Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2018

Hà Đạo Hàm: Ngày về Dalat

(Hình minh hoạ: Getty Images)

Cuối cùng thì chiếc xe đò và hành khách cũng đến Dalat sau hơn mười hai tiếng đồng hồ vất vả nhiêu khê. Trời sắp tối nên bến xe vắng vẻ, tôi bước xuống xe nhìn quanh nơi quen thuộc mà một thời đã chứng kiến tôi đi đi về về, nơi từng đón chào tiễn biệt bao nhiêu bạn bè và người thân. Không khí trong lành và mát lạnh giúp vơi đi phần nào mệt nhọc của cuộc hành trình dài. Dalat của tôi đây!

Tôi không sinh ra ở Dalat, nhưng có may mắn trưởng thành tại thành phố xinh đẹp này, tuổi hoa niên trong sáng của tôi qua đi cùng với núi đồi, sương mù và bao cảnh đẹp nên thơ khác của Dalat. Gia đình tôi đến vùng đất gọi là Hoàng triều cương thổ do một ông bác làm công chức đã định cư ở đây từ nhiều năm trước đứng ra "bảo lãnh." Lúc đó tôi chỉ mới ba bốn tuổi, còn non dại quá để có thể ghi vào tâm trí những kỷ niệm nơi miền quê xa xôi bên kia vĩ tuyến 17. Đổi lại kỷ niệm những ngày sống tại Dalat không bao giờ phai nhạt. Cũng giống như nhiều người khác, nơi chốn nào đã có nhiều kỷ niệm êm đềm nhất, nơi ấy sẽ được giữ mãi trong ký ức. Dalat với tôi cũng vậy, dù sống ở đâu, làm gì, thời gian không gian có khác, nhưng vùng đất thân yêu đó vẫn là nơi đi về của tôi, trong tâm tưởng và trong giấc mơ.


Năm năm sau ngày ba mươi tháng tư bảy mươi lăm, đời sống người dân mỗi ngày mỗi xuống đến tận cùng của khổ cực thì quyền lực của chánh quyền càng đi lên. Tôi là công chức chế độ cũ được lưu dụng, trong cơ quan đã chán với những thi đua, vượt chỉ tiêu, tiên tiến, phát huy sáng kiến... Bên cạnh lại có sự bất ổn trong tình đồng nghiệp, kẻ theo người chống, kẻ lại tán tận lương tâm theo dõi hành động của bạn bè để báo cáo cầu vinh. Giám đốc mới của tôi tự hào là dân Cầu Muối đi tập kết về, trình độ chuyên môn không cao nhưng trình độ giác ngộ cách mạng phải cao lắm, xưng hô với nhân viên bằng mày tao để chứng tỏ sự thân tình không giai cấp, một hành động mà trong công sở trước đây hiếm thấy ở người trưởng cơ quan. Về đến địa phương thì bị phiền hà bởi công an khu vực, hàng xóm láng giềng cũng nhìn nhau nghi ngại, đó đây xuất hiện vài gia đình cán bộ, gia đình có công với cách mạng thường gọi nôm na là nằm vùng. Cũng khổ với cái loa của phường khóm ngày đêm nói chuyện đường lối chánh sách, ca hát hoặc thông báo hợp tác xã có bán mắm, muối... Một nghịch lý là phương tiện truyền thanh cổ lỗ có từ trước thập niên năm mươi của thế kỷ hai mươi này chính phường khóm bắt dân đóng góp để làm phiền lỗ tai của mình vì những âm thanh ồn ào này. Quá chán chường với đời sống chung quanh và cũng thất vọng vì những lần vượt biên không thành. Vào một ngày mùa đông cuối những năm bảy mươi tôi đã tìm về Dalat, không phải để thăm nhà vì đã từ lâu gia đình tôi không còn ở đây, nhưng hy vọng không khí trong lành sẽ cho tôi cảm thấy thoải mái, đời sống êm đềm sẽ làm ổn định tinh thần và dĩ vãng tươi đẹp sẽ cho tôi niềm tin để tính toán những việc khác trong tương lai.

Vì được coi như công nhân viên chức nhà nước tôi xin đi nghỉ phép thường niên ở Dalat, bên cạnh giấy phép còn phải xin thêm một giấy giới thiệu để mua vé xe đò. Nhìn giấy phép và giấy giới thiệu đề tên tôi, chức vụ là cán bộ kỹ thuật, nhìn hai chữ “cán bộ” mà trong lòng cảm thấy có điều gì hình như chẳng phải của mình! Những ai sống trong giai đoạn này mới hiểu giá trị của những tờ giấy giới thiệu, nó sẽ giúp đi khám bệnh, mua vé xe, mua xe đạp, mua mắt kiếng... Nó là lá bùa hộ mạng và là đặc ân cho những người làm công chức, có thể gõ cửa một cơ quan nào đó hay một cửa hàng quốc doanh của nhà nước. Nhưng đạt được mục đích bởi tấm giấy giới thiệu đó lại là chuyện khác, đôi khi cũng lắm phiền phức.

Tôi rời nhà vào một buổi sáng vắng vẻ, đèn đường chưa tắt. Vì nghe lời khuyên phải đi sớm sắp hàng trước thì mới có vé, nhưng khi xích lô đưa tôi ra gần tới bến xe thì thấy hàng người cũng đã dài. Quầy bán vé chia làm hai loại, loại công nhân viên chức đi phép hay đi công tác được đứng trong hàng ưu tiên, còn dân thường có một hàng khác. Chỉ khi nào vé bán hết cho hàng ưu tiên xong thì mới đến phần người dân thường, tuy nhiên nếu muốn đi bất cứ lúc nào cũng có vé chợ đen, dĩ nhiên giá phải đắt hơn. Tôi đứng vào hàng ưu tiên, nhưng lại là người cuối cùng, sau này tôi hiểu rằng những người đứng trước tôi đã đến đây từ rất khuya, khi phòng vé chưa mở cửa. Người đầu tiên đặt giấy tờ của mình trước cửa quầy vé, lấy một viên gạch đè lên trên, người thứ hai đặt giấy tờ của mình theo người thứ nhất, và cứ tiếp tục như thế. Đến phiên tôi lấy vé thì người bán vé cho biết ghế phía trước đã hết, chỉ còn phía sau thôi, ngồi hơi chật, tôi chấp nhận vì cũng chẳng có cách nào khác hơn được.

Xe rời bến lúc năm giờ sáng khi mặt trời chưa lên. Trong lúc xe chạy thì tôi mới hiểu sự khác biệt của ghế trước ghế sau. Xe được chia ra phía trước có ba hàng ghế nằm ngang, hành khách ngồi nhìn ra phía trước, đàng sau có hai hàng ghế dọc, khách ngồi đối mặt với nhau, khoảng trống ở giữa để có thể chở thêm vài người ngồi xuống sàn, bởi vậy người ngồi ở hai hàng ghế dọc này vừa bị xóc, vừa không thể nhúc nhích hai chân được vì đụng người ngồi dưới sàn, và dưới các băng ghế đều có chứa hàng của các người đi buôn nên không lui chân được. Thấy anh phụ xe đứng thoải mái ở bậc lên xuống sau xe, tôi đề nghị anh cho tôi đứng cùng, anh đồng ý nhưng khi gặp công an thì tôi phải vào ngay, nếu không tài xế bị phạt.

Thời gian này được gọi là giai đoạn ngăn sông cấm chợ, hàng hoá hay sản phẩm của tỉnh này không được xuất qua tỉnh kia. Tỉnh Lâm Đồng có cà phê bán không được nhưng Sài Gòn lại thiếu, dân Sài Gòn phải uống cà phê pha trộn với hột bắp, Cà Mau dư lúa gạo nhưng không bán được thì tỉnh Bến Tre mất mùa, dân đói thê thảm không có gạo ăn phải chèo thuyền bằng tay xuống Ca mau mua gạo, đi về mất cả hai tuần lễ, trên đường đi cũng phải vất vả khổ sở vì những trạm kiểm soát ven sông. Cũng vì ngăn sông cấm chợ mới tạo nên hiện tượng đi buôn lậu, và để chận đứng nạn buôn lậu thì công an kinh tế phải có nhiều trạm kiểm soát. Xe chưa ra khỏi địa phận Sài Gòn đã có một trạm kiểm soát, vào đến địa phận tỉnh Đồng Nai thêm một trạm khác, trước khi ra khỏi tỉnh Đồng Nai một trạm nữa, đến chân đèo Bảo Lộc là trạm của tỉnh Lâm Đồng, và trước khi đến Dalat, một trạm kiểm soát nữa ở đầu đèo Prenn. Không kể biết bao nhiêu trạm kiểm soát đột xuất dọc đường. Ở mỗi trạm, phụ xe phải tính chuyện phải quấy với công an, còn những người buôn chuyến trong giai đoạn này cũng phải vất vả cất giấu hàng hoá của mình vì một ký cà phê sống hay nửa ký bột ngọt đều bị hạch hỏi. Có đi trên xe tôi mới hiểu được sự tương quan mật thiết giữa những người đi buôn và tài xế, phụ xe. Tất cả cùng nương tựa nhau để sống.

Đường đi gian nan, mỗi trạm mỗi dừng, tôi cũng phải xuống những trạm chính để trình giấy tờ và đưa túi xách cho công an kiểm soát. Đoạn đường dài trên ba trăm cây số, chứng kiến bao nhiêu cảnh công an làm tình làm tội dân lành, nhưng hình ảnh làm tôi ghi nhớ mãi khi là trạm kiểm soát ở chân đèo Bảo Lộc. Khi xe dừng tại trạm kiểm soát, xuất trình giấy tờ và mở túi xách để khám xong tôi lên xe ngồi chờ vì các người đi buôn còn đang thương lượng với công an. Qua cửa sau xe, thấy một em nhỏ độ khoảng mười tuổi, cỡi chiếc xe đạp người lớn nên em không ngồi được hoàn toàn trên yên, đàng sau có chở một thúng nhỏ đi về hướng đèo, tôi thắc mắc tự hỏi không biết em nhỏ đi đâu vì bắt đầu từ đây trở lên đèo chung quanh chỉ có rừng núi. Thắc mắc của tôi được trả lời khi em bé đạp xe qua trạm cũng là lúc viên công an đang ngồi kiểm tra trong trạm vụt đứng dậy chạy ra nắm lấy thúng nhỏ sau xe kéo mạnh, em bé té theo xe và gạo trong thúng đổ ra, viên công an thản nhiên trở vào làm việc tiếp, mặc cho em bé loay hoay với chiếc xe và gạo đổ tung toé trên mặt đường. Tôi ngơ ngác nhìn cảnh tượng bất nhẫn, định xuống xe giúp thì có vài người đàn bà đứng gần đấy lấy nón và rổ gom giúp em những hạt gạo trên đường nhựa dơ bẩn. Cứ như vậy, hết trạm này lại trạm khác nên đi từ sáng sớm, bốn giờ rưởi xe mới tới chân đèo Prenn. Nhưng chưa hết nạn, xe lên được hai phần ba đèo thì hết xăng, phụ xe phải đón xe khác quá giang về Dalat lấy xăng, hành khách lần lược xuống xe đứng ngồi quanh vệ cỏ bên đường. Tôi cũng xuống xe, trong không gian có mùi hương quen thuộc của thông xanh làm tôi vô cùng thích thú, như vừa tìm lại được một vật gì quí mến đã bị bỏ quên từ lâu và cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái được hít thở không khí lành lạnh. Hương gây mùi nhớ... 

Đặt chân xuống bến xe Dalat đã năm giờ rưỡi chiều, việc đầu tiên của tôi là tìm chỗ để nghỉ ngơi. Tôi mang túi xách đi ngược dốc Lê Đại Hành đến Khu Hoà Bình. Đang phân vân chưa biết chọn khách sạn nào, chợt nhớ khách sạn Phú Hòa, nơi tôi có vài kỷ niệm với người bạn từng làm việc ở đây. Bước mau đến khách sạn, bây giờ đã là quốc doanh, cô tiếp tân đón chào với vẻ lạnh lùng cho biết không còn phòng chiếc, chỉ còn phòng đôi, tôi đồng ý vì không muốn đi nơi khác và giá cả cũng không sai biệt nhiều, cô đưa chìa khoá và chỉ lên lầu. Phòng quay mặt về phía sau nên hơi thiếu ánh sáng, nằm nghỉ ngơi chốc lát sau một ngày đường vất vả, tôi xuống phố kiếm bữa ăn chiều. Khi trở về, trời đã tối, đường phố khá im lìm dưới những ngọn đèn vàng, chung quanh khu Hoà bình hàng quán đóng kín trông tối tăm gợi lên trong tôi hình ảnh một khu buôn bán bình dân mà tôi đã gặp đâu đó ở Sài Gòn. Cảnh thật buồn nhưng tôi không quan tâm lắm vì nghĩ phải ngủ một giấc cho lại sức, sáng mai sẽ còn nhiều dịp nhìn lại chốn cũ mến yêu này. Nhưng đến khi được cuộn mình trong chăn dày, một hành động thú vị mà tôi chẳng có được suốt những năm tháng sống ở Sài Gòn, bao kỷ niệm xa xưa vơi đầy hiện về làm tôi thao thức đến nửa đêm mới chìm vào giấc ngủ.

Tôi đang yên giấc mơ màng thì bị một âm thanh ồn áo đánh thức, định thần nghe cho rõ, đó là tiếng phát ra từ cái loa trên nóc khu Hoà Bình kêu gọi người dân tập thể dục buổi sáng, với tay bật đèn để nhìn đồng hồ, bây giờ là năm giờ sáng. Tôi thở dài nằm ra giường: Ôi nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa! Vậy mà trong tâm trí tôi vẫn nghĩ lên Dalat sẽ tìm lại được thú vui ngủ vùi trong chăn, sẽ chờ cho chim líu lo đánh thức mình dậy, nay nằm đây nghe tiếng hô hào hít vào thở ra, hai tay đưa lên cao xuống thấp... Một nỗi chán chường dâng lên trong lòng, tôi muốn mình được đi ra khỏi phòng, phải làm cái gì đó như tìm một quán cà phê uống chờ trời sáng hơn là nằm đây nghe những âm thanh hỗn độn này, nhưng còn quá sớm chắc gì đã có nơi mở cửa, đành phải kéo chăn kín đầu cầu cho thời gian qua nhanh. Rồi giờ phát thanh cũng qua, nằm ráng thêm chút nữa nhưng cũng không ngủ lại được. Chợt nhớ sáng nay tôi phải ra trình diện ở sở Công an thành phố để có dấu mộc chứng nhận ngày đến, trước ngày về cũng phải trở lại chứng nhận ngày đi. Chậm rãi chuẩn bị giấy tờ cần thiết tôi rời khách sạn, nhưng việc trước hết là tìm chỗ ăn sáng chờ đến giờ các cơ quan mở cửa. Chứng nhận xong giấy phép, tôi cẩn thận trở về khách sạn để cất giấy tờ trước khi làm việc khác. Vừa thấy tôi bước vào cửa, nhân viên tiếp tân cho biết tôi phải trả lại phòng vì phòng tôi đang ở đã có phái đoàn của cơ quan nào đó đặt từ tuần trước, và cũng chẳng còn phòng nào khác để tôi chuyển sang. Người nhân viên thấy tôi ngỡ ngàng cũng tỏ ra ái ngại nên nói qua bên khách sạn Mộng Đẹp thế nào cũng còn phòng. (Tôi vẫn quen gọi tên cũ là Moderne). Vậy là tôi khăn gói đi ra, nhưng qua đến khách sạn Mộng Đẹp thì mới hay quầy tiếp tân làm việc từ mười hai giờ trưa, nhìn đồng hồ mới hơn chín giờ, khoác túi xách lên vai, tôi đi lên phố trong tâm trạng chẳng biết đi đâu.

Ban ngày tôi có thể quan sát rõ hơn, các tiệm buôn bán xinh đẹp chung quanh khu Hoà Bình ngày xưa nay là những cửa hàng quốc doanh, bày bán những thứ hàng tiêu dùng như nồi niêu, phụ tùng xe đạp hay thuốc dân tộc, nhưng hàng hoá không nhiều nên nhìn vào thấy trống trải lại không đèn đuốc, khách hàng vắng tanh trông thật thê thảm. Người dân Dalat nay trông tiều tuỵ. Dân xứ lạnh lúc nào trên người cũng khoác áo lạnh, ngày xưa thì áo lạnh đủ kiểu, muôn màu muôn sắc nhưng nay toàn một màu u tối nên trông nghèo nàn như cảnh trong phim Những kẻ khốn cùng. Đời sống cơ cực, miếng ăn còn khó khăn thì ai còn tâm hồn mà nghĩ đến cái đẹp. Bởi vậy, một anh bạn của tôi ở Sài Gòn có dịp đi Dalat lần đầu tiên trong đời trước chuyến đi lần này của tôi vài tháng, khi hỏi cảm tưởng về chuyến đi, anh nói thấy dân trên đó nghèo lắm trái ngược với những gì tôi đã ca ngợi với anh.

Dừng chân trước quán cà phê Tùng, tôi định vào uống cà phê chờ đến trưa sẽ trở lại khách sạn, xem giờ thấy còn quá sớm không thể ngồi lâu trong quán suốt mấy tiếng đồng hồ. Không định hướng, nhưng tôi đi về phía đường Hàm Nghi thì chợt nghĩ biết đâu chẳng gặp lại Trung, một thằng bạn học thời trung học, gia đình Trung sống lâu đời trên con đường này. Trên vai túi xách tôi đi qua nhà Trung thấy cửa đóng then cài, ngại ngùng không dám gõ cửa nên tiếp tục đi, đến gần cuối đường thì đã thấy thấp thoáng trường Bồ Đề. Tôi cũng có vài kỷ niệm vui khi đi học hè ở trường này vào những năm đầu học trung học. Vì trường gần đài phát thanh Dalat, giờ ra chơi tụi tôi thường lấy đồng bạc cắc một đồng có hình Tổng thống Ngô Đình Diệm bôi chút nước bọt rồi áp đồng tiền vào một trong bốn giây cáp giữ cột ăng ten của đài và kê sát tai vào có thể nghe được tiếng nói, cho đến ngày nay tôi cũng chẳng biết nguyên nhân vì sao nghe được. Một lần khác có đứa bạn trong giờ ra chơi, đứng trên hành lang của trường nhìn xuống thấy một anh cảnh sát đang đi trên đường, hai tay làm loa hắn kêu thật lớn: "Ê! Đầu đường xó chợ!" Anh cảnh sát tức tốc vào trường báo cho ông giám thị, không biết ông giám thị nói gì với anh ta, nhưng sau đó ông đi lên lớp tôi hỏi ai là người vừa có hành động trên, đứa bạn ngổ ngáo của tôi đứng ra nhận tội, tưởng sẽ bị la mắng nhưng ông chỉ khuyên đừng nên làm vậy, vì sự thật nhiều khi mất lòng!

Đến đây thì phân vân không biết nên đi tiếp hay quay trở lại, tôi nghĩ thật nhanh sẽ theo đường Võ Tánh xuống đến bờ hồ rồi trở lại Khu Hoà Bình. Con đường Võ Tánh giờ đây như có vẻ nhỏ hơn trong trí nhớ của tôi. Cũng chính con đường này lần đầu tiên trong đời tôi biết đi theo một nữ sinh trường Bùi Thị Xuân, nhưng không biết nàng học lớp mấy chỉ đoán là đệ tam trở lên, trong khi tôi đang học đệ nhất. Với nhận xét của một thanh niên mới lớn tôi thấy nàng đẹp tuyệt vời, tóc dài vai nhỏ, môi đỏ má hồng, tà áo vờn bay... Nhưng vì nhút nhát chỉ lâu lâu lén đón nàng tan học. Chẳng dám đi theo nàng một mình nên thường kéo thêm vài ba đưa bạn đi cùng, chúng nó thì bạo mồm bạo miệng đôi lúc nham nhở vô duyên. Sau này nghĩ lại, dưới mắt nàng chỉ là một lũ mất dạy không thôi. Hồi đó tôi can đảm đi một mình biết đâu đã nên chuyện. Ngay cả tên nàng là Phượng đến nay tôi vẫn còn hồ nghi, vì khi tôi nêu thắc mắc về tên nàng thì một thằng bạn đứng ra nhận sẽ đi điều tra, vài hôm sau nó cho biết tên là Phượng và chúng tôi gọi luôn mà không kiểm chứng đúng sai gì cả. Thuở đó tôi cũng mơ mộng nhiều lắm, mơ sao nhà nàng nhà tôi cách nhau cái dậu mồng tơi, mộng sao tôi và nàng đi chung một chuyến... xe đò... Ngày nay nghĩ lại thời tôi đi theo Phượng cũng vì ảnh hưởng phần lớn bởi các văn nhân thi sĩ, nhạc sĩ... Họ là những người có độ xúc cảm trên những người bình thường một chút, chứ con gái mà tóc dài thì đâu có chuyện gì là lạ , đàn bà nào mà vai chẳng nhỏ, gái Dalat cô nào mà chẳng có má hồng, áo dài nào mà chẳng bay theo gió... Vậy mà tôi đã mê mẩn suýt quên cả năm đó là năm thi quan trọng. "...Xưa theo Phượng về, mái tóc Phượng dài..." Bây giờ thì quả thật " ...Nay trên đường này đời như sóng nổi...." Sau này khi tôi đi học ở Sài Gòn thỉnh thoảng về thăm nhà, mấy đứa bạn cũ cho biết Phượng đang học sư phạm, còn phần tôi thì Sài Gòn có nhiều chuyện vui hơn nên cũng sớm quên "mối tình đầu." Cuộc đời dâu bể, không biết Phượng nay ở phương nào, nhưng bao giờ Phượng cũng là một bông hoa tươi thắm trong khu vườn kỷ niệm của tôi.

Khi lấy phòng trong khách sạn Mộng Đẹp, để chắc chắn tôi phải hỏi đi hỏi lại tôi ở ba đêm không có vấn đề gì chứ rồi mới về phòng. Phòng nằm trên lầu hai, đây là khách sạn mới xây dựng khoảng thời gian cùng với chợ Dalat, phòng ốc tương đối khang trang, mỗi phòng đều có ban công phía trước nhìn ra chợ Dalat, có lò sưởi trong mỗi phòng nhưng vì quốc doanh nên không mấy sạch sẽ, phòng vệ sinh hoen ố, nền gạch vách tường đều đầy những vết bẩn. Tôi nằm nghỉ trưa xong thì đi thăm người anh họ, con trai trưởng của ông bác đã đưa gia đình tôi đến Dalat năm xưa. Tên anh là An rất hợp với bản tánh chân chất an phận của anh. Nhà anh là một biệt thự song lập, trước đây thì gia đình an khang lắm, nhưng nay con cháu đầy nhà nên tôi ngại không muốn đến ở nhờ, anh cũng hiểu ngầm như vậy nên không đưa lời mời nào cả. Đến thăm anh chị vui vẻ đón tiếp và giữ tôi lại ăn cơm tối. Tất cả các người em của anh đều sống ở ngoại quốc, tôi thắc mắc sao anh không nói bảo lãnh cho anh đi, anh trả lời các con của anh nay đã có vợ chồng con cái cả rồi thêm nữa là anh muốn ở lại lo cho mồ mả cha mẹ, tôi hiểu anh đã chọn Dalat là quê hương của mình. Giòng họ nhà tôi có một nhánh đã bắt rễ ở Dalat, tự nhiên tôi cảm thấy vui vui.

Từ giã gia đình anh chị An cũng đã khuya, tôi nghĩ sẽ lên giường ngủ ngay vì cả ngày đi bộ khá nhiều. Nhưng rồi cũng trằn trọc không ngủ được nên lấy cuốn truyện ngắn mang theo đem ra đọc. Tôi chợp mắt lúc nào không hay chợt giật mình thức giấc vì có tiếng gõ cửa và cửa phòng mở tung ra ngay. Trước mặt tôi là một người mặc sắc phục công an, còn hai người kia mặc đồ dân sự. Ngơ ngác tôi hỏi các anh muốn gì, viên công an nói cho kiểm tra giấy tờ. Định phản đối thái độ bất lịch sự nhưng tôi tự chủ lại, quãng đường Saigon -Dalat vừa qua cho tôi quá nhiều bài học, âm thầm lấy giấy tờ đưa cho viên công an, hắn coi lướt qua rồi trả lại ngay và quay lưng đi ra cùng với hai người dân sự. Buồn bực, tôi mặc áo lạnh rút điếu thuốc mở cửa ra hành lang phía sau đứng hút thuốc và xem chúng nó làm gì, nhưng không thấy ai ngoài một thanh niên trẻ cũng đang đứng hút thuốc, thấy tôi anh ta tiến lại làm quen.

- Anh vừa bị khám giấy tờ phải không? 

Tôi thở dài: Phải, còn anh?

- Tôi bị khám hôm qua rồi, tụi nó là một thằng công an và hai thằng dân phòng, khi thấy trong danh sách ở khách sạn có thanh niên độc thân là tụi nó nghi thanh niên này có đem theo em út gì đó, tụi nó lấy chìa khoá phụ xông vào, nếu đúng là có em út thì bắt làm biên bản về tội quan hệ nam nữ bất chính, rồi hù doạ sẽ gởi biên bản về địa phương... , nhưng chủ yếu là làm tiền, chi ra một ít là xong tất cả.

Tôi hỏi anh sao biết như vậy , anh ta trả lời :

- Tôi là nạn nhân mà, tôi từ Cần Thơ đưa vợ con lên Dalat chơi cho biết, khi vào hỏi thuê phòng, nó đòi vợ chồng tôi trình giấy hôn thú hoặc phải có khai sinh của con mới được thuê một phòng, nếu không thì phải thuê hai phòng, tôi một phòng và vợ con tôi một phòng. Tôi hỏi anh đi chơi ai mang hôn thú làm gì, còn con thì mới bốn tuổi mang khai sanh làm chi, không cãi được tôi đành phải thuê hai phòng. Nhưng tối tôi qua ngủ với vợ con tôi thì bị tụi nó vào làm khó dễ, tức mình tôi nói muốn làm bao nhiêu biên bản tôi cũng ký và đi tới đâu tôi cũng đi. Cuối cùng tụi nó thấy ăn không được gì bèn ra giọng tử tế lần này tha nhưng lần sau phải nhớ mang theo giấy tờ!

Chúng tôi còn trao đổi với nhau vài ba câu chuyện rồi chia tay. Trở lại giường tôi không làm sao nhắm mắt lại được, trăn trở vì những chuyện nằm ngoài sức tưởng tượng của mình. Đến gần sáng tôi mới ngủ thiếp đi, khi thức dậy mặt trời đã lên cao. Trời mùa đông Dalat se lạnh nhưng thật đẹp, nền trời trong xanh điểm vài cụm mây trắng. Tôi ra phố tìm chỗ ăn sáng và như dự đinh, hôm nay tôi sẽ về thăm lại căn nhà xưa với nhiều kỷ niệm lưu luyến. Khi ngồi trên xe đò, tôi mới nảy sinh ý nghĩ sẽ xuống xe tại ngôi trường cũ, ngôi trường lần đầu tiên tôi vào lớp năm tức lớp một bây giờ, rồi từ đó theo con đường xưa trở về nhà cũ như thuở mới lên năm lên mười. Xuống xe nhìn cảnh vật không khác xưa nhiều lắm dù đã hơn hai mươi lăm năm trôi qua, chỉ có cánh rừng bên hông trường nay đã xây thêm vài ngôi nhà. Cổng trường với hai cánh cửa lớn ngày nay như nhỏ lại, bảng tên trường được dựng trên hai trụ cổng đã bạc màu sơn, mái trường bằng ngói đỏ nay đã hoen màu và loang lổ những đám rêu xanh, tường vẫn quét vôi màu vàng nhạt và cửa vẫn màu nâu đỏ nhưng chắc đã lâu không được sơn quét lại. Tôi đứng trước cổng trường, nhớ bà cụ già ngồi bán hàng quà cạnh cổng trường chắc nay đã là người thiên cổ. Sân trường trong giờ học nên vắng lặng, nhìn căn phòng học đầu tiên của tôi mà trong lòng thấy nao nao nhớ ngày mẹ tôi đưa tôi tới trường. Hai chữ đi học không xa lạ gì với tôi, vì trước khi chính thức vào trường tiểu học, tôi đã được gởi đi học một vài trường lớp khác như trường của các bà sơ, hay tư thục... Nhưng lần này, trước khi nhập học mẹ tôi đã lo may cho tôi mấy bộ quần xanh áo trắng, sắm bút chì bút mực, thước kẻ, cục tẩy và hai cuốn vở được bao giấy bóng mờ, bên ngoài còn có nhãn đề tên trường, tên học trò rồi lớp và niên khoá, tất cả được đặt trịnh trọng vào trong chiếc cặp bằng da bò mới tinh còn thoang thoảng mùi da thuộc, vì vậy trí óc thơ dại của tôi đâm ra hoang mang không ít. Sáng ngày khai trường, mẹ tôi gọi tôi dậy sớm hơn bình thường, cho tôi ăn sáng và thay quần áo giày vớ, tóc được chải rẽ hàng ngôi đàng hoàng, sau đó “Mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi ..." dắt ra xe để ba tôi đưa hai mẹ con đến trường. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, mẹ đưa tôi vào lớp học rồi đứng trước hiên trường chờ đến khi tiếng trống bắt đầu giờ học, một lần nữa mẹ tôi đi vào chỗ tôi ngồi và nói nhỏ nhẹ: "Con ngồi học nghe, khi nào tan trường thì mẹ đến đón." Tôi nhìn theo mẹ đi băng qua sân và từ từ ra khỏi cổng trường. Ngày đó mẹ tôi phải còn trẻ lắm, dáng người lại nhỏ nhắn, nhưng sao tôi thấy bóng người lớn quá. Mẹ đã đi khuất sau hàng rào nhưng tôi vẫn cố nhìn theo cho đến khi cô giáo vào lớp mới ngồi lại ngay ngắn. 

Con đường về nhà cũ vẫn như xưa, cây cỏ hai bên đường dường như không có gì thay đổi, vẫn mấy cây hoa ngũ sắc mọc hoang, những cây cỏ đuôi gà mà bọn nhỏ chúng tôi thường ngắt chơi dường như trường tồn với thời gian, mọc lẫn vào đám cỏ tranh thâm thấp. Chân bước đều mà tâm trí miên man nhớ những ngày tháng hồn nhiên ngây thơ thuở ấy, căn nhà xưa đã hiện ra trong mắt. Đây là một biệt thự loại trung bình, chung quanh có sân rộng và phía sau nhà là một dãy hai phòng nhỏ với nhà để xe. Nhà trông cũng vẫn như xưa, chỉ có hai cánh cổng khi trước bằng gỗ nay đã thay bằng sắt. Tôi đứng lặng nhìn mà tâm hồn xao xuyến, cuộc đời đổi thay nào ai biết trước được tương lai. Khi đi học hay khi đi làm xa, bao giờ tôi cũng có ý nghĩ sẽ trở về sống trong ngôi nhà này cho đến hết cuộc đời, nay nó không còn trong tầm tay nữa. Đang suy nghĩ mông lung thì có tiếng người hỏi: 

- Anh muốn tìm nhà ai? 

Tôi quay người lại thì gặp một bà trọng tuổi, nhìn trang phục và cách phát âm của bà tôi đoán bà là người Bắc trước 1975 vì vậy tôi cũng hơi yên tâm trả lời:

- Dạ thưa tôi không tìm ai cả.

Nhưng rồi sợ bà nghi ngờ mình có ý gian vì rõ ràng đang đứng quan sát nhà bà, tôi đành thú thật.

- Thưa, chẳng giấu gì Bác, trước đây cả mười năm gia đình tôi ở đây, nay có dịp về lại Dalat tiện thể ghé qua nhìn lại căn nhà cũ thôi.

Bà ngập ngừng một vài giây rồi hỏi lại ngay:

- À !Vậy anh đây là con cụ Quản?

- Dạ thưa phải ạ! Vậy bác có biết ba mẹ cháu?

- Thì tôi mua lại nhà này của hai cụ mà! Mời anh vô nhà nghỉ chân uống nước đã, tôi mới đi chợ về được gặp anh ở đây cũng là cái may.

Rồi không đợi tôi trả lời bà bước tới vói tay mở cổng đồng thời hỏi luôn:

- Thế hai cụ cũng khoẻ mạnh cả chứ?

- Vâng , cám ơn bác ,ba mẹ cháu vẫn khoẻ ạ!

Mở xong cửa bà nói thêm:

- Đây, mời anh vào chơi, đừng ngại gì cả, tôi gặp được hai cụ đôi ba lần thôi mà rất có cảm tình, tiếc là hai cụ bán nhà xong là về Sài Gòn chứ còn ở đây thế nào tôi cũng xin được kết thân.

Tôi ngần ngại đi theo bà vào nhà, bà mở cửa trước rồi chỉ tay về phía phòng khách mời tôi ngồi, tôi cám ơn bà và bước vào ngồi xuống ghế trong khi bà đi vào nhà bếp. Ngồi nhìn quanh, thấy tường nhà đã được quét vôi màu xanh nhạt, khác với màu cũ khi gia đình tôi ở, cách bày biện không khác nhiều. Cái bàn ăn lớn trong phòng ăn đã có từ lúc gia đình tôi dọn đến đây rồi khi bán nhà để lại thì vẫn còn đó. Lò sưởi trong phòng khách lúc gia đình tôi còn ở thường hay sử dụng trong mùa lạnh nay có vẻ không dùng vì rất sạch sẽ, có phải bây giờ là thời gạo châu củi quế chăng!

Bà chủ nhà bưng ra cho tôi một tách nước trà mời tôi uống, bà cũng ngồi ghế bên cạnh bắt đầu nói chuyện. Dù chỉ mới gặp lần đầu bà đã coi tôi như người tri kỷ, kể cho tôi nghe những chuyện vui buồn từ ngày về ở căn nhà này cũng như những khó khăn khi sống dười chế độ mới, những ưu tư của bà cho tương lai... Tôi cảm thông tâm trạng của bà, bà cũng như nhiều người miền nam sau ngày 30-4-75. Khi cuộc sống nhiều ngờ vực và đầy cạm bẫy, người ta chỉ còn cách tìm lại các bạn cũ để tâm sự hay gởi gấm nhưng ý nghĩ riêng tư. Qua câu chuyện tôi được biết bà ở đây với vợ chồng người con trai của bà đều là giáo viên cùng với hai đứa cháu nội, chồng bà mất đã lâu. Sau khi nói chuyện được một lúc, bà xin phép tôi đi vào bếp có chút chuyện và nói tôi tự nhiên đi xem lại nhà, trong ngoài gì cũng được. Tôi nghĩ bà phải lo bữa ăn trưa và cũng không muốn quấy rầy bà, định kiếu từ đi về nhưng nghe bà cho phép đi xem nhà, tôi muốn nhân tiện ra vườn xem lại những dấu vết tuổi thơ của tôi, trong nhà bất tiện hơn vì phòng ốc trong nhà tôi biết cả rồi, nay lại là chốn riêng tư, tôi nói:

- Dạ, không dám làm phiền bác nhiều, cháu chỉ xin ra ngoài sân coi lại một chút thôi. 

Hai bên hông nhà vẫn còn những bồn hoa được bọc bằng những viên gạch vuông như ngày nào nhưng không nhiều hoa hơn xưa, có lẽ ít được chăm sóc. Trước nhà là hồ nước nhỏ có vòi phun và hòn non bộ do ba tôi làm vẫn còn đó, nơi đây anh em tôi hay xếp giấy làm thuyền thả trên mặt nước hoặc nuôi cá. Tôi lần ra sau nhà rồi đi về phía nhà để xe, chiếc vòi nước bên vách ngoài trên nền xi măng rộng cỡ hơn một mét vuông vẫn còn, đây là nơi anh em tôi hay sử dụng những khi nghịch ngợm chân tay dơ bẩn. Bên bờ tường rào có một lỗ hổng tôi thường cất giấu những thứ đồ chơi nguy hiểm mà cha mẹ không cho chơi, tôi bước tới nhìn vào tìm thấy cái van xe đạp và một cái đinh rỉ sét, đây là món đồ chơi thay pháo trong những ngày Tết. Lấy van xe cột thêm vài sợi lông gà và gỡ đầu diêm quẹt cho vào trong van xe, xé một chút giấy có diêm sinh ở ngoài bao bỏ thêm vào, nhét cây đinh cắt phẳng đầu rồi tung lên cao, khi rớt xuống đầu đinh nén mạnh làm cháy diêm trong van xe và phát ra tiếng nổ. Liếc nhìn sau nhà xe, tôi gặp xác một chiếc xe đạp cũ đã rỉ sét, nhớ ra đây là chiếc xe mà ba tôi đã mua cho tôi khi lên bảy tám tuổi. Không biết ba tôi đã mua lại của ai chiếc xe này, chỉ biết ông đã mang theo khi đi làm về. Chiếc xe rất đẹp, là loại xe đạp nhỏ rất vừa với tuổi của tôi. Tôi đã không sử dụng được lâu chiếc xe này vì khi vỏ xe bị hư thì mới biết không thể tìm ra loại nào khác thích hợp để thay thế, do đó phải treo nó trong nhà xe, hy vọng tìm được vỏ mới đúng kích cỡ. Nhưng rồi tôi lớn theo thời gian mà vỏ xe vẫn không có nên sau này dọn dẹp nhà xe đã đưa nó ra đây. Với chiếc xe này tôi đã đạp đi chơi khắp nơi, có lần hẹn với thằng bạn gần nhà cùng nhau đạp xe qua tận hồ Mê Linh để đến nhà một đứa bạn cùng lớp. Thuở đó còn nhỏ nhưng khi đứng trước nhà thằng bạn là một trong những biệt thự ở chung quanh hồ tôi đã thấy cảnh ở đây đẹp lắm, không khác những tấm hình chụp trong các tạp chí Pháp. Chỉ tiếc về sau này vì không được tu bổ nên hồ Mê Linh đã cạn dần, cũng như hồ Vạn Kiếp, ngày nay chắc không còn trên bản đồ Dalat nữa. Nhìn lên cửa sổ trên lầu, tôi lại nhớ căn phòng xinh xắn, giang sơn của tôi một thời gian dài. Trên lầu có ba phòng ngủ, phòng phía trước là của ba mẹ tôi, phòng sau là của tôi và phòng nhỏ nhất của em tôi. Vì nhà xây theo kiểu Tây cổ, vách tường thật dày nên lúc nhỏ tôi có thể leo lên thành cửa ngồi chơi hay đọc sách. Nhìn ra cửa là cánh rừng thông trải dài thoai thoải xuống sườn đồi, những ngày mưa bão tôi thường ngồi nhìn những hạt mưa hắt vào cửa kính, những hôm trời lạnh hà hơi thở trên kính để có một lớp sương mỏng rồi lấy tay vẽ nguệch ngoạc, hay những buổi sáng sương mờ bao phủ trắng xoá chỉ còn nhô lên vài ngọn cây cao, cảnh lúc đó đẹp như những bức tranh vẽ cảnh bồng lai. 

Thuở ấy không gian của một đứa trẻ học tiểu học như tôi nhỏ bé lắm, chỉ có gia đình và trường học cùng với mấy đứa bạn thôi. Ngoài giờ học, tôi thường rủ bạn bè về nhà, lúc thì leo lên trần nhà bắt chim non hay ra sau vườn tìm hang dế, xách nước đổ vào cho đến khi dế ngộp thở phải chui lên thì bắt. Hôm nào trời mưa gió không ra sân chơi được thì xuống tầng hầm phá phách, kiếm những bạc đạn cũ gắn vào miếng ván, thế là có chiếc xe cho mấy đứa bạn thay nhau đẩy chạy ồn ào cả nhà, vì vậy chỉ chơi những khi ba tôi đi vắng. Thời thơ ấu của tôi thật hạnh phúc, trong nhà đầm ấm ngoài xã hội không nhiễu nhương, nếu có cũng không ảnh hưởng sâu đậm như ngày nay. Tâm hồn tôi vô tư và cuộc sống êm đềm quá, lòng tôi tràn dâng một nỗi xót xa và nuối tiếc.

Tôi vào nhà cám ơn sự tiếp đón ân cần của bà chủ và xin phép đi về, bà cho biết con trai của bà chút nữa sẽ về và thành thật mời tôi ở lại dùng cơm trưa cùng con trai của bà cũng để con bà được làm quen với tôi, nhưng tôi từ chối lấy cớ đã có hẹn ăn cơm với bạn. Trước khi bước ra khỏi cổng, bà không quên gởi lời thăm cha mẹ tôi. Tự nhiên tôi cũng cảm thấy gần gũi với bà và tiếc là đã chối từ bữa cơm, nhưng lỡ rồi đành chia tay và hẹn sẽ có dịp khác đến thăm bà.

Buổi chiều tôi đi qua cầu Ông Đạo dọc theo bờ hồ hướng về nhà Thuỷ tạ, trời không gió nên mặt hồ Xuân Hương phẳng lặng. Ngày xưa mỗi buổi sáng tôi đều đạp xe đi học ngang qua hồ này. Vào những ngày lạnh lẽo, nước trong hồ bốc hơi nhưng gặp lạnh tạo nên một lớp sương mờ bao phủ cả mặt hồ, đẹp vô cùng. Những ngày sương mù dày đặc cách xa ba bốn mét không nhìn thấy gì, đi từ nhà đến trường thì đúng với nghĩa tóc đã điểm sương. Lúc tôi rời Dalat thì nhà Thuỷ tạ chưa là quán cà phê như ngày nay, bên trong trống vắng chỉ vài phòng thay quần áo. Bọn chúng tôi thích ra đây tắm, phía sau có tháp nhỏ nhiều bậc, một vài đứa bơi giỏi thường leo lên tầng cao nhất đưa hai tay thẳng lên trời, nghiêng người phóng từ trên xuống, còn tôi và những đứa khác chỉ tầng thứ nhất mà nhảy thì co hai chân lên để rớt tự do xuống nước. Tôi vào nhà Thuỷ tạ kiếm một chỗ ngồi sát cửa sổ, gọi một ly cà phê rồi đốt thuốc là nhìn cảnh vật chung quanh, bên kia là đồi Cù, xa hơn nữa là Viện Đại học Dalat, bên phải thấp thoáng tháp trường Yersin, sau lưng là Hotel Palace... Nơi đâu cũng có bóng dáng kỷ niệm một thời.

Quán cà phê Tùng là nơi tôi cùng mấy đứa bạn học làm người lớn, chúng tôi kéo nhau vào đây gọi cà phê và hút thuốc lá. Nhớ ngày đó uống cà phê chưa phân biệt ngon dở ra sao, thuốc lá cũng không dám rít mạnh sợ sặc khói thuốc. Tối nay tôi ngồi trong quán nhớ lại đám bạn bè mà nay mỗi đứa một phương trời, những "Hồn ma cũ" * như hiện diện đâu đây, tôi hình dung chỗ này đứa này, chỗ khác đứa kia, những cái đầu tóc còn xanh chụm vào nhau nói chuyện tóc đen tóc bạc rồi cười khúc khích... Tôi ngẩn ngơ luyến tiếc một quãng đời tươi đẹp mỗi ngày một xa. Đang thả hồn về dĩ vãng thì thấy có ba thanh niên xuất hiện trước cửa, họ bước vào quán nhìn quanh rồi tiến lại chỗ tôi ngồi, một gã cuối xuống lấy bao thuốc lá và hộp quẹt gaz tôi để trên bàn, tự nhiên chia cho hai gã kia mỗi người một điếu, bật quẹt mồi thuốc xong thì cất vào túi rồi cùng nhau đi ra khỏi quán. Tôi im lặng nhìn theo hành động của ba người thanh niên, trong lòng bình thản như chẳng có chuyện gì. Nhưng một lúc sau tôi mới giật mình, không lẽ chỉ có mấy năm thôi mà tôi đã quen thuộc với những gì xấu xa tệ hại, chấp nhận nó như là những chuyện bình thường hay sao! Chỉ mấy năm thôi! Kinh khủng quá! Tôi bỏ dở ly cà phê đứng dậy ra về , lúc này tôi mới cảm thấy xót xa .

Có lẽ hai lần uống cà phê làm tôi khó ngủ, nằm đọc hết mấy truyện ngắn cũng không làm mỏi mắt, tôi tắt đèn nhắm mắt cố dỗ giấc ngủ nhưng những hình ảnh ghi nhận được trong mấy ngày qua cứ như khúc phim được chiếu đi chiếu lại, khiến tôi phải suy nghĩ nhiều.

Thế rồi trong không gian im lặng vang vọng tiếng gõ đều đều, tiếng càng lúc càng gần hơn. Tôi ra khỏi giường bước ra cửa sổ nhìn xuống đường, xa xa dưới ánh đèn vàng vọt là một chiếc xe ngựa chở rau ra chợ. Xe ngựa đã biến mất khỏi Dalat có đến hơn hai chục năm nay, đời sống đang đi lùi lại quá khứ. Nằm lại giường lắng nghe tiếng chân ngựa chậm rãi đều đặn trên đường, âm thanh trong đêm vắng gợi lên một cái gì thật xa xôi và buồn bã. Tôi chợt tưởng tượng đến chiếc xe ngựa của chàng David trong truyện của nhà văn Thuỵ Điển Selma Lagerlưp, chiếc xe của chàng đi gom nhặt xác chết cho thần chết; rồi đâm ra ngại ngùng vì quanh đây cũng có nhiều sinh linh đang thoi thóp vì đời sống nhọc nhằn khổ đau này. 

Buổi sáng tôi đem giấy nghỉ phép ra sở Công an chứng nhận ngày rời Dalat để hôm sau về lại Sài Gòn. Một ngày dài còn lại tôi đi lang thang vô định trong thành phố, nhớ nhiều quá khứ thì cũng thổn thức cho hiện tại và lo lắng cho tương lai. Có nơi nào bình yên để về? Hay phải có hành động như người đàn bà trong câu chuyện cổ "Hà chính mãnh ư hổ" của Trung Hoa, tìm một chốn trong rừng vắng sống với thú dữ còn hơn! 

Dalat mãi mãi là của tôi, nhưng là Dalat của những ngày xa xưa ấy!

Lập đông 04

* Tên một truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét