Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2018

Ý Nhi: PHÒNG CHỜ

(Hình: Getty Images)
Chiều nay anh lại ghé qua phòng chờ. Hình như không có chuyến bay nào sắp hạ cánh. Phòng chỉ có vài ba người. Mấy cô bán hàng mặc áo dài xanh đang trò chuyện với anh nhân viên bảo vệ nhỏ thó. Những người nhỏ thó thường có thói quen ghếch mặt lên, tay chân khuyềnh khoàng, trông rất khó chịu. Nhưng có vẻ anh ta là một gã hiền lành. Đôi lần anh đã châm lửa nhờ, trò chuyện dăm ba câu. Anh ta có giọng nói ấm áp. Vậy cũng đủ tính điểm rồi. Ông bà ta chẳng nói “nhất thanh nhì sắc” đó sao. Anh vốn dị ứng với những tay đàn ông có giọng nói the thé.

Các nhân viên ở đây đã quen biết anh, cái anh chàng lâu lâu lại ghé phòng chờ, gọi một ly nước, ngồi hàng tiếng đồng hồ nơi chiếc bàn vuông, ở góc xa nhất. Có lần đi xem kịch, anh gặp hai cô trong số họ. Rời bỏ bộ áo đồng phục, mỗi cô diện một chiếc váy hoa, trông họ khác đi, xinh đẹp hơn, sinh động hơn, tươi tắn hơn. Họ reo lên khi trông thấy anh rồi dụi mặt vào nhau, cười rúc rích trước vẻ ngượng nghịu của anh. Có lẽ họ nghĩ anh đang đi cùng một người bạn gái. Khi chào anh để vào bên trong, một cô vẫn ngoái lại như để tìm xem bạn gái của anh là người như thế nào. Anh mỉm cười chào họ, lòng không khỏi băn khoăn. Người đời là vậy. Họ thích đoán định mọi sự mà không biết rằng phần lớn những đoán định đó đều sai lạc.

Thực ra thì anh cũng có những người bạn gái. Thỉnh thoảng anh mời họ đi ăn quà. Món quà mà họ thích nhất là các món bún. Hình như các món bún được chế ra để dành riêng cho phái đẹp. Bún bò, bún chả, bún nem, bún ốc, bún riêu, bún thang, bún mọc, bún mắm…Có vẻ như tri thức của anh về các hàng quà ngày một thêm phong phú. Trong mắt các bà các cô, anh là người lịch thiệp, dễ chịu. Thế nhưng, anh không bao giờ mời phụ nữ đi xem kịch, kể từ hai lần đó.

Mùa đông ấy thật kỳ lạ. Trời nắng như vãi lửa vào giữa tháng chạp. Một người bạn cũ đem cho anh hai chiếc vé xem vở “Âm mưu và ái tình”. Anh mời Hải, cô nhân viên đánh máy xinh đẹp của phòng kỹ thuật cùng đi. Hải nhận lời ngay. Với bộ váy trắng và chiếc áo khoác nhẹ màu xanh nhạt, trông cô thật duyên dáng, lịch lãm. Có vài người ngoảnh lại nhìn cô khi họ hoà trong dòng người vào nhà hát. Anh thấy vui khi có Hải bên cạnh. Anh vẫn thường nghĩ, một người phụ nữ thông minh là một phụ nữ biết ăn mặc đẹp và ngược lại, dĩ nhiên.

Vở diễn lớn, nhà hát lớn và các diễn viên tên tuổi khiến anh như được bứt khỏi nhịp sống tẻ nhạt hàng ngày để tận hưởng niềm vui với một nỗi háo hức khác lạ. Đúng lúc anh chăm chú lắng nghe lời thoại của hai nhân vật chính, Hải huých nhẹ vào người anh rồi thì thầm, trông vòng nhẫn lấp lánh thế kia chứ giá chỉ vài ngàn đồng. Toàn đồ giả. Anh chết điếng như vừa bị tát thẳng vào mặt vậy. Không còn tâm trạng để theo dõi vở diễn, anh chỉ mong sao mọi việc sớm kết thúc. Anh chia tay Hải ngay ở cửa nhà hát. Mấy ngày sau gặp lại Hải, anh thấy ngượng ngùng như chính mình đã làm điều gì không phải. Hải vẫn ăn mặc rất đẹp, rất có gout. Anh nghĩ, cần phải xem lại cái công thức do mình thiết lập về mối liên hệ giữa cách ăn mặc và trí thông minh của phụ nữ. Từ đó, anh không mời phụ nữ đi xem kịch, cho đến ngày gặp Phương. Anh mời Phương như làm một phép thử cho quyết định cuối cùng. Phương im lặng suốt hai tiếng đồng hồ trong rạp hát. Trên đường về cô cũng trầm ngâm như thế. Khi dừng lại ở một quán nhỏ bên đường uống nước, anh hỏi cô có thích vở kịch không, cô ngước nhìn anh, khẽ gật đầu. Tuyệt, anh nghe mình thầm kêu lên. Một năm sau anh cưới Phương. Cô vẫn lặng lẽ thế. Những việc vui việc buồn anh muốn chia sẻ với cô chỉ được đáp lại với hai từ thế à hoặc thế á. Ngữ điệu mỗi lần tuy có chút thay đổi nhưng cô quyết không lãng phí thì giờ và từ ngữ với anh. Rồi anh cũng lặng lẽ như cô khi họ ở bên nhau. Bé Huyền ra đời cũng không khiến cô linh hoạt hơn, vui vẻ hơn. Cô chăm sóc con chu đáo, cẩn thận nhưng không vồ vập, không âu yếm. Đôi khi anh nhìn cô mặc những chiếc váy, những bộ quần áo được cắt may khéo léo, xinh xắn mà tự hỏi thực ra cô là người thông minh hay u mê. Xem ra công thức về mối liên hệ giữa cách ăn mặc và trí thông minh của phụ nữ đã đến hồi phá sản. Bé Huyền quấn bố, sáng nào đi học cũng kỳ kèo đòi bố đón vào buổi chiều. Các buổi tối nhạt nhẽo đến độ ngạt thở. Anh ngồi lỳ trước TV, xem hết kênh này đến kênh khác hoặc ôm một đống báo vào phòng, đọc từ bài xã luận đến mục rao vặt, đến từng mẩu chuyện cười nhạt nhẽo. Đôi khi anh bật cười một mình trước mẩu chuyện nào đó. Phương nghe thấy, gắt lên, anh điên hả. Có những tối anh tìm cớ để ra khỏi nhà và trở về khi vợ con đã đi ngủ. Anh tắt máy xe từ xa, khe khẽ mở cửa, không bật đèn, rón rén vào phòng như một tên trộm. Có vẻ như ông trời đã chơi anh một vố đau lặng người.

Anh lại ngồi ở chiếc bàn quen thuộc. Từ đó, anh có thể nhìn thấy toàn cảnh sân bay, ngắm nhìn những chiếc máy bay sắp hạ cánh, những chiếc máy bay chạy trên đường băng lấy đà rồi từ từ nhấc mình khỏi mặt đất. Ở một góc nào đó trông chúng rất đẹp. Ở góc khác, trông chúng giống như những con quái vật. Anh nhớ, có ai đó đã nói rất hay về những ngọn núi, đại khái: núi non, tuỳ theo góc nhìn, mùa, thời gian trong ngày, tâm trí người ngắm nhìn, có thể khiến chúng thực sự thay đổi hình dạng. Có thể dùng câu này cho cách anh nhìn những chiếc máy bay ngoài kia chăng.

Anh phát hiện ra căn phòng này nhờ một lần đi đón phái đoàn nước ngoài. Vì lý do thời tiết, máy bay của họ phải đáp xuống một sân bay phụ nên muộn hơn một giờ đồng hồ. Người ta chỉ cho anh phòng chờ trên lầu một. Đó là một căn phòng khá rộng, trình bày trang nhã, ,khá mát mẻ và có nhiều thức uống. Tất nhiên, ly nước rau má một ngàn đồng ngoài phố được đóng hộp và bán ở đây với giá tám ngàn. Đó là cái giá của sự yên tĩnh. Mọi sự ồn ào, náo loạn đều ở sau bức vách kia, một bức vách sơn màu vàng nhạt nhẹ nhõm.

Cô nhân viên mang đến cho anh hộp nước xoài, nhận tiền rồi trở về quầy. Hộp nước ướp lạnh còn đọng lớp đá mỏng bên ngoài, hơi nước bay nhẹ như khói. Anh nhớ hồi nhỏ, lần đầu ra thành phố, mẹ mua cho anh một chiếc kem màu hồng. Anh thổi phù phù vào chiếc kem khi nhìn thấy làn hơi nước bốc lên, tưởng đó là khói. Thế đấy, người ta cứ nhầm lẫn mãi từ việc nhỏ tới việc lớn rồi lại từ việc lớn đến việc nhỏ. Hồi đó, Hải có vẻ bất bình vì sự xa lánh của anh sau đêm cùng đi xem kịch. Cô không hiểu và anh không thể giải thích. Cô bắt chuyện với anh vài lần rồi cũng tránh anh. Ngày cưới của cô anh gửi tặng một chiếc vòng rất đẹp, hàng đắt tiền. Anh nghĩ món quà sẽ khiến cô vui. Anh ghi vào tấm thiệp mấy dòng: ”hàng thật mà lóng lánh, lóng lánh mà thật” nhưng rồi sợ chồng cô hiểu lầm, anh xé bỏ tấm thiệp, chọn một tấm thiệp có hai trái tim lồng vào nhau, ghi dòng chữ chúc mừng hạnh phúc theo thông lệ. Hình như Hải đã cùng chồng chuyển về một thành phố nhỏ ven biển.

Có lúc anh cũng đã thử xin về một tỉnh nhỏ. Anh muốn có một nơi chốn người ta cần anh ngó ngàng đến công việc, cần nghe anh trò chuyện, người ta không nhìn lướt qua anh như nhìn một cây cột điện bên đường. Thị trấn X là nơi đó. Cả phòng kỹ thuật chỉ có ba người. Chốc chốc lại nghe cô Bê gọi, anh xem này hoặc bác Tụ vừa hắt hơi vừa réo, chú đến đây, rối tinh rối mù hết cả. Bê gọi bác Tụ là ông “rối tinh rối mù”, bác Tụ lại gọi Bê là “cô sóc”bởi đôi mắt mở to sinh động và sự nhanh nhẹn kỳ lạ của Bê. Anh gầy rộc, mắt sáng rực. Chiều chiều, sau giờ làm việc, anh nhào ra biển. Anh ở ngoài biển, tối mịt mới về nhà bác Tụ ăn cơm. Vợ bác Tụ là người khéo thu vén. Bữa cơm đơn giản mà bao giờ cũng ngon miệng. Anh thường uống một chén rượu nhỏ cùng bác Tụ. Bác bảo, con bé Bê ngoan lắm mà nó quý chú nhất đời đấy nhé. Anh cũng biết vậy. Mỗi khi đến trạm, bắt gặp ánh nhìn của Bê, anh vừa sung sướng vừa ngượng ngùng. Có lúc anh trò chuyện dịu dàng với cô, có lúc anh lại gắt gỏng vì những việc không đâu. Rồi ngày nọ anh đem bức ảnh bé Huyền ra khoe với cô. Cô lặng đi một chút rồi cười, ôi con bé xinh quá. Từ đó, cô không còn trò chuyện ríu ran nữa. Cô gầy đi và thầm lặng hẳn. Sự thầm lặng của Phương như muốn loại bỏ anh. Sự thầm lặng của Bê lại như một tiếng gọi. Anh không gia hạn chuyến công tác như dự tính. Anh biết mình không có quyền làm cho Bê đau khổ. Anh nhờ vợ bác Tụ làm bữa cơm chia tay. Anh mời Bê nhưng cô cáo ốm. Bác Tụ trầm ngâm, tội nghiệp con bé. Anh nghe mối thương cảm tràn qua lòng như một đợt sóng lớn. Buổi sáng hôm sau anh xách ba lô nhào lên chiếc xe khách chật chội, cũ kỹ để trở về.

Phương đem hết quần áo, mùng mền của anh cho vào máy giặt, đổ vào máy nửa gói Ô mô. Tiếng máy ù ù, dai dẳng như có thể xé nát mọi thứ. Không chịu nổi tiếng máy và sự im lặng của vợ, anh tìm cách ra khỏi nhà. Anh hỏi, mấy giờ đón bé Huyền. Như mọi ngày, Phương đáp, không nhìn anh. Anh xách xe chạy ù đến phòng chờ ở sân bay. Mấy cô nhân viên kêu lên, anh đi trại nào về mà nhìn ghê quá vậy. Anh cười trừ, kêu một hộp nước xoài. Ở góc đối diện có một anh chàng cũng ngồi một mình. Hắn bật hộp quẹt châm thuốc. Thuốc đã cháy mà hắn cứ nhìn chăm chăm vào ngọn lửa, không chịu tắt, rồi hắn quăng bật lửa xuống sàn, thổi phù phù vào mấy ngón tay .Có lẽ hắn bị bỏng. Không hiểu sao anh lại luẩn quẩn với những đoán định về người đàn ông nọ. Có lẽ hắn có một cô vợ nói quá nhiều, một cô vợ không để cho hắn yên. Cũng có thể hắn vừa đi đâu đó xa thành phố, rồi hắn bị vợ lôi về. Có lẽ mùng mền của hắn cũng đang quay cuồng trong máy giặt, mà vợ hắn thì không ngừng nói, lại còn nhìn chằm chằm vào hắn. Hắn chịu không nổi, đành bỏ ra ngoài, như anh. Anh bật cười. Nhưng rồi anh sửng sốt nhìn người đàn ông. Hắn cũng đang cười. Mà sao nụ cười của hắn buồn bã quá. Anh nghĩ. Nhưng có bao giờ mình nhìn thấy mình cười thế nào đâu, có lẽ buồn bã chẳng kém hắn, có khi còn thê thảm hơn. Anh muốn đến châm nhờ điếu thuốc, rồi lại thôi. Chắc hắn đến cái phòng chờ này cũng chỉ muốn được yên.

Thế mà một chiều nọ hắn bỗng đi thẳng đến góc phòng, nơi anh đang ngồi với hộp nước xoài còn bốc hơi lạnh. Hắn mặc một chiếc áo pull màu xanh đen, còn mới. Lúc nào hắn cũng mặc áo pull, thường là những chiếc áo màu sẫm. Mắt hắn hơi sâu, ánh nhìn sắc sảo, sau cặp kính. Anh nghĩ chắc hắn muốn châm nhờ thuốc nhưng hắn lại nói, giọng nhỏ nhẹ, xin lỗi anh, tôi có câu chuyện muốn nói với anh. Tôi tin là anh sẽ hiểu.

Anh phác một cử chỉ mời hắn. Anh gọi thêm một ly nước quả, bật nắp, đặt trước mặt hắn.

Hắn cười, đôi vai gầy rung lên, giọng rời rạc, nghĩ cho cùng thì cũng chẳng có gì ghê gớm. Có điều, tôi vừa từ chỗ bác sĩ đến thẳng đây, họ nói bệnh của tôi đã đến hồi nghiêm trọng. Tự nhiên, tôi nghĩ cũng nên nói với ai đó để không biến mất khỏi cuộc đời này một cách quá lặng lẽ. Giọng hắn trầm trầm, các từ được phát âm chuẩn xác. Anh nghe gai gai khắp người, hỏi lại, nhưng anh mắc bệnh gì. Tôi thấy anh hoàn toàn bình thường mà. Anh vừa nói vừa tự cảm thấy lời nói của mình có gì đó khách sáo, thậm chí giả dối. Nhưng hắn không nhận thấy hoặc làm ra vẻ như vậy.

Hắn lại cười. Anh dán mắt vào đôi vai gầy hơi rung lên, tưởng có thể nhìn thấy những khớp xương nhỏ nhoi và màu da vàng sau lần áo. Hắn đằng hắng mấy lần rồi cất lời, tôi bị một thứ bệnh chưa rõ nguyên nhân và vì vậy mà cũng chưa có cách chữa trị. Lâu nay tôi sống bằng các bình đạm. Chắc anh cũng hiểu là người ta không thể sống mãi như vậy. Vả lại, tôi cũng không muốn suốt đời chỉ dành thì giờ cho việc nằm bất động để truyền đạm. Cách đây ít lâu, tôi đọc báo, thấy bên Mỹ có một nhóm bác sĩ đề nghị cho những bệnh nhân mắc bệnh nan y có thể tự kết thúc cuộc đời mình. Họ bị phản đối, cho là vô nhân đạo. Riêng tôi, tôi cho như vậy là nhân đạo. Hắn dừng lại, mồ hôi vã ra nơi trán. Có lẽ hiếm khi hắn phải nói nhiều như vậy. Hắn nhìn anh. Anh nhìn thấy một thoáng hoang mang trong đôi mắt hắn. Hắn xoay xoay hộp nước quả trong tay, các ngón tay gầy run run. Có cái gì nóng nảy, vội vã trong các cử động của hắn. Anh không biết phải nói gì. Một nỗi kinh hoàng chạy lan trong cơ thể khiến anh tê điếng. Một cái chết cận kề như vậy mà ta không thể làm gì để cứu gỡ. Không. Anh bật kêu lên. Ai bảo với anh là không thể chữa khỏi. Hắn đáp, bác sĩ. Rồi hắn lại cười, anh đừng xúc động quá. Nếu gây cho anh điều không vui thì hóa ra tôi đã làm điều không phải. Anh gầm gừ, gây sự với hắn, không vui, hay nhỉ. Có người sắp chết mà anh lại nói chuyện vui với không vui. Nhưng anh bỗng dịu lại khi nhận thấy ánh buồn bã trong mắt hắn, tôi xin lỗi. Chuyện của anh bất ngờ quá, tôi cũng không biết phải nói sao cho phải. Hắn đáp, không, anh đâu phải nói gì, làm gì. Mai, mốt hay vài tuần, vài tháng nữa, không thấy tôi ở đây, anh biết là tôi đã đi rồi. Tôi cũng không có ai khác để nói lời từ biệt.

Anh gật đầu, rồi lại giật mình vì sự thỏa thuận kỳ quái của mình. Hắn chào anh rồi đứng dậy, đi xăm xăm ra phía cửa. Lưng áo hắn ướt đẫm mồ hôi.

Bẵng đi hai tháng anh không tới phòng chờ. Chuyến công tác tại một tỉnh miền trung chiếm hết tâm trí và thời gian của anh. Nhưng vừa đặt chân tới thành phố anh đã nhớ ngay đến người đàn ông nọ. Anh thấy đau nhói nơi tim khi nghĩ rằng tai họa có thể đã xảy ra.

Ngay chiều hôm sau, anh chạy xe tới phòng chờ, xăm xăm bước lên lầu một, lòng dạ bồn chồn, lưỡi khô đắng. Anh nhìn vào góc của hắn. Bàn trống không. Trời ơi, anh kêu thầm, ứa nước mắt. Cô nhân viên mang nước đến. Cô đặt xuống bàn một chiếc phong bì lớn, màu vàng, cái anh ngồi ở góc kia nhờ chuyển cho anh. Anh hỏi cô gái, anh ấy có dặn gì không. Cô gái đáp, dạ anh ấy nói phải đi vắng lâu. Anh ấy nhờ anh đọc cuốn sách này. Anh liếc nhìn chiếc phong bì rồi bất giác kêu lên, anh ấy chết rồi. Cô nhân viên mở to mắt, ai chết ạ. Anh gắt, còn ai nữa, cái anh ở góc kia kìa. Cô nhân viên đưa mắt nhìn vào chiếc bàn trống không . Cô là người xinh xắn, duyên dáng nhất ở đây. Mỗi lần cô mang nước đến, nhẹ nhàng đặt hộp nước lên bàn, anh lại thấy vui vui. Đôi lần anh đã tự hỏi, hay anh đến đây vì cô. Vậy mà bữa nay anh thấy khó chịu với cô. Anh nhìn chằm chằm vào khuôn mặt cô, thấy sao nó tròn quá, trắng quá. Cô nhân viên lặng lẽ bỏ đi, không cười chào anh như mọi bận.

Anh từ tốn gỡ mép dán của chiếc phong bì, rút ra một tập giấy dày dặn. Ở trang đầu tiên, anh đọc thấy hai chữ Phòng chờviết bằng mực đỏ, nét chữ cứng cáp. Có đến hai trăm trang viết tay. Các trang giấy đều thẳng thớm, sạch sẽ . Có lẽ là một cuốn tiểu thuyết, một cuốn tiểu thuyết có tính chất tự truyện, anh nghĩ. Mà người ta còn có thể làm gì trong cảnh ngộ như thế ngoài việc viết tiểu thuyết. Anh nhớ, có nhà văn Mỹ, lúc quá tuyệt vọng, quá cô đơn, đã tự viết thư cho mình: John, anh có khỏe không.

Anh không đọc. Anh biết lúc này, dù có đọc anh cũng chẳng thể hiểu được điều gì.

Mãi một tháng sau, nhân dịp mẹ con Phương về quê ngoại anh mới thu xếp để đọc bản thảo.

Buổi chiều, anh ghé mua hai ổ bánh mì rồi chạy ù về nhà. Anh tắm gội, ăn bánh, pha một ấm trà rồi ngồi vào bàn làm việc. Anh mở ngăn kéo, nhìn chiếc phong bì màu vàng quen thuộc. Đã nhiều lần anh nhìn nó mà không đọc. Anh sợ sự hiện diện của Phương, sợ ánh nhìn thờ ơ của cô lướt qua các trang viết, sợ một lời nói, một nhận xét thiếu cẩn trọng.

Anh ấy không viết về cái phòng chờ ở sân bay như anh vẫn nghĩ. Đây là phòng chờ ở hàng chục bệnh viện lớn nhỏ, ở các phòng mạch tư của nhiều thành phố khác nhau. Tại các phòng chờ này, một con người bước vào với niềm hy vọng và ra về với bao nhiêu lo âu, đau đớn. Những giấc mơ nặng nề, những niềm vui nhỏ nhoi, sự lựa chọn, đắn đo, từ khước. Có mấy trang rất hay về mùa thu Hà Nội với những chiếc lá bàng đỏ thắm, với gió heo may. Một số trang khác nhắc tới người phụ nữ tên P nào đó với tình cảm dịu dàng. Người này có lần đã mua tặng áo khoác và giày vào dịp sinh nhật. Một đôi giày màu sẫm, rất vừa chân. Có lẽ giữa họ đã có một sự gắn bó nào đó và chính anh đã từ bỏ. Ở mấy trang cuối, người viết đã rất vui vì tìm thấy một chỗ yên tĩnh trong thành phố, nơi có thể ngồi một mình nhìn ngắm những chiếc máy bay cất cánh và ao ước một chuyến bay xa, thật xa. Ngay sau câu này, có một dòng chữ nghiêng, nắn nót, chắc là trích dẫn của ai đó: Ta ngồi lại bên bờ như đứa trẻ/nghẹn ngào mơ/một miền xa.

Cuốn sách viết xong vào tháng 7, nghĩa là đã ba tháng trôi qua. Không có lời dặn dò, nhắn gửi nào.

Anh xóc xóc các trang giấy cho ngay ngắn rồi cất lại vào chiếc phong bì màu vàng. Cảm giác bất lực của lần gặp gỡ trước lại đến với anh. Nhiều khi ta đã chẳng thể làm gì để cứu vãn một tình thế xấu. Một cái chết cận kề mà ta chỉ có thể đứng nhìn. Con người mới nhỏ bé, yếu ớt làm sao. Anh lẩm bẩm. Anh lại lôi tập giấy ra, đọc qua các trang, cố tìm một tên người nhưng tuyệt nhiên không có, chỉ có tên một cô P nào đó.

Thôi, chào anh, cầu mong linh hồn anh bình yên. Anh thì thầm cầu khấn.

SG 09-1999


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét