những vấn đề sau đây cần phê phán: Trần Đức Thảo cho rằng con người có nhân cách người nói chung và nhân cách giai cấp. Dĩ nhiên người ta có thể dễ dàng đồng ý với Trần Đức Thảo về sự hiện hữu của nhân cách con người nói chung, nhưng người ta lại hoàn toàn không đồng ý với ông Thảo về quá trình hình thành nhân cách cũng như vị trí của nhân cách chỉ là vị trí hàng 2 sau tính giai cấp. Người ta lại càng không đồng ý với ông Thảo khi ông ta bảo rằng: "Chỉ khi nào bị phá sản thì người tư sản mới nhận ra cái nhân cách của anh" và "người vô sản chỉ nhận thấy mình (nhân cách vô sản) trong đấu tranh giai cấp". Nói theo kiểu Trần Đức Thảo thì tính người chỉ đơn thuần là tính tư hữu và nhân cách của người chỉ chung nhất trong hoàn cảnh quyền tư hữu xuống thấp nhất. Nhân cách bị nhìn một cách méo lệch như vừa kể nên người Cộng sản Trần Đức Thảo mới biến vấn đề nhân cách thành cuộc chém giết bất tận giữa vô sản và tư sản trong mục tiêu tranh giành ghế thống trị: "Giai cấp vô sản tiến lên địa vị thống trị, giai cấp tư sản hạ xuống địa vị bị trị" (Vấn Đề Con Người, trang 103). Thống trị bao giờ cũng hàm chứa quỉ kế trấn áp kẻ khác để xây dựng đời sống của mình trên cõi chết của đồng loại. Vì vậy làm thế nào thống trị có thể trở thành yếu tố căn bản của tính người nói chung? Tư sản bóc lột vô sản tức là tư sản đã thỏa mãn nhu yếu tính theo kiểu động vật. Vô sản tiêu diệt tư sản tức là vô sản đã thể hiện tính tự vệ của động vật. Nguyên nhân cội nguồn của đấu tranh giai cấp là trạng thái "động vật hóa" của vô sản lẫn tư sản. Giải trừ "động vật hóa" sẽ khiến cho đấu tranh giai cấp bị giải tiêu. Chỉ có giải trừ "động vật hóa" mới có thể đưa dẫn tư sản lẫn vô sản trở về tính người chân chính. Từ đấu tranh chung quanh quyền tư hữu chuyển qua đấu tranh chung quanh bốn chân của chiếc ghế thống trị con người chỉ có thể biến con người trở nên "vật hơn" chứ chẳng thể nào "người hơn".

Trên con đường "vật hơn", tâm trí của con người ngày một u tối hơn. Trong cảnh u tối này, cuộc tranh cãi giữa Althusser và Trần Đức Thảo rất nhiều khi đã đi vào vòng luẩn quẩn. Althusser bảo: "Những con người có thật là cái gì mà điều kiện giai cấp tạo nên". Trần Đức Thảo phản đối: "Loài người là chủ thể vật chất". Chủ thể vật chất là người, chủ thể vật chất cũng là cha đẻ của điều kiện giai cấp. Như vậy Trần Đức Thảo và Althusser đã gặp nhau trong sự tìm thấy người hay điều kiện giai cấp đều là sản phẩm của vật chất, tại sao cuộc tranh cãi của họ vẫn tiếp tục ồn ào?

Riêng về quan điểm lịch sử của chủ nghĩa Marx Lenine, Trần Đức Thảo mạnh mẽ xác nhận: "Lịch sử loài người, lịch sử con người, về căn bản là lịch sử cách mạng của quần chúng nhân dân" (Vấn Đề Con Người, trang 84). Xác nhận vừa nêu của Trần Đức Thảo hiển nhiên là một xác nhận sai sự thực nếu không muốn nói là không ngay thẳng. Chúng ta hãy xem trang 110 Vấn Đề Con Người: "Lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp" (Tuyên Ngôn của đảng Cộng sản). Như vậy Trần Đức Thảo đã chế biến "lịch sử đấu tranh giai cấp" thành "lịch sử cách mạng của quần chúng nhân dân". Biến chế này rõ ràng có ẩn ý gây cho người đọc ngộ nhận rằng chủ nghĩa Marx Lenine là chủ nghĩa "có con người", có nhân bản. Nhà tư tưởng biết tự trọng không bao giờ thuyết phục người khác bằng cách viện dẫn những sự thật đã bị chính đương sự bóp méo.

Chương năm
Một Phạm Trù "Triết Lý" Mới:
"Quá Trình Không Có Chủ Thể"

A.- Phần Trần Thuật

Quan điểm căn bản của Althusser về con người là quan điểm cho rằng: "Những con người là cái gì mà giai cấp tạo nên". Trần Đức Thảo chỉ trích quan điểm vừa nêu bằng các luận điểm kể sau:

1.- Althusser đã lầm lẫn giữa hệ thống cơ cấu (système de structures) và hệ thống cấu trúc (système structuraliste). Althusser đã hiểu chủ nghĩa cấu trúc (Structuralisme) như là một hình thức tuyệt đối hóa, cô lập hóa hệ thống cơ cấu, biến hệ thống cơ cấu thành một hệ thống cấu trúc độc lập đối với lịch sử, tự nó, nó có thể xoay vòng tròn vô thủy vô chung.

2.- Để bác khước quan niệm con người là chủ thể làm ra lịch sử, Althusser đã mạnh mẽ xác nhận: "không có (một) chủ thể của lịch sử. Và tôi đi xa hơn nữa: "Những con người" cũng không phải là "những chủ thể của lịch sử" (Réponse à John Lewis, trang 70). Từ "lý luận không có con người" đến lý luận con người không là chủ thể của lịch sử, Althusser không thể không kết luận: lịch sử là một quá trình không có chủ thể. Xác nhận vừa nói của Althusser đã gián tiếp bác bỏ tính liên tục và chuyển hóa của lịch sử thông qua các qui luật triết học mà trội yếu nhất là qui luật "phủ định sự phủ định". Tệ hại hơn nữa, Althusser còn ngang nhiên tuyên bố: "Quả thực tôi thấy người ta không thể chờ đợi gì tích cực ở cái phạm trù phủ định sự phủ định". Tóm lại dưới mắt Althusser: chỉ có điều kiện giai cấp, không có con người, lịch sử là một quá trình không chủ thể, không có sự tham dự của qui luật phủ định sự phủ định, cấu trúc giai cấp đã qui định con người, đã biến lịch sử thành vòng tròn xoay vần tự thân không chuyển hóa, trong đó không phân biệt vô sản, tư sản, người đi bóc lột, kẻ bị bóc lột.

Trước lối lý luận mà Trần Đức Thảo mỉa mai gọi là "minh triết" của Althusser, ông Thảo đứng trên lập trường của một người Marxist, đã lớn tiếng nhấn mạnh: "Vật chất là chủ thể của tất cả mọi sự biến chuyển". Từ đó ông Thảo nói tiếp: "Vật chất là chủ thể của lịch sử". Sau cùng ông Thảo kết luận gẫy gọn: "Cái vật chất nó tư duy tức là con người có bộ óc tư duy... Con người theo nghĩa chung của loài người, thì chính là chủ thể của lịch sử" (Vấn Đề Con Người, trang 87).

Dĩ nhiên tại chương năm cũng như tại các chương trước, Trần Đức Thảo rất nhiều lần xác quyết "con người theo nghĩa chung của loài người" là con người có tính người thời Cộng sản nguyên thủy. Thời nay, tính người Cộng sản nguyên thủy chỉ có ở những nhi đồng 6 tuổi. Lên 7 tuổi đứa bé bắt đầu mang tính giai cấp: Tính giai cấp là bản chất hàng 1 bao trùm lên tính Cộng sản nguyên thủy được gọi là bản chất hàng 2. 

B.- Phần Đánh Giá Lý Luận

Nếu đứng trên lập trường Marxist, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra ưu thế lý luận của Trần Đức Thảo trong việc bác khước Althusser về hai luận điểm:

1.- Lịch sử là một quá trình không có chủ thể.

2.- Triệt để tuyệt đối hóa, cô lập hóa hệ thống cơ cấu (đối tượng của phép phân tích cơ cấu) để biến vận hành của lịch sử thành những vòng tròn không có lối chuyển hóa, thiếu hẳn liên hệ toàn diện. 

Tuy nhiên, chữ "nếu" ghi ở đầu phần đánh giá này sẽ không bao giờ có thể xảy ra trong thực tiễn đời sống. Là người, chúng ta không thể đứng trên lập trường Duy Vật hay Duy Tâm, hay bất cứ lập trường nào khác lập trường người để biện giải lịch sử. Lập trường người là vị trí triết lý duy nhất có thể cung cấp cho con người khả năng nhìn ra lịch sử một cách sinh động tròn đầy và suốt dọc. Trên lập trường người, không người nào có thể chấp nhận quái tượng "vật chất nó tư duy tức là con người có bộ óc tư duy". Trên lập trường người, mọi người đều đồng ý với nhau: "con người chính là chủ thể của lịch sử". Thế nhưng con người hiểu theo nghĩa chung nhất không thể là người Cộng sản nguyên thủy ngày xưa, hoặc các em nhi đồng dưới 6 tuổi ngày nay. 

Kết luận: đứng trên lập trường người, chúng ta không thể không bác khước mọi lý luận của Althusser lẫn Trần Đức Thảo đã trình bày trong cuộc tranh cãi có tên gọi là "Quá trình không có chủ thể".

Chương sáu
Chủ Nghĩa "Lý Luận Không Có Con Người"
Và Vấn Đề Dân Tộc

A.- Phần Trần Thuật 

Đặc biệt chương sáu là chương nghèo nàn nhất của tác phẩm: chương này tác giả chỉ có thể kéo dài trong hai trang giấy cộng thêm vài dòng.

"Một đặc điểm của chủ nghĩa "lý luận không có con người" (theo nghĩa chung của loài người) là trong hệ thống tư tưởng của họ, không có chỗ nào có thể tiếp thu khái niệm dân tộc. Chủ nghĩa Marx Lenine bao giờ cũng xác nhận tầm quan trọng cơ bản của vấn đề dân tộc là một cộng đồng xã hội dựa trên những quan hệ đồng bào. Quan hệ đồng bào là xuất phát từ những quan hệ cộng đồng nguyên thủy, mở rộng trên cơ sở một nước ở thời đại xã hội giai cấp" (Vấn Đề Con Người, trang 105). 

B.- Phần Đánh Giá Lý Luận

Đúng như phần trần thuật đã trình bày, khi luận về dân tộc, Trần Đức Thảo vẫn không thể xa rời các định đề kiểu "vật chất nó tư duy tức là con người có bộ óc tư duy", hoặc "lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp", hoặc "dân tộc cũng có tính giai cấp, trong xã hội giai cấp thì giai cấp và đấu tranh giai cấp là cái cơ bản nhất". 

Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử đã bác bỏ lý luận của Trần Đức Thảo. Thực tiễn lịch sử đã chất chứa rất nhiều biến động không hề có màu sắc giai cấp. Nếu người Cộng sản bảo "Lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp" thì người Việt Nam chúng tôi bao giờ cũng khẳng định "Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm". Trong đấu tranh chống ngoại xâm, người Việt kết hợp thành đại khối dân tộc, không phân biệt già trẻ, nam nữ, giàu nghèo, và nhất là không hề có một chiến sĩ chống ngoại xâm nào đã hướng mũi súng về phía địch quân chỉ với mục đích đòi lại quyền tư hữu cho bản thân đương sự. Làm thế nào có thể thấy được "đấu tranh giai cấp là cái cơ bản nhất" trong những xương, những máu, những mồ hôi nước mắt mà rất nhiều thế hệ Việt Nam đã cống hiến cho nỗ lực biến quê hương ly loạn thành chốn non sông gấm vóc thân yêu? Trong thế giới của di tích lịch sử, nhất là trên các mộ bia của những bậc đã hiên ngang bước vào cõi chết để cho dòng sống dân tộc trường tồn, người ta thường tìm thấy hàng chữ "Vị Quốc Vong Thân". Ngay cả trường hợp những người Cộng sản đã chết trong chiến tranh Việt Nam, được Cộng sản long trọng gọi là "liệt sĩ", trên mộ bia của họ vẫn ghi là "vị quốc vong thân" thay vì phải ghi là "vị giai cấp vong thân".

Một trong những định tắc căn bản của phép biện chứng là: "thực tại bao giờ cũng phải là điểm chuẩn duy nhất của chân lý". Lý luận được dẫn chứng bằng chân lý thực tại gọi là lý luận biện chứng. Lý luận không khớp đúng với thực tại gọi là lý luận siêu hình. Trần Đức Thảo cho rằng: lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp, rằng: đấu tranh giai cấp là cái cơ bản nhất, nhưng thực tiễn lịch sử cho mọi người thấy rằng cái cơ bản nhất trong Việt Sử là tinh thần Vị Quốc Vong Thân, rằng lịch sử đã dành hầu hết giấy mực để ghi chép công ơn và sự nghiệp của những bậc đã Vị Quốc Vong Thân. Như vậy hiển nhiên Trần Đức Thảo đã nhìn dòng lịch sử bằng lăng kính siêu hình.

Chương bẩy
Ba Vấn Đề Mâu Thuẫn
Giữa Althusser và John Lewis

A.- Phần Trần Thuật 

Trần Đức Thảo muốn làm nổi bật quan điểm của ông ta về con người bằng cách viết nhận định về ba mâu thuẫn sau đây giữa Althusser và John Lewis.

1. Vấn đề ai làm ra lịch sử.

a. John Lewis: Con người làm ra lịch sử (hiểu theo Duy Tâm).
b. Althusser: Quần chúng làm ra lịch sử.
c. Trần Đức Thảo: Chỉ trích Althusser đề cập tới vai trò của quần chúng đối với lịch sử nhưng không đề cập tới hai mặt tích cực và tiêu cực của lịch sử. Ông Thảo khẳng định:
- Quần chúng lao động làm ra lịch sử (về căn bản và xét tới cùng).
- Con người làm ra lịch sử (xét toàn diện).

2. Vấn đề làm ra lịch sử như thế nào.

a. John Lewis: Con người làm ra lịch sử bằng cách vượt qua lịch sử.
b. Althusser: Đấu tranh giai cấp là động cơ của lịch sử.
c. Trần Đức Thảo: Quan điểm của John Lewis rõ ràng là sai (ông Thảo chỉ nói vắn tắt, không chứng minh). Riêng đối với Althusser, ông Thảo đã nhắc lại tuyên ngôn của đảng Cộng Sản: "Lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp" (Vấn Đề Con Người, trang 110), vì vậy nếu bảo "đấu tranh giai cấp là động cơ của lịch sử" thì chẳng khác nào bảo ‘đấu tranh giai cấp là động cơ của đấu tranh giai cấp’. Nói như vậy có nghĩa là đấu tranh giai cấp sẽ phải kéo dài mãi mãi. Trong khi đó (vẫn theo ông Thảo) đấu tranh giai cấp xuất phát từ mâu thuẫn đối kháng (đồng nghĩa với mâu thuẫn hủy diệt) giữa đòi hỏi xã hội hóa kinh tế và quyền tư sản của chủ nghĩa tư bản. "Và nó (đấu tranh giai cấp) kết thúc trong chủ nghĩa xã hội vì mâu thuẫn kinh tế đặc thù của chủ nghĩa xã hội là không đối kháng: tự nó, nó không sinh ra giai cấp và đấu tranh giai cấp" (Vấn Đề Con Người, trang 112). 

3. Vấn đề đối tượng của nhận thức.

a. John Lewis: Con người chỉ nhận thức cái mà nó làm ra (ce qu'il fait).
b. Althusser: Người ta chỉ nhận thức cái gì tồn tại (ce qui est).
c. Trần Đức Thảo: John Lewis hiểu "làm ra" theo nghĩa Duy Tâm tất nhiên là sai từ gốc (Vấn Đề Con Người, trang 114). Đối với Althusser, ông Thảo nêu ý kiến: "Người ta chỉ nhận thức cái gì tồn tại tức là không nhận thức được gì về xu hướng của cái tương lai, chưa tồn tại, thì cũng không thể nào có cơ sở khoa học để cải tạo những di tích cần được cải tạo, lại không có cơ sở để gạt bỏ quan liêu bao cấp..." (Vấn Đề Con Người, trang 116).

B.- Phần Đánh Giá Lý Luận 

Tôi xin đánh giá lý luận của chương bẩy theo thứ tự của ba vấn đề do Trần Đức Thảo chọn để trình bày. 

1.- Vấn đề ai làm ra lịch sử: Trần Đức Thảo đã nhân danh một người Marxist để xác nhận: "Về căn bản và xét tới cùng: quần chúng lao động làm ra lịch sử. Con người cũng như quần chúng lao động, cũng như người Cộng sản nguyên thủy, cũng như em nhi đồng dưới 6 tuổi... tất cả chỉ là "vật chất nó tư duy tức là con người có bộ óc tư duy" (Vấn Đề Con Người, trang 87). Sở dĩ Trần Đức Thảo phải nói lớp lang theo kiểu "xét tới cùng, xét toàn diện" chỉ vì ông Thảo muốn tạo ra một "mê hồn trận" lý luận với ẩn ý gây cho người đọc có ảo tưởng về tính nhân bản trong lịch sử quan Duy Vật.

2.- Vấn đề làm ra lịch sử như thế nào: Trả lời thắc mắc này, Trần Đức Thảo đã viết một cách gần như tự động "‘Lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp’ nhưng đấu tranh giai cấp phải kết thúc trong xã hội chủ nghĩa vì mâu thuẫn kinh tế đặc thù của chủ nghĩa xã hội là không đối kháng: tự nó không sinh ra giai cấp và đấu tranh giai cấp" (Vấn Đề Con Người, trang 112). Quan điểm vừa kể của Trần Đức Thảo đã dẫn đến các khước biện nêu sau:

a. "Lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp" có nghĩa là:

- Vào thời Cộng sản nguyên thủy (thời mà Trần Đức Thảo cho là đã tạo tính người hiểu theo nghĩa chung nhất), bánh xe lịch sử chưa chuyển động bởi vì lúc bấy giờ làm gì có đấu tranh giai cấp?

- Xã hội nào "được" người Cộng sản đẩy cho "tiến nhanh, tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa" thì bánh xe lịch sử của xã hội đó lập tức ngưng chuyển động, bởi vì theo Trần Đức Thảo "kinh tế đặc thù của xã hội chủ nghĩa không sinh ra giai cấp và đấu tranh giai cấp".

b. Có lẽ nhận ra có cái gì không ổn về xã hội chủ nghĩa không giai cấp, Trần Đức Thảo giải thích bổ túc: "Cái cơ bản nhất là sự biện chứng kinh tế của sự mâu thuẫn hoặc đối kháng hoặc không đối kháng giữa sức sản xuất với quan hệ sản xuất là động cơ của lịch sử loài người, trong ấy có lịch sử đấu tranh giai cấp và lịch sử xã hội không giai cấp". Lời giải thích này dẫn đến ba bế điểm:

- Duy Vật sử quan bao giờ cũng dõng dạc tuyên bố "lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp". Thế nên "lịch sử xã hội không giai cấp" phải chăng là loại lịch sử do người Cộng sản Trần Đức Thảo mới sáng tạo năm 1988?

- Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn hủy diệt kiểu động vật. Mâu thuẫn không đối kháng chính là sinh hoạt đối lập thống nhất của xã hội nhân tính. Trong tất cả qui luật triết học Duy Vật của Marx không hề có một qui luật nào nhằm giúp cho người Cộng sản nêu ra những yếu tố cụ thể để phân định giữa mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.

- Theo Trần Đức Thảo, trong xã hội không giai cấp, động cơ của lịch sử vẫn là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nhưng lại là "mâu thuẫn không đối kháng". Cùng là con đẻ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, tại sao mâu thuẫn này là đối kháng, mâu thuẫn kia là không đối kháng? Trong thực tiễn xã hội, có vô vàn cặp mâu thuẫn mang cường độ khác nhau, tại sao vào lúc nào đó chỉ duy có mâu thuẫn không đối kháng trong kinh tế lại đủ lực làm cho lịch sử tiến hóa?

c. Không thể chối cãi rằng xu hướng kinh tế hiện nay của các quốc gia Cộng sản là xu hướng chối bỏ "quốc doanh độc quyền". Xu hướng này đang được dẫn đầu bởi Trung Quốc và Liên Xô, sau đó là nhiều nước "xã hội chủ nghĩa anh em khác". Ngày nay chỉ những người tâm trí không bình thường mới có đủ kiên nhẫn chờ đợi một ngày đẹp trời nào đó nền kinh tế Marxist chân chính sẽ xuất hiện. Hình ảnh xã hội chủ nghĩa không giai cấp làm cho bánh xe lịch sử (hiểu theo nghĩa lịch sử là lịch sử giai cấp) phải ngừng chuyển động vừa vô cùng nghịch lý, vừa gợi nhớ ray rứt "con cá rô gỗ" của người dân Nghệ Tĩnh cùng khổ.

3. Vấn đề đối tượng của nhận thức: Chỉ những người thiển cận như Althusser mới cho rằng "người ta chỉ nhận thức cái gì tồn tại". Trần Đức Thảo đã hoàn toàn hữu lý khi minh xác: Người ta chẳng những chỉ nhận thức cái gì tồn tại, mà còn phải nhận thức cả những gì gọi là "xu hướng của cái tương lai, chưa tồn tại". Có như vậy, người ta mới thấy được xu thế của lịch sử, mới tiên liệu được mọi biến chuyển xã hội. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả đối tượng của nhận thức chính là vị trí đứng của người nhận thức. Chỉ đứng trên lập trường người, người ta mới có khả năng nhận thức một cách sinh động và tròn đầy mọi hiện tượng sống. Nếu đứng trên lập trường "vật chất nó tư duy", người ta không thể không thấy đời sống chỉ vỏn vẹn là một cuộc tàn sát lẫn nhau nhằm đoạt thủ miếng ăn. Cuộc tàn sát này gần một thế kỷ qua đã được ngụy trang bằng mỹ từ pháp "đấu tranh giai cấp".

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét