Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2018

Bài Nói Chuyện Của Gs Đàm Trung Pháp Trong Đại Hội Quốc Tế Kỳ XI Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại Ngày 15-9-2018 Tại Dallas, Texas

Giáo sư Đàm Trung Pháp. Hình https://damtrungphap.wordpress.com
Trong sách Luận Ngữ có câu “hữu bằng tự viễn phương lai / bất diệc lạc hồ?” (“có bạn từ phương xa đến / chẳng đáng vui hay sao?”) để diễn tả nỗi vui mừng khi ta có bạn từ phương xa đến thăm. Và hôm nay, chúng ta đều có rất nhiều bạn văn chương từ bốn phương trời đến đây để tham dự Đại hội Quốc tế 2018 của Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại.*

Cũng như người xưa tụ họp để nói chuyện văn thơ nho nhã, hôm nay chúng ta tao phùng trong một cảnh quan đẫm tình bằng hữu và văn học như thế này, thì hỏi ai là người chẳng vui? Tôi thực may vì tuy không có tài làm thơ và cũng không là hội viên, mà hôm nay lại được Hội nhã ý cho đóng góp đôi chút vào chương trình đại hội.

Thi nhân niên trưởng Lê Quang Sinh của chúng ta –vừa tròn cửu tuần – là người có công lao lớn trong nỗ lực tổ chức kỳ họp mặt hôm nay. Quả thực ngợi khen tài tổ chức và sức làm việc phi thường của Lê quân thì chẳng khác gì chúng ta “khen phò mã tốt áo”!

Mỗi lần Lê quân mời tôi tham dự sinh hoạt của Hội và ký tặng cho tôi một thi tập Cụm Hoa Tình Yêu đồ sộ, trình bầy in ấn trang nhã với một nội dung sung mãn, tôi đều nghĩ đến câu nói để đời của vị Thống tướng năm sao Douglas McArthur của Lục Quân Hoa Kỳ khi giã từ vũ khí: “Old soldiers never die. They just fade away.” (“Những chiến sĩ già không bao giờ chết cả. Họ chỉ bạc mầu đi thôi”).

Vâng, mọi chiến sĩ về già thường chịu phận “bạc mầu,” nhưng chiến sĩ Lê Quang Sinh không chấp nhận điều đó sau những năm cầm súng bảo vệ đất nước rồi bị quân thù cho đi cải tạo mút mùa chỉ vì đồng minh tháo chạy. Được thả sang tỵ nạn tại Mỹ, chiến sĩ già họ Lê không theo gương người hùng McArthur – ông đã không chịu an phận “bạc mầu” mà trái lại, ông đã quyết chí sống “đậm mầu” với đời, với thi ca, để bảo tồn văn hóa và làm đẹp ngôn ngữ nước nhà tại đất khách.

Trong 24 năm qua, người chiến sĩ lớn tuổi Lê Quang Sinh đã là nguyên súycủa Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại, đã chủ trì11 đại hội thi ca Việt quốc tế, và đã chủ biên18 thi tập Cụm Hoa Tình Yêu đồ sộ của Hội.

Thi tập Cụm Hoa Tình Yêu XVIII ra mắt nhân dịp đại hội này dầy hơn 400 trang, in ấn trang nhã, sung mãn về nội dung, mà phần lớn là thơ và phần nhỏ là truyện ngắn bằng văn xuôi do 64 hội viên từ mọi nơi đóng góp. Có nhiều bài thơ rất hay viết về nhiều chủ đề hấp dẫn tôi không thể nói hết ra đây. Tôi chỉ xin giới thiệu với quý văn thi hữu vài bài tiêu biểu trong các chủ đề khác nhau.

Đó là những chủ đề tuy đa dạng nhưng cũng giản dị, trong sáng, nhân bản, thấm nhuần tình tự quê hương, và liên hệ đến cuộc đời đại đa số chúng ta. Nào là tự vẽ chân dung đích thực của chính mình, nào là định nghĩa thế nào là “mẹ” qua các ẩn dụ hay biểu tượng đầy ý thơ và xúc cảm, nào là một “thiên đường nhỏ” có thể đạt được chẳng mấy khó trong cuộc đời thường nhật, nào là thử tiếp cận một thể thơ như ngôn ngữ nói, với các câu ngắn chẳng cần vần điệu, vậy mà kết cục là một điều làm người đọc ngạc nhiên vì lối viết và thú vị về một hàm ý độc đáo trong thơ.

Bài “Chân Dung”của Thanh Lan, một nghệ sĩ đa tài, sử dụng một thi ngữ thực thà, chân chất, khiêm tốn, và dễ được thiện cảm của người đọc, để tự vẽ chân dung. Theo tự thuật thì tác giả “không có giáng vóc như mơ, không có một làn môi gây vương vấn, khi tan trường về chẳng ai theo.” Thử hỏi mấy ai có thể “dị ứng” với đoạn thơ tự bạch này của Thanh Lan:

“Không đẹp không giàu chính là em / Nhưng em chẳng lấy thế làm phiền / Cái đẹp cái giàu đâu bền mãi / Một tâm hồn đẹp mới là tiên / Em muốn sẽ là một bà tiên / Nhân ái, bao dung và dịu hiền / Từ trại mồ côi đến bệnh viện / Ánh mắt reo vui đón bước em.”

Bài thơ “Mẹ Là”của Lê Trọng Nguyễn sử dụng nhiều ẩn dụ đắc địa (một biện pháp tu từ quan trọng) để cố định nghĩa mẹ mình với lòng yêu thương rạt rào qua các câu lục-bát mượt mà:

“Mẹ là tất cả ý thơ / Mẹ là muôn triệu giấc mơ êm đềm / Mẹ là liều thuốc thần tiên / Mẹ là giọng nói dịu hiền thiết tha . . . Mẹ là bóng mát trưa hè / Mẹ là mái ấm chở che con hoài / Mẹ là nhẫn nại miệt mài / Mẹ là thần tượng đền đài của con.”

“Thiên Đường Nhỏ”của Lê Hữu Liệu khiến tôi liên tưởng đến một tuyệt tác của thi hào Victor Hugo mang tên “Lorsque l’enfant paraît” (“Khi trẻ thơ xuất hiện”) trong đó câu mở đầu tạm dịch là “Khi trẻ thơ xuất hiện / Cả gia đình tay vỗ thật to.” Trong thi tập Cụm Hoa Tình Yêu số XVIII, nhà thơ Lê Hữu Liệu cũng tìm thấy niềm vui lớn mỗi khi nắm tay cháu ngoại đi dung dăng: “Buổi chiều cháu ngoại đến thăm / Dang tay đón cháu lòng hăm hở mừng / Cháu rao “ngại ngại” không ngừng / Thoăn thoắt chạy đến như rừng đầy chim / Niềm vui òa vỡ con tim / Ôm hôn cháu ngoại như chìm trong mơ / Hai tay bé nhỏ cố ôm / Quên cha quên mẹ chỉ còn ông thôi / Lòng già xúc động bồi hồi / Nhớ thương lai láng nhìn trời đổ mưa / Cháu hôn, hôn cháu đã chưa Thiên đường bé nhỏ cháu vừa cho ông.”

Lấy lời nguyện cầu “Thương mà biết nói sao cho hết / Lạy chúa cho con giữ được lòng”làm tựa đề, Trần Vấn Lệ đã giãi bầy một nỗi sầu muộn của mình qua một bài thơ độc đáo và thu hút. Bài thơ này nhắc nhở tôi đến thi pháp của nhà thơ lẫy lừng Jacques Prévert nước Pháp. Đó là lối viết các câu thơ ngắn chỉ một mệnh đề độc lập, nối tiếp nhau như thân tình kể chuyện. Điển hình là bài “Déjeuner du matin” (“Bữa ăn sáng”) mà đoạn đầu gồm đại khái những câu sau đây (chuyển từ Pháp ngữ): “Chàng bỏ chút đường / vào ly cà phê sữa / lấy chiếc thìa nhỏ / khuấy khuấy trong ly / chàng uống xong ly cà phê / chẳng nói gì với tôi / Chàng hút điếu thuốc lá / thổi khói ra những vòng tròn / tắt điếu thuốc lá / bỏ nó vào cái gạt tàn / không một lời cho tôi / Chàng mặc vào chiếc áo mưa / vì ngoài kia mưa đổ / chẳng lời nào cho tôi cả / Tôi hai tay ôm đầu / ngồi yên để lệ rơi.” Và đây là bài thơ rất “tới” của Trần Vấn Lệ viết theo kiểu ấy với một kết luận đầy tiếc nuối: “Xe tôi sắp hết xăng / Tôi quẹt vào cây xăng / Thấy một người đứng đó / Giơ tấm bảng van lơn / Gia đình tôi nghèo quá / Mẹ tôi mới qua đời / Tôi van xin mọi người / Giúp tôi lo cho mẹ / Tôi dừng xe bước xuống / Đến đưa tờ mười đô / Người đó chắc không ngờ / Đời có người biết chữ / Tôi không chờ chi nữa / Tôi ra đứng bơm xăng / Và tôi rời cây xăng / Má tôi mất quê nhà / Tôi không được đưa tiễn / Một nấm đất không liệng / Hai dòng lệ đã khô / Chuyện của tôi chuyện xưa / Chuyện bây giờ tôi thấy / Một người con có hiếu / Một con người hơn tôi.”

Thi tập Cụm Hoa Tình Yêu XVIII*được trân trọng phổ biến hôm nay còn thiếu gì hoa thơm cỏ lạ khác nữa. Chúng đang chờ đợi chúng ta thăm viếng. Chúng ta có thể ôm ấp đón nhận thi tập quý giá này như một “của tin gọi một chút này làm ghi” như lời thi hào Nguyễn Du. Vì, vẫn theo lời cụ Nguyễn, biết đâu đấy – “mai sau dù có bao giờ / đốt lò hương cũ …”

= = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = = 

*Vietnamese International Poetry Society

1117 Lesa Lane, Garland, Texas 75042 

469.366.6667 • sinhle1929@yahoo.com

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét