Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2018

Đỗ Thái Nhiên: Trần Đức Thảo và ẩn số của "Vấn  Đề  Con  Người ..."


Theo đà tiến hóa của loài người: càng ngày, con người càng chối bỏ một cách không khoan nhượng mọi hình thức dùng bạo lực để giải quyết những dị biệt giữa người với người về quyền lợi, về nghĩa vụ và về cơ hội sống. Do sự thể bạo lực bị kết án như vừa kể, con người chỉ có thể sử dụng tư tưởng thông qua ngôn ngữ để cùng nhau tìm kiếm các giải pháp êm thắm cho những khó khăn trong sinh hoạt xã hội. Đó là ý nghĩa tiên khởi, là nội dung cốt lõi, là mục tiêu cao cả của đấu tranh tư tưởng. Thế rồi xã hội dần dần phức tạp. Thế rồi những đối lập về quyền lợi chính trị cũng như quyền lợi kinh tế dần dần to lớn. Thế rồi những bất đồng tư tưởng trên quan hệ xã hội đã từ đối lập thống nhất dần dần tiến lên mâu thuẫn gay gắt... Thế rồi rất nhiều cái "thế rồi" khác đã biến đấu tranh tư tưởng thành những trận chiến hỗn loạn, trong đó, người ta đãi ngộ lẫn nhau bằng chụp mũ, bằng tin tức bịa đặt, bằng lời lẽ khiếm lễ, đôi khi thô tục một cách lộ liễu. Ngày nay đấu tranh tư tưởng gần như bị đồng hóa với đấu tranh bạo lực, một thứ bạo lực tinh thần. Dĩ nhiên, như đã nói ở phần mở đầu: mọi hình thức bạo lực - kể cả bạo lực tinh thần - đều bị xã hội văn minh loại trừ không đắn đo.

Diễn tả sự khác biệt rõ nét giữa đấu tranh tư tưởng nghiêm túc và đấu tranh tư tưởng theo kiểu chuyên chở bạo lực, tôi có chủ ý tự nhắc nhở chính tôi bao giờ cũng phải duy trì thái độ trầm tĩnh và lễ độ trong mọi tình huống của đấu tranh tư tưởng. Có như vậy tôi mới xứng đáng để được trân trọng kính mời bạn đọc hãy cùng tôi bước vào một trường hợp đấu tranh tư tưởng mang nội dung như sau: 

Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) lần thứ VI có chủ đích hoạch định kế hoạch phát triển quốc gia trong 5 năm từ 1986 tới 1990. Đối với kế hoạch năm năm này, Đảng CSVN đã đề ra mười nhiệm vụ: Tăng cường sản xuất lương thực, cải tạo kinh tế xã hội chủ nghĩa, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối sản phẩm, xây dựng chánh sách xã hội, tăng cường công tác đối ngoại, phát huy quyền làm chủ tập thể, xây dựng Đảng thực sự ngang tầm một Đảng cầm quyền, nâng cao hiệu lực chỉ đạo và điều hành Đảng và nhà nước. 

Mở đầu phần xây dựng chính sách xã hội, Nghị quyết VI viết: "Chính sách xã hội nhằm phát huy mọi khả năng của con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất". Căn cứ vào câu mở đề vừa kể, và nhất là do sự hối thúc của những bế tắc tư tưởng hiện nay trong giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam, Giáo sư Trần Đức Thảo đã viết tác phẩm "Vấn Đề Con Người Và Chủ Nghĩa Lý Luận Không Có Con Người". Tác phẩm này do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành lần thứ nhất vào tháng 9 năm 1988 và lần thứ hai tháng 1 năm 1989. Để cho những ý kiến phê bình tác phẩm được diễn đạt ngắn, gọn và mạnh mẽ, tôi xin phép chỉ gọi tác giả là Trần Đức Thảo và bỏ đi tước vị Giáo sư đứng trước tên riêng. Điều này không hề hàm ngụ một thái độ kém tôn kính. Lối gọi tên như vừa kể là tập quán phổ biến của văn thức nghị luận. 

Theo lời giới thiệu của Nhà xuất bản Thành phố HCM: Trần Đức Thảo sanh năm 1917. Trước khi theo học "Trường Cao Đẳng Sư Phạm phố D'Ulm, Paris", Trần Đức Thảo là một sinh viên của trường luật Hà Nội. Năm 1943, Trần Đức Thảo đậu thạc sĩ triết học tại trường Đại Học Sorbonne với luận đề "Hiện tượng học của Husserl". Lúc bấy giờ ông 26 tuổi. Năm 1951, Trần Đức Thảo rời Paris về Việt Nam qua ngõ Luân Đôn - Praha - Mạc Tư Khoa - Bắc Kinh. Từ năm 1952 đến năm 1958, Trần Đức Thảo phục vụ cho Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh vực văn hóa giáo dục. Từ năm 1958 đến năm 1965, Trần Đức Thảo chuyên biên khảo các sách kinh điển của chủ nghĩa Marx Lenine.

Tác phẩm "Vấn Đề Con Người Và Chủ Nghĩa Lý Luận Không Có Con Người" được Trần Đức Thảo trình bày bằng chín chương. Để tránh tình trạng lập lại nội dung giữa phần lý luận của Trần Đức Thảo và phần đánh giá lý luận của người cầm bút, tôi xin đánh giá từng chương một ngay sau phần trần thuật chủ ý của mỗi chương. Tên gọi của các chương sách được ghi lại theo nguyên văn kiểu dùng chữ của Trần Đức Thảo. 

Chương một
Chủ Nghĩa Marx-Lenine Không Có Gì Chung
Với Chủ Nghĩa "Lý Luận Không Có Con Người"

A.- Phần Trần Thuật

Mở đầu chương này, Trần Đức Thảo đã tố cáo: Trong những năm 1960 tại Pháp, Louis Althusser đã hưởng ứng "cách mạng vô sản" của Mao Trạch Đông khi tuyên bố: "Chủ nghĩa Marx là một thứ chủ nghĩa lý luận không có con người" (Le Marxisme est un antihumanisme théorique). Althusser hết lời ca ngợi tư tưởng Mao Trạch Đông, ông này xem "lý luận không có con người" là một mẫu mực của cách mạng vô sản. Phải "lý luận không có con người" nói chung cho rằng chỉ có giai cấp và con người giai cấp chứ không có con người với tư cách con người theo nghĩa cơ bản chung của loài người, tức là ngoài tính chất sinh vật thì không thể xác định một tính chất xã hội cơ bản chung cho cả loài người (Althusser, Réponse à John Lewis Editions, page 33, Maspéro, 1973).

Trần Đức Thảo đã bác khước luận cứ nêu trên của Althusser và Mao Trạch Đông bằng cách viện dẫn một câu nói của Marx: "Bản chất của con người là toàn diện những quan hệ xã hội" (Luận cương VI về Feuerbach). Sau đó, ông Thảo đã minh chứng rằng toàn diện những quan hệ xã hội có một nền tảng chung. Nền tảng chung này là một hệ thống gồm ba cơ cấu:

1.- Sức lao động đơn giản có nền tảng là qui luật sinh vật học.

2.- Tiếng nói: Phản ánh biện chứng của lao động hợp tác và quan hệ xã hội Cộng sản nguyên thủy. Dĩ nhiên qui luật sinh vật vẫn là nền tảng.

3.- Ý thức hay tâm thần là sản phẩm sinh ra từ lao động hợp tác và quan hệ xã hội Cộng sản nguyên thủy thông qua ngôn ngữ xã hội (tiếng nói bên ngoài). 

Nói cách khác: "Cái tiếng nói kích thích hệ thần kinh, sinh ra cảm xúc, thúc giục năng lượng thần kinh trong mỗi cá nhân phải nhắc lại cho bản thân mình cái tiếng nói bên ngoài nói với người khác, tức là vận động cái tiếng nói bên trong và như thế là chuyển thành năng lượng tâm thần, tạo nên ý thức với trạng thái cảm quan" (Vấn Đề Con Người, trang 36).

Nền tảng chung của quan hệ xã hội gồm 3 cơ cấu như kể trên đã tạo ra cấu trúc tâm thần, nơi chất chứa tính người nói chung: từ người khéo (homo habilis) của giai đoạn khai sinh xã hội đến người khôn (homo sapiens) của giai đoạn xã hội Cộng sản nguyên thủy phát triển cao. Đặc biệt Trần Đức Thảo còn nhấn mạnh tính Cộng sản nguyên thủy đã tái xuất hiện trong đời sống của mỗi cá nhân thông qua sinh hoạt cộng đồng gia đình ở tuổi nhi đồng (5 hay 6 tuổi).

Trần Đức Thảo tiếp tục lý luận: bản chất con người nói chung được qui định bởi toàn diện quan hệ xã hội. Quan hệ này đã sản sinh ra cơ cấu tâm thần với hai ghi chú:

-Qui luật sinh vật học là nền tảng của quan hệ xã hội.

-Quan hệ xã hội của con người nói chung phải được hiểu là quan hệ xã hội Cộng sản nguyên thủy thời cổ đại. Quan hệ này đã được tái sinh thành quan hệ cộng đồng gia đình của trẻ em dưới 6 tuổi thời nay.

Đó là ý nghĩa cơ bản chung của con người. "Cái nghĩa cơ bản chung này là cái bản tính Cộng sản nguyên thủy, nó đứng ở chiều sâu dưới bản tính giai cấp, vì nó đã thành hình vào tuổi lên 5, 6. Rồi trong tuổi thiếu nhi, thiếu niên mới hình thành tính giai cấp gia đình. Đến tuổi thanh niên thì hình thành tính giai cấp bản thân. Có thể nói cái bản tính giai cấp là bản chất hàng một của con người, và cái bản tính Cộng sản nguyên thủy là bản chất hàng hai, nó là cái cơ bản chung của con người, làm nền tảng cho bản chất giai cấp" (Vấn Đề Con Người, trang 42).

Sau khi phân tích về vai trò của quan hệ xã hội, về cơ cấu của tâm thần, về tính người, về sự đồng dạng giữa xã hội Cộng sản nguyên thủy và cộng đồng gia đình của trẻ em dưới 6 tuổi, Trần Đức Thảo kết luận: Chủ nghĩa Marx Lenine là một chủ nghĩa có nhân bản, có con người. Vì vậy "chủ nghĩa Marx Lenine không có gì chung với chủ nghĩa lý luận không con người". 

B.- Phần Đánh Giá Lý Luận

Trước khi đi vào phần đánh giá lý luận, tôi xin minh định ý nghĩa của chữ "siêu hình" mà tôi dùng trong bài này: nói siêu hình là nói về những gì không có trong thực tại. Nói siêu hình cũng có nghĩa là nói về thực tại nhưng lại nói một cách lệch lạc, khô cứng, không phản ảnh được thực tại. Phản nghĩa của lý luận siêu hình là lý luận biện chứng. Lý luận biện chứng bao giờ cũng lấy thực tại làm điểm chuẩn duy nhất của chân lý. Chỉ với 7 trang sách của Chương I, nhà biện chứng Trần Đức Thảo, một người có non nửa thế kỷ theo đuổi ngành biện chứng, đã vấp phải những lỗi lầm siêu hình kể sau: 

1.- Các khẳng định kiểu:

Qui luật sinh vật học là nền tảng của cái bản chất xã hội của con người (trang 39).

Quan hệ xã hội qui định bản chất con người (trang 35).

Là lối khẳng định của những người suốt đời quyết tâm tin tưởng rằng: Cái trứng nở ra con gà chứ không phải con gà đẻ ra cái trứng. Thực tại không hề có vấn đề "duy gà" hay "duy trứng". Thực tại chính là vấn đề gà và trứng hiển nhiên có những tác động hai chiều trong dòng sống của loài gà. Thực tại không hề ghi nhận địa vị số một của qui luật sinh vật hay của quan hệ xã hội. Thực tại chính là hình ảnh sinh động và tròn đầy của dòng tâm sinh mệnh. Trong dòng tâm sinh mệnh này hiện thực tâm thần, qui luật sinh vật, quan hệ xã hội, bản chất con người đều đã đồng bộ vận động và phát triển trên nền tảng hỗ tương kết hợp. Dĩ nhiên chỉ những người cầm nắm biện chứng chuyển dịch về chân lý giữa ba phạm trù tự nhiên, tư tưởng và xã hội mới có thể thấy được tính thống nhất vi diệu của vô nguyên, đa nguyên và nhất nguyên trong đại vũ trụ. Rất tiếc, non nửa thế kỷ qua, Trần Đức Thảo đã không biết đến luật tắc chuyển dịch của chân lý.

2.- Bản chất của loài người phải là những tính chất biến đổi trong suốt thời gian loài người tồn tại. Trần Đức Thảo đã khôn khéo xác nhận quan hệ xã hội luôn luôn thay đổi, nhưng lại gắn thêm nhận định rằng nền tảng chung của quan hệ xã hội bao giờ cũng bất biến, và chính nền tảng bất biến này qui định bản chất con người nói chung. Tuy nhiên vấn đề đã trở nên tối nghĩa khi Trần Đức Thảo khẳng định nền tảng chung của quan hệ xã hội gồm ba cơ cấu: lao động đơn giản, tiếng nói, ý thức, tất cả đều đặt trên nền tảng sinh vật học, đều được nhìn dưới lăng kính Duy Vật. Khoa học ngày nay đã cung cấp cho những người có hiểu biết sơ đẳng về khoa học sự nhận thức rằng "cụ thể" (vật chất) cũng như "cái trừu tượng" đều không có khả năng đơn phương tồn tại trong thực tại. Người Cộng sản hơn một thế kỷ nay vẫn nhắm mắt trong sự tin tưởng cứng rắn rằng: thế giới chỉ là thế giới của vật chất và những thuộc tính của chúng. Một cách cụ thể hơn, người Cộng sản không ngần ngại khẳng định: bộ óc là chính, tư tưởng là thuộc tính của bộ óc là phụ. Tuy nhiên trong thực tại: nếu phá bỏ tư tưởng thì bộ óc chỉ là bộ óc chết, mặt khác không có tư tưởng nào không xuất phát từ bộ óc nào đó. Trong hoàn cảnh vừa kể, người ta không thể nào khẳng định một cách hữu lý: giữa bộ óc và tư tưởng, yếu tố nào là chính, yếu tố nào là phụ. Thế nên lý luận cho rằng duy cái vật chất đã tạo ra quan hệ xã hội lẫn cơ cấu tâm thần để từ đó sản sinh ra tính người chỉ là lối lý luận của thế giới thần thoại, thế giới của trẻ em. Sự thể này tố cáo Trần Đức Thảo đã hoàn toàn thất bại đối với nỗ lực chứng minh một cách vô vọng tính nhân bản trong chủ nghĩa Marx Lenine. 

3.- Theo Trần Đức Thảo, bản chất của con người nói chung chỉ xuất hiện vào thời Cộng sản nguyên thủy, và thời nay tái xuất hiện trong cộng đồng gia đình đối với trẻ em dưới 6 tuổi. Sau 6 tuổi, trẻ em bắt đầu bước vào xã hội giai cấp nên bản chất giai cấp là bản chất hàng một, còn bản chất người nói chung bị xuống hàng hai nhưng lại là nền tảng của bản chất giai cấp. Tại trang 134 và 143, Trần Đức Thảo còn chi tiết hóa rằng: "Những đòi hỏi công bằng, bình đẳng chính trực và chính nghĩa, tự do và chân lý làm cho mỗi cá nhân nhận thấy mình là mình và tôi, là con người chung của loài người, con người nói chung", hoặc "những đòi hỏi giá trị công bằng, bình đẳng, chính nghĩa sinh ra từ xã hội Cộng sản nguyên thủy".

Hẳn nhiên mọi người đều phải vô cùng kinh ngạc sau khi đọc đoạn lý luận kể trên của Trần Đức Thảo. Thời Cộng sản nguyên thủy là thời kỳ loài người chưa có ý niệm về giai cấp, tại sao lúc bấy giờ loài người lại có ý niệm về bình đẳng, công bằng, chính nghĩa?

a.- Dự thảo thư gửi Véra Zassoulitch ngày 8 tháng 3 năm 1881, Marx đã viết: "Cộng sản nguyên thủy sinh ra bước đầu quyền tư hữu dựa trên lao động bản thân" (Vấn Đề Con Người, trang 143). Trần Đức Thảo đồng hóa đứa trẻ dưới 6 tuổi của cộng đồng gia đình ngày nay với con người trong xã hội Cộng sản nguyên thủy ngày xưa, tức là nhà biện chứng họ Trần đã hiên ngang xác nhận đứa trẻ dưới 6 tuổi đã có khả năng lao động bản thân. Nhớ rằng đối tượng của lao động bao giờ cũng phải là sản xuất. Những ăn, những ngủ, những chạy nhảy, và nhất là những bài tiết của trẻ em dưới 6 tuổi là lao động bản thân, là sản xuất ư?

b.- Người Cộng sản nguyên thủy và trẻ em dưới 6 tuổi đều có "những đòi hỏi giá trị công bằng, bình đẳng, chính trực và chính nghĩa, tự do và chân lý". Đó là nhận định căn bản của Trần Đức Thảo về tính người nói chung. Nhận định này không cần phải đánh giá vì tự nó đã có tính ảo tưởng.

c.- Mặc dầu tính người được Trần Đức Thảo ghi nhận là đã có trước tính giai cấp, và tính người là nền tảng của tính giai cấp nhưng, vẫn theo ông Thảo, tính giai cấp là bản chất hàng một và tính người là bản chất hàng hai của con người. Lối phân loại hàng một, hàng hai chỉ là lối nói bóng bẩy của nhà tư tưởng một chiều. Cuối lối hàng hai cũng như hàng một, bạn chỉ có thể gặp ông tổ Duy Vật. Thực vậy tính giai cấp hiển nhiên là tính tranh giành quyền lợi vật chất, tính vật chất. Còn tính người thì sao? Thắc mắc này đã được Trần Đức Thảo trả lời rất gẫy gọn: "Vật chất là chủ thể của mọi sự biến chuyển, do đấy, chủ thể của những sự biến chuyển lịch sử hay chủ thể của lịch sử thì chính là cái vật chất nó tư duy, tức là con người có bộ óc tư duy" (Vấn Đề Con Người, trang 87). Như vậy, dưới mắt Trần Đức Thảo cũng như dưới mắt của bất kỳ người Cộng sản nào thì tính người và tính giai cấp là một, bởi vì cả hai đều là con đẻ của vật chất. Công việc chứng minh trong chủ nghĩa Marx vừa có tính giai cấp, vừa có tính người chỉ là công việc đánh bóng tư tưởng Marx do đòi hỏi của tuyên truyền chính trị, chứ không hề là một công tác biện chứng hiểu theo nghĩa nghiêm chỉnh. Tuyên truyền chính trị có chủ ý như sau: Căn bản tư tưởng Cộng sản hẳn nhiên nằm ở quan điểm: "hạ tầng cơ sở chi phối thượng tầng kiến trúc", nói rõ hơn: hình thái kinh tế qui định bản chất của chế độ chính trị. Vì vậy bao giờ người ta cũng phải quan sát sinh hoạt kinh tế của một xã hội để xác định xem chế độ chính trị của xã hội đó có phải là chế độ xã hội chủ nghĩa hay không.

Dựa vào quan điểm vừa trình bày, người ta không thể không nhìn nhận guồng máy kinh tế Việt Nam hiện nay là một guồng máy kinh tế đã có những bước rất nghiêm trọng chối bỏ chủ nghĩa Marx. Do đó, chế độ chính trị tại Việt Nam là một chế độ Cộng sản không tinh ròng. Trong hoàn cảnh chính trị và kinh tế nêu trên, nếu nhìn vấn đề bằng đôi mắt biện chứng, thì mọi người đều ghi nhận chủ nghĩa Marx đang đi vào con đường đào thải của lịch sử để chẳng bao lâu sau đó kéo theo quyết định giải tiêu Đảng Cộng sản. Sở dĩ sinh mệnh của chủ nghĩa Marx gắn liền với sinh mệnh của Đảng Cộng sản, là vì chính chủ nghĩa Marx đã cung cấp cho Đảng Cộng sản lý luận về nguồn gốc quyền lãnh đạo của Đảng: xóa bỏ Marx tức là xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng. Thế nên nỗ lực minh chứng tính nhân bản trong biện chứng Duy Vật đồng nghĩa với nỗ lực bảo tồn sinh mệnh của Đảng nằm đàng sau tư tưởng Marx. 

Chương hai
Cá Nhân - Xã Hội - và Con Người
Con Người và Lịch Sử

Trước khi đi vào phần trần thuật chương hai, người cầm bút xin trình với bạn đọc một vài phụ chú rằng: mặc dầu đã làm công tác văn hóa, tư tưởng dưới chế độ Cộng sản Việt Nam từ 37 năm qua, nhưng khả năng diễn đạt của ông Trần Đức Thảo rất đáng phàn nàn: câu văn rất dài, đôi khi có những câu què quặt (bất thành cú, thiếu hoặc chủ từ, hoặc động từ, hoặc túc từ). Ý kiến được Trần Đức Thảo viết ra không theo một trật tự hợp lý, có nhiều ý kiến bị nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong một chương, hoặc ý kiến ở chương này bị nhắc lại một cách tỉ mỉ không cần thiết ở chương khác. Vì vậy để khỏi phí phạm thì giờ của bạn đọc, kể từ sau chương một, tôi sẽ trần thuật ngắn gọn hơn và không đánh giá những ý kiến đã được đánh giá ở chương một. Dĩ nhiên trần thuật ngắn gọn không có nghĩa là xem thường nghĩa vụ trung thành với nội dung của nguyên tác. 

A.- Phần Trần Thuật

Trần Đức Thảo cho rằng phái Althusser đã "phân tích đời sống xã hội theo phương pháp cấu trúc chủ nghĩa: họ xác định mỗi xã hội là một hệ thống cấu trúc, tức là một hệ thống quan hệ xã hội tự túc riêng biệt, tách rời các xã hội khác. Do đấy thì mỗi hệ thống quan hệ xã hội tạo nên những con người đặc thù của nó, không có con người theo nghĩa chung của loài người" (Vấn Đề Con Người, trang 41).

Phương pháp phân tích vận động và phát triển của xã hội theo kiểu Althusser đã bị ông Trần Đức Thảo chỉ trích là sai lầm, là vi phạm "nguyên lý cơ bản của phép biện chứng về sự liên hệ toàn diện giữa các sự vật và hiện tượng, cũng như vi phạm khái niệm toàn diện lịch sử loài người" và "như thế là ngang nhiên xóa bỏ quan điểm Marx - Lenine về con người khác con vật ở chỗ con người làm ra lịch sử của mình".

Sở dĩ Althusser nhất quyết giữ quan niệm chủ nghĩa Marx là chủ nghĩa không có con người bởi vì ở cương vị một người Marxist, Althusser thấy rất rõ "những con người có thật là cái gì mà những điều kiện giai cấp tạo nên" (Les hommes réels sont ce qu'en font les conditions de classe). Tuy nhiên con người Marxist của Trần Đức Thảo lại nhất quyết không thấy như Althusser đã thấy. Ông Thảo nhắc lại câu nói của Marx: "Bản chất con người là toàn diện những quan hệ xã hội" và than phiền Althusser "coi cái toàn diện những quan hệ xã hội như chỉ là cái hệ thống quan hệ giai cấp đương thời, tựa hồ như không có xã hội Cộng sản nguyên thủy và cái di sản của nó tái tạo ở thời xã hội giai cấp. Do những quan hệ xã hội cộng đồng gia đình của tuổi nhi đồng, thiếu nhi, giáo dục mỗi thế hệ trẻ em" (Vấn Đề Con Người, trang 50).

Nội dung chủ yếu của chương 2 là thái độ lên án của Trần Đức Thảo đối với Althusser về việc ông này đã phủ nhận vai trò làm ra lịch sử của con người nói chung thông qua chủ trương lý luận không có con người.

B.- Phần Đánh Giá Lý Luận

Tại chương hai, tôi đồng ý với Trần Đức Thảo về các điểm kể sau:

1.- Có con người nói chung trong suốt dòng lịch sử của loài người.

2.- Con người nói chung là chủ thể đã làm ra lịch sử, và con người khác với con vật ở chỗ con người làm ra lịch sử của mình. 

Tuy nhiên, sau hai cái đồng ý nói trên, tôi khẳng định thêm rằng: bài viết này tôi hoàn toàn không đứng trên lập trường của Althusser hay của Mao Trạch Đông. Tôi đứng trên lập trường người, và chỉ trên lập trường người, tôi mới có tư cách để xác quyết với Trần Đức Thảo về các điểm sau đây:

- Con người nói chung, con người làm ra lịch sử không hề là con người có tính người theo kiểu Cộng sản nguyên thủy hay theo kiểu nhi đồng dưới 6 tuổi ngày nay. Và sau cùng con người nói chung không thể được nhận diện dưới một dạng kỳ quái: "Cái vật chất nó tư duy".

- Đối với người Cộng sản, "lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp" (Vấn Đề Con Người, trang 110). Như vậy con người nói chung hiểu theo nghĩa người Cộng sản nguyên thủy và trẻ em nhi đồng dưới 6 tuổi của Trần Đức Thảo làm thế nào có thể tạo ra lịch sử đấu tranh giai cấp, trong khi thời nguyên thủy chưa có giai cấp và em nhi đồng chưa đủ năng lực trí tuệ để có ý thức về giai cấp?

Chương ba
Quan Hệ Xã Hội và Quan Hệ Giai Cấp

A.- Phần Trần Thuật

Lấy đề tựa quan hệ xã hội và quan hệ giai cấp cho chương ba, Trần Đức Thảo có chủ ý luận về mối liên hệ giữa bản chất con người nói chung và quan hệ xã hội giai cấp. Tôi xin nhắc lại: Trần Đức Thảo bao giờ cũng trung thành với câu nói của Marx : "bản chất con người là toàn diện những quan hệ xã hội".

Để khai triển chủ đề của chương ba, Trần Đức Thảo không thể không nhắc lại điệp khúc của chương một: "Tính người Cộng sản nguyên thủy được tái xuất hiện trong thiếu nhi, nhi đồng dưới 6 tuổi, gọi là tình người nói chung. Thế rồi, với thời gian, nhi đồng trở thành thanh niên. Khi người thanh niên xây dựng tính giai cấp bản thân thì cái tính giai cấp như thế bao trùm cái nhân cách đầu tiên... Do đấy thì trong con người tham gia quan hệ giai cấp, cái tính giai cấp là biểu hiện trước mắt và đi sâu thấm nhuần toàn thể cá nhân. Nhưng ở dưới tính giai cấp vẫn có tính người theo nghĩa cơ bản chung với những đặc điểm cá nhân của quá trình giáo dục tuổi nhi đồng thiếu nhi" (Vấn Đề Con Người, trang 56-57). Viết như vậy, ông Thảo muốn nhấn mạnh xã hội giai cấp đã biến bản tính của người thành bản tính giai cấp, bản tính hàng một. Điều được gọi là tính người thuở nhi đồng nay bị đè bẹp bởi tính giai cấp nhưng vẫn tiếp tục sống thoi thóp dưới dạng bản tính hàng hai.

Nhằm củng cố cho quan điểm "xã hội giai cấp sản sinh ra bản tính giai cấp của người", Trần Đức Thảo đã chống đối luận cứ của Proudhon về sợi dây liên hệ giữa cá nhân và xã hội. Proudhon cho rằng "tình trạng bóc lột chỉ là sự liên hệ chủ quan của các cá nhân. Về phương diện xã hội, mọi người đều bình đẳng" (Proudhon chống lại Bastiat, XVI, 29). Lý luận của Proudhon là lý luận phi giai cấp.

Trần Đức Thảo tiếp tục đả kích tư tưởng Proudhon bằng cách minh chứng: "Cái thực tế là trái lại: thời cổ đại, xã hội đã phân chia thành giai cấp. Do đấy mà trong cái xã hội giai cấp, tức là "về phương diện xã hội" thì có "nô lệ và công dân"" (Vấn Đề Con Người, trang 57-58). Ý Trần Đức Thảo muốn nói: về phương diện xã hội thì có giai cấp chứ không có sự thể "mọi người đều bình đẳng" như Proudhon tin tưởng. Tuy nhiên xã hội nô lệ đã bị quần chúng nô lệ, kể cả những người sinh ra và lớn lên trong nhà chủ nô, nổi lên đánh đổ. Tư tưởng của những nhà cách mạng thời nô lệ vẫn là tính người hiểu theo nghĩa chung.

B.- Phần Đánh Giá Lý Luận

Đối với chương ba, tôi chỉ đánh giá lý luận của Trần Đức Thảo về hai vấn đề: 

1.- Vấn đề tranh cãi giữa Proudhon và Trần Đức Thảo:

Cả hai người này đều nhìn ngắm sinh hoạt xã hội, nhưng lại đưa ra hai quan điểm đối nghịch lẫn nhau: bên này là xã hội bình đẳng, bên kia là xã hội giai cấp. Thực tiễn xã hội minh chứng xã hội là một thực thể thường xuyên biến ảo giữa công bằng và bất công, giữa thương yêu và thù hận, giữa đấu tranh và hòa bình. Khẳng định mạnh mẽ rằng xã hội vĩnh viễn bình đẳng hay xã hội vĩnh viễn có giai cấp tính đều là khẳng định khô cứng và xa rời thực tại. Sở dĩ cả Proudhon lẫn Trần Đức Thảo đã rơi vào tình trạng khô cứng vừa kể chỉ vì hai nhà tư tưởng này chưa thấy được người là điểm hội tụ của ba phạm trù tự nhiên, tư tưởng và xã hội. Trong tự thân mỗi người hiển nhiên có xã hội tính, vì vậy xã hội không thể không biến ảo theo cuộc biến ảo của đời người. Làm thế nào người ta có thể tìm thấy cái vĩnh viễn bình đẳng hay vĩnh viễn giai cấp trong xã hội đã được xác định là biến ảo? 

2.-Vấn đề xã hội giai cấp qui định bản chất giai cấp của con người:

Giả sử chúng ta chấp nhận xã hội là xã hội của giai cấp thì ý kiến xã hội giai cấp qui định bản chất giai cấp của người vẫn không thể chấp nhận được. Ý kiến này xuất phát từ quan điểm tách biệt phạm trù người và phạm trù xã hội. Như trên đã nói, người và xã hội là hai mặt không tách rời của phạm trù đời sống. Xã hội tác động vào tư tưởng của người, và tư tưởng của người điều hợp xã hội theo hướng làm cho xã hội ngày một người hơn. Đó là nội dung nhân chủ trong xã hội tính của người. Chính tính nhân chủ đã đẩy tới sự thể: "Trong những sử liệu về chế độ nô lệ, không có chỗ nào nói rằng người nô lệ đã sinh ra và lớn lên trong nhà chủ tỏ ra dễ bảo hơn là những người bị bắt làm nô lệ trong chiến tranh hoặc sau khi bị xử án. Trên thực tế, nếu có thể giáo dục con người làm nô lệ ngay từ tuổi nhi đồng, thì bọn chủ nô lại kéo dài vô thời hạn cái quyền thống trị của họ" (Vấn Đề Con Người, trang 61).

Thế nhưng "trên thực tế", Trần Đức Thảo lại cho rằng "giai cấp vô sản tiến lên địa vị thống trị" (Vấn Đề Con Người, trang 103) sẽ là một cuộc thống trị "vô thời hạn". Muốn đánh giá ý nghĩ kỳ lạ vừa kể của Trần Đức Thảo, trước hết chúng ta cần hiểu biết vững vàng về các nhịp vận hành của qui luật "phủ định sự phủ định". Qui luật này gồm ba hình thái, tôi xin trình bày ba hình thái này bằng tỷ dụ luận: Dưới ách Tàu thuộc 1000 năm, người Việt yêu nước đã rất nhiều lần nổi dậy đánh đuổi giặc Tàu. Mỗi lần nổi dậy như vậy, người Việt đã tạo một phủ định thứ nhất. Nếu nổi dậy thành công, người Việt lập tức áp dụng sách lược chính trị thông thường của dân tộc nhược tiểu: một mặt sai sứ giả triều cống cho nhà cầm quyền Trung Hoa, mặt khác nỗ lực kiện toàn sinh hoạt tự trị của quốc gia. Triều cống cho Trung Hoa tức là người Việt yêu nước thời bấy giờ đã tự phủ định bản thân họ: đó là hình thái phủ định thứ nhì. Phủ định thứ nhì làm cho sự phủ định thứ nhất không còn giữ nguyên phẩm chất của nó nữa. Nói cách khác: phủ định thứ nhì có ý nghĩa tự phủ định, nhưng đồng thời cũng có ý nghĩa phủ định sự phủ định thứ nhất. "Ý nghĩa đồng thời" này gọi là sự phủ định thứ ba, và phủ định thứ ba đã chấm dứt một chu kỳ phủ định. Sau đó phủ định ba lại trở thành đối tượng của phủ định nhất trong chu kỳ phủ định kế đó, cứ như thế mà lịch sử vận hành. Qui luật "phủ định sự phủ định" là một trong những qui luật căn bản của lịch sử loài người. Nhớ rằng phủ định nhì và phủ định ba bao giờ cũng mang ý nghĩa đãi lọc đến cho phủ định. Tuy nhiên trong thực tiễn xã hội, do quyền lợi riêng tư, nhiều người đã đồng hóa phủ định với tiêu diệt toàn diện, nhiều người khác lại áp dụng luật phủ định để phục vụ tư bản nhà nước hoặc tư bản tư nhân, thay vì phục vụ loài người. Luật phủ định tự nó chẳng bao giờ lệch lạc. Những bộ óc lệch lạc đã làm cho luật phủ định trở nên lệch lạc. Bộ óc lệch lạc quan trọng nhất nằm đằng sau luật phủ định chính là bộ óc lệch lạc của người Cộng sản. Hình ảnh lệch lạc đến độ tệ hại này đã khiến cho một số người chống cộng hùng dũng nhưng nhẹ dạ đã cuống quít kết luận rằng chữ phủ định là chữ của Cộng sản, người nào nói đến chữ phủ định, người đó nếu không là cán bộ Cộng sản thì cũng là tay sai của đế quốc đỏ! Có lẽ chẳng còn ý nghĩ chính trị nào non nớt hơn ý nghĩ "nhẹ dạ" vừa trình bày. Ngôn ngữ là ngôn ngữ chung của toàn bộ xã hội. Ngôn ngữ không thể là vật sở hữu của bất kỳ cá nhân hay đoàn thể nào. Nếu chẳng may có một tập đoàn nào đó do những mưu tính riêng tư đã bóp méo ý nghĩa của ngôn ngữ, chúng ta phải lập tức tố cáo âm mưu bóp méo đó và đồng thời quyết tâm tái xử dụng ngôn ngữ bị bóp méo theo ý nghĩa nghiêm chỉnh của nó. Đó là mối dây liên hệ thân mến giữa người và ngôn ngữ của người. 

Bây giờ chúng ta hãy trở lại vấn đề bóp méo ý nghĩa của phủ định bằng cách theo dõi những lời lẽ sau đây của Trần Đức Thảo: "Trong sự chuyển biến từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội xã hội chủ nghĩa, thì trước hết có đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân chống giai cấp tư sản cầm quyền: phủ định xã hội tư sản. Đấy là sự phủ định thứ nhất... Đến khi cách mạng thành công... Bây giờ đã có nhà nước cách mạng thì đấu tranh tiến hành hợp pháp bằng quyền lực nhà nước, không có nổi dậy như trước. Và đi đôi với đấu tranh thì có vấn đề tranh thủ xử dụng, cải tạo. Tức là về mặt nào đấy, một phần nào đấy sự phủ định thứ nhất lại bị phủ định. Đấy là sự phủ định thứ nhì, nó phủ định sự phủ định thứ nhất.

Nhưng phái lý luận không có con người (theo nghĩa loài người) đứng trong hàng ngũ Maoist ở Pháp, ủng hộ cuộc cách mạng văn hóa vô sản của Mao Trạch Đông kêu gọi "tiếp tục cách mạng vô sản trong điều kiện chuyên chính vô sản" kêu gọi giai cấp vô sản nổi dậy chống nhà nước vô sản. Như thế là tiếp tục sự phủ định thứ nhất trong điều kiện mà đúng ra thì phải phủ định sự phủ định ấy. "Bọn tạo phản Mao Trạch Đông không kể gì đến qui luật biện chứng về sự phủ định sự phủ định" (Vấn Đề Con Người, trang 103-104). 

Đọc đoạn văn kể trên, hẳn nhiên người đọc đã phải vô cùng kinh ngạc trong sự nhận biết: Đối với Trần Đức Thảo, phủ định thứ nhất chỉ có thể là vô sản phủ định tư sản. Sau khi vô sản ngồi vào ghế thống trị, "sự ngồi" này trở nên vô hạn: mọi chu kỳ phủ định khác đều bị đình chỉ, bánh xe lịch sử kể như hết nhiên liệu để vận hành. Vẫn theo Trần Đức Thảo: chỉ có "bọn tạo phản của Mao Trạch Đông" mới "kêu gọi giai cấp vô sản nổi dậy chống nhà nước vô sản". Căn cứ theo "lời chỉ dạy" của Trần Đức Thảo, những người làm chính trị theo nghĩa vinh thân, nếu may mắn chiếm được chính quyền, và nếu muốn nắm giữ chính quyền vĩnh viễn, họ chỉ cần tự nhận: chính quyền do họ thành lập là chính quyền dân tộc. Bởi vì dân tộc sẽ chẳng bao giờ lật đổ chính quyền dân tộc. Và nhất là bởi vì sau khi một chính quyền tự nhận là chính quyền dân tộc lên ngôi, luật phủ định bị triệt tiêu, bánh xe lịch sử bị phá vỡ!

Do hiểu biết luật phủ định một cách què quặt và không ngay thẳng như đã dẫn chứng, Trần Đức Thảo không ngần ngại cho rằng quyền thống trị xã hội của giai cấp vô sản là quyền vô thời hạn. Chính vì tính vô thời hạn này, xã hội giai cấp mới có khả năng qui định bản chất giai cấp của người.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét