Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2018

Ngự Thuyết: Mẹ (Phần 2)

(Tiếp theo và hết)

Chị có duyên. Tóc dài khi gội đầu không bối sẽ chấm tới mông. Mượt mà, đen mướt, đen như hàm răng được nhuộm đều và kỹ trước khi đi lấy chồng. Mặt mày xinh tươi, da trắng mịn, mắt dịu dàng, tin yêu. Người dong dỏng cao. Đặc biệt, mau nước mắt. Không biết chữ, nói năng quê một cục. Thích và thuộc nhiều câu hò, câu hát, câu đố, ca dao, tục ngữ. Như những o gái quê khác, siêng năng làm lụng, “chảu lảy”, chịu thương chịu khó. Tính tình rộng mở, yêu con nít, thân mật với bà con, láng giềng. Luôn luôn chịu thiệt về phần mình.

Róc cau xong chị lo cắt chủm. Cắt chủm xong, lo bửa. Người Bắc gọi là bổ – bổ cau. Chị vừa làm việc vừa hò khe khẽ:
Thương dau cau sáu bửa ba
Ghét dau cau sáu bửa ra thành mười.
Rồi chị thì thầm trong bụng:
Qua sông anh phải lụy đò
Túi trời anh phải lụy o báng dầu
“Mạ hắng hò câu chi rứa?”

“Câu anh lụy o báng dầu. Dưng câu ni ba hắng mì khoái hơn nì:

Còong trời còong nước còong noong 
Còong o báng rượu anh còong say sưa
Anh bắt bẻ:


“Mạ hắng nói rứa là trậc rồi. Dà mình có khi mô uống rượu mô.”

“Mà ba hắng có muống uống khôn? Mai đi chợ tui mua.”

“Thôi, để khi khác. Tết dức rồi tính chuyệng nớ.”

Chị vẫn ấm ức vì anh đành đoạn nửa chừng không chịu “noái chữ” cho hết bài:

“Chừ tui đố ba hắng. Hễ ba hắng trịt thì phải noái chữ tiếp cho tui nghe. Có chịu hay khôn thì noái một tiếng cho tui biếc.”


“Muống đố cấy chi thì cứ đố đi thử.”

Chị cười sung sướng:
“Bậng áo điều áo đỏ
Ngồi chỏ hỏ sau nương
là cấy chi?”

“Dễ ợc. Là bụi thơm.”

“Rứa còong, cũng:
Bậng áo điều áo đỏ
Ngồi chỏ hỏ trên trang
là cấy chi?”

Anh xì một tiếng: 

“Cũng dễ òm. Là con cua.”

Chưa chịu thua, chị đố tiếp:

“Tại răng:
Ra đi ngó trước ngó sau
Ngó dà mấy cột, ngó cau mấy buồng
là đi mô mà phải lo lắng dữ rứa?”

Anh hóm hỉnh:

“Đi mô hả? Là mạ hắng bỏ dà bỏ cửa đi theo trai ... theo tui.”

“Ba hắng noái lộn rồi. Cưới hoải đàng hoàng chơ có phải dư rứa mô.” 

Nói thế, nhưng chị cũng đỏ mặt, cúi đầu nhìn trái cau đang xoay nhanh trong mấy ngón của bàn tay trái trong khi lưỡi dao sáng loáng trong bàn tay phải róc róc nhịp nhàng và lẹ làng. Thật ra chị còn biết nhiều câu đố khác. Chẳng hạn: “Tròn vành vạnh như cạnh tía tô/Đi Nam đi Bắc đi mô cũng về” là cái nón, thì không sao. Nhưng: “Tròn vành vạnh như cạnh tía tô/ Đi Nam đi Bắc đi mô cũng không về” là nấm mộ, thì xui xẻo quá. Chị không muốn nói gì liên quan đến điềm gở. Anh lớn tuổi hơn chị nhiều. Chị muốn anh với chị sống bên nhau đời đời. Anh được thể phản công:

“Hết sạch cả câu đối rồi hả? Chừ tới phiêng tui nghe:

Coong gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau
Coong trai Dương Nộ ngó chộ dực mình
Có đúng dư rứa khôn?”

Chị lúng túng:

“Noái khôn phải noái, tui có khi mô thấy dư rứa mô. Chắc ôn mệ mình ngày xưa nghèo khó ...”

Anh ngừng đẩy tao nôi, đưa tay quạt đuổi con ruồi xanh đậu trên ngón chân cái của “thằng chó”, nhìn chị một cách thich thú:

“Răng khun rứa? Dưng mà trả lời theo cấy lối nớ thì cũng dư chưa trả lời. Rứa là khôn được. Tui phải đố câu khác. Đay:
Đầu rồng đuôi phượng le te
Mùa xuâng ấp trứng, mùa hè nở coong
là cấy chì chi rứa hè?”

Chị nghĩ tới nghĩ lui nát nước mà không ra. Cau mày, nhăn mũi, cắn răng. Đành chịu thua. Anh cười hả hê:

“Thì là cái của quý của mạ hắng đó.”

Chị đỏ mặt, không ngó anh nữa, nguây nguẩy cái đầu, có vẻ giận. Anh vội nói:

“Đừng tứng từng nghĩ bậy bạ. Là cây cau chớ có phải là cấy chi mô. Nghe tui noái đây nì. Gốc cau ngó dư cấy đầu coong rồng chúc xuống. Dống dư cấy đầu coong rồng nơi cột dà trong nội. Là trong cung vua. Còong mấy chùm lớ trên cao ngó dư cấy đuôi coong chim phượng chổng chổng lên trời le te. Giêng hai là mùa xuâng cau nở bông. Tháng năm tháng sáu bông trổ thành buồng, thành trấy.” 

Chị sung sướng quay đầu lại nhìn chồng, miệng trầm trồ:

“Ba hắng hay chữ thiệt.”

Khi bửa cau, cầm những trái cau to nhỏ khác nhau trong tay, không chút đắn đo, chị biết ngay nên bửa nó ra làm 4 hay 5, hay 6 hay 7 ... để có một rổ cau miếng nào ra miếng nấy bằng nhau đều đặn, láng lẩy, đẹp đẽ. Tiếp đến sắp cau vô sề. Cái sề trông giống như cái nia lớn, chỉ có khác là nia làm bằng tre đan kín, sề làm bằng tre đan thưa, chừa những lỗ mắt cáo. Nhiều cái sề được chồng lên cái bồ thành một chồng cao, bên dưới có cái lò lửa than to lớn. 

Đây là giai đoạn sấy cau. Thường sấy cau ban đêm, ban ngày chị còn phải làm nhiều việc khác. Chị không có đồng hồ reo, nhưng luôn luôn thức dậy đúng lúc thay đổi vị trí của từng cái sề một. Nếu không thay đổi kịp thời, những sề bên dưới sẽ cháy đen, sề cũng như cau trên sề, trong khi cau của những sề bên trên chưa ráo nước. Công việc “thay đổi mớ sề trên cấy bồ” do đó cũng là một khâu rất quan trọng đòi hỏi kinh nghiệm, chăm chút, thương khó.

“Mấy bữa ni bận bịu quá, mạ hắng không chợ không búa chi cả. Túi ni có chi ăn không?”

“Dạ. Để tui lo. Cho qua bữa thôi nghe.”

Chị đi một vòng quanh nương. Có khi đi ra ngoài xóm lui cui dòm ngó bên dưới bụi tre, bụi hóp coi thử có cỏ dại nào ăn được hoặc nấm không độc. Mươi phút sau, chị quay về tay cầm một nắm rau “hằm bà lằng” gọi là rau tập tàng, đọt bầu, bông bí, rau má, rau trai, lá me đất, lá càng cua mọc hoang, vài thứ cỏ ... Om cơm lửa rơm vừa chín tới, chị vội làm nước chấm. Cho vào cái đọi miệng loa vài muỗng ruốc, có vùng gọi là mắm tôm, một ít tóp mỡ lấy từ trong cụi, vài lá hành xanh, tỏi nghiền, vài lát ớt đỏ, thêm miếng đường đen nhỏ, cho nước vô, cầm đôi đũa quậy quậy, rồi bắc lên bếp. Mau lắm, vừa sôi, truống xuống, vắt lát chanh. Trong khi đó anh đã xẹt ra ngoài hè vói tay bẻ hai trái chuối chát non từ buồng chuối lòng thòng cạnh chuồng gà. Khỏi cần rửa, xoa xoa, thổi thổi cho sạch bụi bặm, khỏi cần xắt thành lát mỏng, múc thêm một muỗng ruốc sống để nguyên trong muỗng khỏi cần chiết ra chén, để chấm chuối chát. Cầm nguyên trái chuối đút vô miệng cắn nghe rạo rạo. Thế là hai vợ chồng ăn một cách ngon lành bữa cơm tối nóng hổi. 

Tuy nhiên dù khi chị không quá bận bịu, nghĩa là có thể sắp xếp việc nhà để “đi chợ, đi búa” hẳn hoi, bữa cơm cũng chỉ được bồi dưỡng thêm một khúc cá kho khô hay kho nước - cơm với cá như mạ với con - hoặc một tô canh khuyết, một loại tép biển, nấu với khế xăm ăn độn với bắp chuối; hay canh rau má, rau khoai, rau muống nấu với tép rong. Tép rong sống lẫn trong rong rêu nhỏ như cây kim may; tép giá to như cọng giá.

Thỉnh thoảng, khi cau bán được giá, chị “làm liều” dọn thêm lên mâm một chén thịt kho tàu gồm mấy cục thịt mỡ núc ních, vài quả trứng vịt, dăm con tôm còn nguyên đầu; hoặc một dĩa thịt heo phay ba chỉ ăn với dưa cải và nước mắm ớt. Không uống rượu, cũng không có đồ tráng miệng sau bữa ăn. Có khi mua được một trái cam, trái quýt, trái xoài, sẽ cắt ra làm hai. Hai người ăn nửa trái, để dành một nửa cho bữa ăn sau. 

Cuộc sống khá kham khổ cứ thế đều đặn và chầm chậm trôi, không có biến cố, không hàm chứa hay báo hiệu một mối lo âu, hay nguy khốn nào. Êm đềm như dòng nước chảy của con hói trước nhà. Ba năm sau, anh chị có thêm đứa con gái. Chật vật hơn. Mà cũng vui nhà vui cửa hơn.

*

Hai mươi năm trôi qua. Yên ổn. Rồi giặc giã. Rồi bom đạn. Nhìn lại, thấy quá nhiều thay đổi và không ít đe dọa. Chuyện mới đó mà như chuyện đời xưa. 

Nhà hàng xóm bên trái biến thành cái quán ca hát, quán ca-ra-ô-kê, do người khác làm chủ. Gia đình ông xắt thuốc trôi giạt tới nơi đâu không ai biết. Người cũ của cái xóm nhỏ đi tan tác khắp nơi. Mười phần còn lại một hai. 

Thế gia đình “ba hắng, mạ hắng”? 

Vẫn bám trụ.

Người ăn trầu càng ngày càng giảm đi nhiều. Anh chị đành phải bỏ nghề cau. Vườn cau không được chăm bón, xơ xác. Cau chết dần, thay vào đó là những luống khoai, luống sắn, người Miền Nam gọi là khoai mì. Khoai sắn không nuôi được một gia đình nhỏ với bốn miệng ăn. Đành phải bán sào ruộng trên cánh đồng ngoài, giành giụm gượng sống qua ngày. Ngồi ăn núi lở. Tiền bán ruộng hết. Anh vác cuốc đi làm công cho người khác, chị xoay qua nghề may thuê vá mướn. Thằng con trai vẫn được cho đi học; đứa con gái giúp mẹ làm việc nhà, ban đêm được cha, anh chỉ vẽ cho học được chút chữ nghĩa. Chị nhân đó cũng học lóm cho tới khi biết đọc, biết viết. Nói năng bớt quê mùa. Chị thông minh, ý tứ, học dễ dàng. Bốn phép tính cọng, trừ, nhân, chia, chị đều có thể tính rợ, và rất mau. Đứa con gái giống chị, có nhan sắc, mới 17 tuổi đã đi về nhà khác. Lấy chồng xa. 

Cuộc sống ngày càng chật vật. Anh tập đi buôn. Anh theo một người bà con mua nón lá từ làng Triều Sơn - Triều Sơn chuyên nghề chằm nón - ngoại ô kinh thành Huế, mang ra bán tận ngoài Quảng Trị. Cũng không khá mấy. Có chút chữ nghĩa, được người bạn cũ từ thời tiểu học rủ đi làm lơ xe, bán vé xe, tính toán sổ sách cho một xe đò Huế – Đà Nẵng. Trong một chuyến đi vào dịp Tết, xe anh bị mìn, giặc giã đã nổi lên nhiều nơi, xe lật xuống đèo Hải Vân. Anh chết. 

Chị muốn chết theo chồng. Chị thường lẩm bẩm, Mình cũng đã gần 50 tuổi đời, sống thêm làm chi cho chật đất. Nhưng nghĩ lại còn con. Chị tạm thời giấu đứa con trai không cho nó biết ngay cái tai nạn khủng khiếp đó. Sợ nó kinh hoảng quên cả bài vở ở trường. Nó đang học hành chăm chỉ, và học giỏi. Một mình đi lãnh xác chồng về chôn tại cồn mồ bên kia con hói, gần làng. Khi mọi việc xong xuôi, chị mới cho con hay.

Chị thương chồng vô cùng. Thương con vô cùng. Chị thương luôn con nít hàng xóm. Đi chợ về có mấy cục kẹo cau – ruột làm bằng đường trong, bao bọc bởi đường đục, trông giống miếng cau tươi -, vài cái bánh quế, mua cho thằng con trai cưng. Nhưng hễ có mấy đứa nhỏ nào tới chơi với con, chị chia đều cho con và mấy đứa nhỏ kia. Bà con, xóm giềng cũng thương mến chị vô cùng. Chồng chết, chị ngẩn ngơ như người mất trí, thỉnh thoảng có những hành động kỳ quặc. Những lúc rảnh rỗi đôi chút, chị ba chân bố cẳng chạy đi mua những món ăn anh thích, đem qua cồn mồ. Chị bận may vá luôn tay, không có đủ thì giờ để đi chợ, tự mình nấu nướng. Ngó quanh không thấy ai, chị ngồi xuống bên mộ anh, đặt thức ăn lên nấm mồ, thắp ba cây nhang, lâm râm cúng vái. Nhiều khi vô ý chan vào đấy mấy giọt nước mắt. Rồi ngồi đó thật lâu, nói chuyện lảm nhảm một mình, khi cười, khi khóc. Cuối cùng cũng phải đứng dậy ngoảnh mặt mà đi, mang về nhà những món đã cúng, để dành cho thằng con trai đang bận đi học.

“Mạ nì, đồ ăn mô mà nhiều quá ri, ngon quá ri.”

“Ba con cho con đó.”

“A, mạ vừa đi thăm mộ ba hả? Ra Răng? Cỏ mọc nhiều chưa? Lâu ngày con bận học bài, bậy quá. Ba có giận con không mạ?”

”Không răng mô con ơi. Con chăm học là ba vui sướng rồi.”

Con đói bụng quá. Ăn, mạ ơi.”

“Không, mạ no rồi. Con ăn đi.”

Chị nấu ăn ngon có tiếng. Khi còn anh, chị có dịp làm bánh canh đãi bà con trong những dịp kỵ, chạp, Tết nhứt. Có khi mời xóm giềng tới ăn. Ai cũng khen ngon hết chỗ nói. Thì liều bỏ nghể may vá, làm bánh canh gánh đi bán coi thử ra răng. Bánh canh Nam Phổ đã được nhiều người biết tới, mà chị cũng là người Nam Phổ. Hoạ may kiếm đủ tiền nuôi con học cho xong Trung Học. Đứa con gái thì đã được yên thân. Chị bàn bạc việc đó với thằng con trai. Nó cũng thương mạ lắm, chị biết, nhưng lại có cát tật ưa lý sự. Và hễ có dịp là “ăn hiếp” mạ.

“Mạ răng hay ưa thay đổi, ưa lộn xộn dữ rứa? Tụi Tây nó nói, ‘Cục đá cứ lăn hoài thì không bám được rêu.”

“Nói chi mạ không hiểu.”

“Không hiểu Tây thì hiểu Tàu vậy. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Mạ cứ tiếp tục may vá đi. Cái nghề đó hợp với mạ hơn.”

Cái nghề? Thiệt ra mình chỉ biết nghề cau mà thôi. Chừ hết cau, nhớ nó quá, phải cực chẳng đã may thuê vá mướn đắp đổi qua ngày. Chị không biết nói làm răng cho con thấu hiểu. Đành phải nói điều mà chị không muốn con biết:

“May vá kiếm ít tiền quá. Ăn xong bữa túi, lo chạy tiền cho bữa sáng. Mà cũng không đủ. Rồi nợ nần.”

Thằng con trai nhíu mày, quắc mắt:

“Rứa thì con nghỉ học là cách hay nhất. Con sẽ đi kiếm chỗ dạy. Hay làm thư ký hãng này hãng nọ. Con biết tiệm Xe Đạp Rồng Vàng trên đường Trần Hưng Đạo đang cần người làm sổ sách. ”

Chị hoảng hốt:

“Đừng, đừng, con. Mạ lạy con. Ráng thêm vài năm nữa cho xong Tú Tài. Mạ vui mà ba con khuất mặt cũng bằng lòng. ”

“Nhưng mạ gánh nặng được không?”

“Răng lại không được. Đầu lạ sau quen.”

“Mà cái hàm răng đen của mạ ...”

“Con nói chi mạ không hiểu.”

“Con muốn nói ... mấy o bán hàng rong muốn đắt hàng phải ‘tân thời’. Cho con khen mạ một tiếng nghe, mạ chưa già, và vẫn còn ... còn ... còn ... Nhưng cái hàm răng đen bóng đó ngó không được con mắt chút nào cả.”

“Thì phải làm răng?”

“Cạo đi.”

Chị lại hoảng hốt nhìn con. Rồi cố bình tâm lại, Xưa nghe lời ba hắn, nay e phải nghe hắn. Hắn có nhiều chữ nghĩa, lại hay lý lẽ. Chị kiếm thêm một lý do, Xưa nhuộm răng đen để đi lấy chồng, nay chồng không còn, thì làm đẹp với ai. Cạo răng đi là phải.

Gánh bánh canh của chị, thêm một ít bánh nậm, bánh bột lọc, bánh ướt, được làng xóm săn đón, vồ vập. Nhiều người thương tình hoàn cảnh của chị, nhiều lần khuyên chị chịu khó gánh lên chợ Đông Ba bán. Chắc chắn kiếm được nhiều tiền hơn. Chị cười trừ. Lần lữa. 

Chị có lý do riêng của chị không tiện nói ra. Chị sung sướng thấy con học giỏi tại ngôi trường lớn nhất của thành phố, sẽ đi thi Tú Tài. Chắc sẽ đậu. Trường gần chợ Đông Ba. Đi vài đoạn đường, rồi rẽ trái qua cầu Trường Tiền là tới. Biết đâu có khi nó cùng bạn bè trai có, gái có, trai thanh, gái lịch mà, đi qua phố, đi vô chợ, mua sắm chút đỉnh, vui chơi, cười giỡn, vô tư. Rồi lỡ gặp chị. Cái áo dài cũ rích, vá víu mấy nơi. Nối vai vì cái đòn gánh hết ngày nọ tới ngày tê đè lên nặng trĩu; nối tay vì hay xăn lên kéo xuống cho tiện làm đủ thứ công việc vặt vãnh; cái quần lem luốc nhăn nheo vì chưa một lần được là, được ủi; hai bàn tay gầy guộc xương xóc vì lao động cực nhọc chứ đâu còn là bàn tay thơm tho của cô gái Nam Phổ róc cau; hai bàn chân đất nứt nẻ, vì mang guốc, mang dép khó đi mau, lỡ vấp vào rễ cây, cục đá trên con đường hẻm, rứa là tiêu tan cả nồi bánh canh nóng hổi. Mà tóc tai thì phờ phạc, mặt mày thì hốc hác, cặp mắt thì tuồng như sẵn sàng tan ra thành dòng lệ. Chị không dám gánh gánh banh canh lên phố, rồi vô chợ Đông Ba. Lỡ gặp, nó mất vui. Tủi thân.

Quả thật hai năm sau thằng con trai thi đậu tú tài ngay kỳ đầu. Đậu khá cao.

Việc đầu tiên, chị bỏ buổi đi bán, sửa soạn một mâm phẩm vật tươm tất, dẫn đứa con trai qua cồn mồ cúng tạ “ba hắng”. Cái sung sướng hả hê đó không kéo dài được bao lâu. Tiếp theo là lệnh động viên. Chiến tranh như tai trời, ách nước ập xuống, và kéo dài như không bao giờ dứt. Nó là đứa con trai một trong gia đình nhưng không phải là đứa con độc nhất. Nó có em gái. Nên theo luật lệ, phải vào Trường Huấn Luyện Sỹ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ra trường với cấp bậc chuẩn úy. Phục vụ tại Sư Đoàn I gần vỹ tuyến 17. Thông minh, can trường, nhanh chóng lên thiếu uý. 

Chẳng bao lâu, Miền Nam thất trận. Thằng con trai đi tù Cải Tạo. Đứa em gái ở miệt Cần Thơ cùng chồng con vượt biển, không biết sống chết ra sao.

Chị vẫn ngày này qua ngày khác gánh gánh bánh canh đi quanh quẩn xóm làng. Nồi bánh canh nay nhẹ hơn nhiều, nhưng tóc chị lại bạc nhiều hơn dù chị mới hơn 50 tuổi. Thân hình gầy gò hơn, mặt mày ngơ ngác hơn, cặp mắt buồn hơn. Cái gánh lỏng chỏng nhẹ tơn, cái đòn gánh trơ trơ không uốn mình nhịp nhàng với bước chân đi. Ế ẩm. Dân làng ngày càng nghèo mạt rệp, cơm không đủ ăn kiếm đâu ra tiền mua quà, mua bánh. Nhưng vẫn có người còn tiền giấu giếm, ăn chui, ăn rúc. Nhờ thế, chị vẫn có thể tém tủm, nhịn đói nhịn khát, để dành chút tiền cho việc đi thăm nuôi con trong tù. 

Rồi chuyện phải đến, cũng không còn người nào có khả năng ăn bánh canh, bánh nậm, bánh ướt ... Nồi bánh canh chuyển thành rổ khoai sắn nách tay. Hoặc đội lên đầu khi cánh tay rã rời. Chị có sáng kiến nấu thêm ấm nước “lá mồng năm” cho khách uống khỏi trả tiền, ăn khoai sắn đỡ nghẹn họng; rang thêm chén muối mè đậu phụng làm tăng thêm gia vị cho khoai sắn dễ nuốt. Với thời gian, chị trở thành hình ảnh quen thuộc của đám học trò nghèo bụng luôn luôn đói. Thỉnh thoảng mấy cụ kéo xe kéo, mấy mụ đi làm thuê quên bới theo mo cơm trưa cũng là khách hàng của chị. 

Khi nào được lệnh thăm nuôi thằng con trong tù, chị đi ngay. Trước khi đi thăm con, chị đi vay mượn khắp xóm. Ai cũng nghèo xơ xác, và ai cũng muốn giúp chị. Nhưng chị nhất quyết vay mượn mà thôi, không nhận của bố thí. Có chút tiền là chị trả hết người này tới người khác. Vâng, từ khi ba hắng qua đời, không ai đối đáp, chị quên gần hết câu hò, điệu hát cũ. Ca dao, tục ngữ, cũng không muốn nhớ, vì nó có trúng trật chi mô, chị ngẫm nghĩ. Nhưng không quên câu nói, “Nợ trả lần, cháo húp quanh.” 

Bỗng một hôm chị được tin thằng con chị đã trốn trại. Đã bị bắn bỏ. Chết điếng, chị bỏ mấy bữa đi bán, lo mua hoa, quả, hương, đèn, đem tới đình, tới chùa, qua cồn mồ cẩu khẩn, xin Trời Phật, xin “ba hắng” phù hộ, che chở cho đứa con yêu quý của chị. Và mong cái tin khủng khiếp đó chỉ là chuyện “nói chơi cho vui miệng”, hay là có thể người ta muốn doạ nạt, “khủng bố tinh thần”, như có người mách nước cho chị. Đêm nào chị cũng nằm thao thức. Có khi gà gáy sáng chị mới giật mình, rồi cố chợp mắt một chút, rồi ngồi nhỏm dậy nhóm lửa, bắc nồi. 

Một buổi trưa vắng. Trời nắng gắt.

Chị đặt rổ khoai sắn ngay dưới gốc cây bàng sum sê cho nhiều bóng mát. Đằng sau cây bàng, một cái am nhỏ bỏ hoang. Chị ngồi bệt lên trong lòng chiếc nón lá rách. Trưa nào chị cũng tới đó ngồi nghỉ mệt một chốc trước khi nách rổ khoai sắn đi bán nơi khác. Là vì từ đấy nhìn qua khỏi con hói, thấy cồn mồ. Khi cơn gió lốc nổi lên, bụi cát bay là là trên mặt đất như đám sương mù.

Ngày còn con gái, chị sợ ma vô cùng. Có chồng chị vẫn còn sợ, bị anh chọc quê hoài. Nhưng từ khi anh mất, nỗi sợ hãi đó bỗng dưng biến mất theo. Chị ngồi một mình trong không gian trưa đúng ngọ như buổi trưa này, tức là vào thời điểm nghe nói hồn ma bóng quế ưa lảng vảng nơi dương thế. Chị mong trong đám bụi bay là là kia có anh lẫn trong đó. Nhiều lần chị tưởng như thấy anh múa may đùa giỡn trong đám bụi mờ. Chị chắp hai tay khấn vái. Rồi chị nghĩ đến ngày cũ. 

Xưa đơn sơ, dễ dãi, thân yêu. Sống tự nhiên như hít, như thở không khí. Như cây cỏ mơn mởn khắp xóm, như vườn cau xanh, như đàn ong vù vù bay, như tiếng gà gáy trưa, như con mèo con chó quấn quýt, như con hói lặng thinh. Nghèo mà vui. Nhưng ngày vui của chị ngắn quá. Những ngày hạnh phúc nhất là lúc mới về nhà chồng, thương chồng, chồng thương. Và thằng chó bụ bẫm, chân tay đạp chọi, miệng gù gù cùng bầu sữa. Và đứa con gái xinh tươi, ngoan ngoãn, mà lại ưa khóc nhè. Và ba hắng hóm hỉnh, chữ nghĩa. Tứng từng. 

Nay cuộc sống ngược ngạo, tan tác, khó khăn, khổ sở, hoang mang. Ba hắng không còn, thằng chó cũng “không biết ra răng” như chị thường trả lời khi có người tò mò hỏi. Đứa con gái cả năm không tin tức. Nước mắt chị tuôn ra, bụi mờ bên cồn mồ càng nhoè nhoẹt thêm. Mặc. Không ai thấy, cứ để nó chảy dài xuống má, xuống cằm, thấm vô áo, vô ngực.

Bỗng một bóng người lấp ló. Rồi chạy nhanh tới. Thằng chó. Chị đứng bật người dậy. Hai mẹ con ôm chầm lấy nhau. Chị nghẹn ngào:

“Thiệt là có Trời Phật độ, ba hắng linh thiêng. Con ơi, về nhà ngay. Ở đây nguy hiểm lắm. Mạ bỏ bán buổi chiều.”

“Không, không được mô.”

“Răng rứa?”

“Chắc chắn tụi nó có đặt người rình con tại nhà. Con biết bữa trưa mạ hay tới đây. May quá, may quá. Gặp mạ liền.”

Chị kéo vạt áo lau nước mắt, miệng mấp máy. Đứa con chận lại:

“Khoan, khoan cho con nói tiếp. Ngày giờ gấp rút quá rồi. Con đem mạ đi trốn.”

“Hả? Hả? Khi mô?”

“Ngay tối nay. Con có đường dây.”

“Đi mô?”

“Vượt biên.”

Chị hốt hoảng:

“Mô được. Còn bàn thờ ba con ai lo. Còn nấm mộ bên tê ai săn sóc.”

“Mạ không chịu đi, con cũng phải đi một mình. Ở đây trước sau chi con cũng sẽ bị bắt, bị giết.”

Chị hoang mang. Chị nghĩ đến cái bàn thờ không ai hương khói, ngôi nhà không người ở đổ nát, ngôi mộ không ai coi ngó cỏ may sẽ lấp kín. Nước mắt chị lại tuôn ra. 

”Mạ ơi, con phải đi. Nhưng con không muốn đi một mình. Mạ con mình còn ai nữa đâu.” Anh quay ngoắt đầu không muốn cho mẹ thấy anh mềm lòng.

Chị ngập ngừng:

“Ba con còn nằm đó, mạ đi sao đành.”

“Không đành thì con có cách ni. Qua mộ ba hốt vài nạm đất. Về nhà lấy tấm hình của ba trên bàn thờ. Mang theo.”

“Mà vượt biên đi mô? Xa không? Có xa hơn Quảng Trị, Quảng Nam? Mạ cả đời chưa bước ra khỏi xứ Huế.”

Anh trả lời hơi gắt gỏng:

“Mạ nói chi lạ rứa. Vượt biên mô phải là chạy trốn tới mấy cái tỉnh quanh quẩn. Rồi bị tóm cổ ngay. Cứ ra biển cái đã. Gặp đảo ghé đảo. Gặp tàu lên tàu. Miễn sao trốn thoát khỏi cái đất nước này.”

Chị dè dặt hỏi:

“Tới nơi mình không biết tiếng của người ta, như câm, như điếc.”

Anh cau mày, gắt gỏng: 

“Không răng cả. Không biết tiếng, đừng nói, đừng nghe. Người câm, người điếc vẫn sống như thường. Yên chí đi, con sẽ nuôi mạ.”

Chị thở dài, nhìn xa tận bên kia con hói, nói như nói một mình, Thôi thì con muốn răng tuỳ con. Con muốn đi mô cũng được. Mạ đi theo.

Chị muốn hỏi thêm nhiều chuyện ấm ức khác, nhưng sợ làm bực bội thằng con ưa chữ nghĩa, lý sự. Chị buồn rầu ngẫm nghĩ, Chắc xứ người cũng có chợ có búa, có đò dọc đò ngang. Có cây cau, cây chuối, cây tre. Có ruộng nương, sông hói, đình, chùa. Cau chuối có cũng tốt, không có cũng không răng. Nhưng chắc phải có cây tre. Tre làm được đủ thứ chuyện trên đời. Làm đũa, làm quạt, làm cột nhà, làm phên, làm ghế, làm vạt giường, làm cây cầu lắc lẻo. Làm nia, làm thúng, làm mủng, làm rổ ... Và làm đòn gánh. Chị nghĩ đến câu hò, Cực thì đòn gánh đè vai. Chớ để cho ai nặng nhẹ ... Chị nghĩ đến gánh bánh canh, rồi rổ khoai sắn, và những đứa học trò con nít thiệt dễ thương. Có đứa không có tiền mua đứng ngó quanh, làm như không chú ý cái gì cả. Chị cho. Nó rụt rè mãi mới ngửa hai bàn tay nhỏ xíu cầm lấy củ khoai, củ sắn nấu nguyên vỏ. Vỏ khoai ăn cũng ngon. Vỏ sắn thì chị nói, Độc lắm. Quăng đi. Nó nghe lời ngay. Chị nghĩ đến những ngày xa thật xa, lúc còn chồng “noái chữ”, lúc róc cau, lúc thằng con trai chăm chỉ ăn học, đứa con gái mau nước mắt như chị, lúc cây nhỡn đâm bông kết trái và những đàn ong không biết từ đâu bay về. Và chị thảng thốt nghĩ đến tương lai mù mịt.

Tối hôm đó đêm ba mươi Tết. Mọi nơi tiệc tùng, cúng giao thừa, tiễn đưa năm cũ, đón mừng năm mới. Việc canh phòng chắc lỏng lẻo. Hai mẹ con ngồi lẫn sau một độn cát nhỏ ngoài bãi biển Thuận An. Không trăng, không sao. Đêm đen mênh mông, rùng rợn trùm lên vạn vật. Tiếng nói khe khẽ run rẩy của người mẹ, Ngồi đây ... làm ... làm ... chi con, chưa thoát ra khỏi cửa miệng, đã bị gió đánh bạt. Và cũng đánh bạt tiếng trả lời thì thầm, Chờ ... dắt đi. Một khối đen dày dặc, thăm thẳm. Không thấy trời, không thấy nước, không thấy ai cả. Chỉ nghe tiếng biển gọi rì rào, âm u, bí ẩn như nó đã từng gọi như thế hàng ngàn năm. Vang dội vào trong lòng đứa con quả quyết, dứt khoát. Vào trong lòng người mẹ lo sợ, hoang mang. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét