Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2018

Ts Nguyễn Hữu Phước: CHỮ SỐ HÁN VIỆT CHỈ SỐ 1, 2, &10


Chữ số Hán Việt với những tiếng đi kèm (cũng là Hán Việt) đã giúp cho ngôn ngữ Việt phong phú thêm nhiều lắm.Chúng ta đi vào chi tiết những chữ số Hán Việt liên quan và chi phối ba chữ số VN:Số một, số hai, và số mười. Ba chữ số nầy có nhiều chữ số HV khác âm nhưng đồng nghĩa.

CHỮ SỐ HÁN VIỆT CHỈ SỐ 1

Hán Việt liên hệ đến số 1: Độc, đơn, nhất, .

Độc = Một

Có 14 chữ HV đồng âm “độc” và có nhiều nghĩa khác nhau (từ nhiều chữ Hán khác nhau như đã nói trên).Sau đây là vài chữ “độc” thường dùng như: “độc” = tên một loài vượng; “độc” = ác hại; độc = nhìn chữ trong sách (đọc truyện, đọc sách) và độc = một mình.


Ví dụ:
Độc huyền cầm = đờn độc huyền = đờn một dây, còn có tên là đờn bầu, đờn gáo. Đây là một trong những cây đờn dùng trong “cổ nhạc”.

Ca dao:
Độc huyền hòa với đờn tranh,
Em có chồng phụ nghĩa với anh, anh buồn.

Đờn độc huyền nhỏ tiếng kêu thanh,
Anh bỏ em cưới vợ sao đành. . .

 Đành thôi dứt sợi tơ mành,
 Bậu ôm cây đờn độc để dành phiêu diêu.

Ngoài ra còn nhiều chữ kép, chữ ba liên hệ với độc = một:

Độc ẩm (uống một mình); độc ẩm bình (bình trà nhỏ đựng ít nước chỉ đủ một người uống); độc chiếm; độc cước (một chân); độc thủ (một tay); độc đoán = độc tài; độc lập; độc nhãn (một mắt); độc tấu (đàn một mình); độc thân; độc tôn (riêng được mọi người tôn sùng) v.v.

Chúng ta cũng có một số thành ngữ:

Độc nhất vô nhị (= có một không hai); độc hạc tại kê quần = một con hạc trong bầy gà = người nổi bật trong nhóm; độc thư tam đáo = có 3 cách đọc sách: miệng, mắt và lòng mình; độc thủ nan giá thiên = một bàn tay không che được trời = một mình không thể làm nên việc to lớn.

Đơn = Một

Chữ “đơn” tương đối ít phức tạp hơn chữ “độc” và chữ “cô”. Trong Hán Việt chỉ có 3 chữ đơn: a) đơn = đan = một trong bốn loại thuốc: cao (thuốc dán = medicinal plaster), đơn (thuốc thang = medicament by prescription), hoàn (thuốc viên = pill), tán (thuốc bột = medicinal powder);b) đơn =áo không có áo lót;và c) đơn liên hệ đến số “một” hay “một mình”.

Chúng ta có những chữ đôi sau đây có chữ “đơn” đứng đầu, là những chữ đã được Việt hóa trọn vẹn, và được dùng nhiều trong thơ văn và ca dao:
Đơn côi = đơn chiếc = đơn độc = đơn bạc = đơn lẻ = chỉ có một mình.

Nhất Tuấn trong bài Kỷ niệm buồn đã viết:
Hoa bướm ngày xưa vỡ mộng rồi,
Lòng anh mãi mãi vẫn đơn côi.

Lạc Phong Tiên Sinh (Viết trong đơn côi):
Bờ cát trắng trải dài niềm đơn độc,
Đợi chờ ai mà trắng xóa bơ vơ.

Quang Dũng với nỗi quạnh hiu trong bài Trắc ẩn:
Người đi mang nửa hồn đơn lẻ,
Tôi về hoài vọng một đôi câu.

Ca dao:
Ngó lên hương tắt đèn mờ,
Tấm thân đơn bạc biết nhờ cậy ai.

Anh ơi phải lính thì đi,
Ở nhà đơn chiếc đã thì có em.

Trong văn xuôi chúng ta dùng nhiều “chữ kép” hoặc “chữ ba” và những chữ nầy cũng có thể coi như là đã được Việt hóa: Đơn âm; đơn ca; đơn canh (trồng một loại thực vật trong nhiều mùa); đơn cử; đơn danh; đơn điệu; đơn giản; đơn phương; đơn thuần;đơn vị v.v.

Chúng ta còn có một số chữ HV, và vài thành ngữ HV có chữ đơn:Đơn diệp (một lá = chữ trong thực vật chỉ loài cây mà mỗi lóng (mắt) chỉ có một lá như cây ổi); đơn tử diệp (loại cây có hột, khi hột nẩy mầm chỉ có một lá, khác với “song tử diệp” = hột nẩy mầm có 2 lá); đơn thân độc mã = một mình một ngựa (chỉ một người can đảm thời xưa, một mình một ngựa dám xông ra chiến trường);(HV) đơn khâm cô chẩm =(Việt) chăn đơn gối chiếc = chỉ vợ chồng xa nhau, nằm ngủ một mình = cũng chỉ những người còn độc thân phải ngủ một mình (thành ngữ HV ít thấy dùng trong văn chương Việt

Nhứt hay Nhất () = Một

Có 3 chữ đồng âm “nhứt” trong tiếng Hán Việt.Nhưng hai chữ không có gì đáng cho chúng ta chú ý.Chỉ có chữnhứt = một, rất là phổ thông trong ngôn ngữ VN.Vì nhứt là chữ Hán Việt nên tất cả những chữ đôi có chữ nhứt đều là HV.
Ca dao VN tuy ít dùng chữ Hán Việt hơn bất cứ thể văn nào khác, nhưng cũng có vài câu có chữ nhứt:
Thương chàng trầu hết lá lươn,
Cau hết nửa vườn, cha mẹ chưa hay.
 Dầu mà cha mẹ có hay,
Nhứt đánh, nhì đày, hai lẽ mà thôi.

Tay cầm dĩa muối sàng rau,
Thủy chung như nhứt sang giàu mặc ai.

Thuyền dời nào bến có dời,
Khăng khăng một lời quân tử nhứt ngôn.

Sau đây là một số thành ngữ VN có chữ “nhứt”:

Nhứt cử lưỡng tiện = làm một việc được hai kết quả (tương đương bên tiếng Anh: kill two birds with one stone = dùng một hòn đá mà giết được hai con chim).
Nhứt cử nhứt động = Mỗi cử chỉ, mỗi động tác (chỉ việc bị theo dõi chặt chẽ, hoặc hành động thật cẩn thận trong mỗi cử chỉ).
Nhứt Đồng Nai, nhì“hai Huyện”: Ngày xưa khi khai khẩn vùng Đồng Nai, thì người Việt khám phá ra là đất vùng nầy màu mỡ nhất, hơn cả đất nổi tiếng phì nhiêu ở vùng “hai huyện” Phong Lộc và Quảng Ninh thuộc tỉnh Quảng Bình (2).
Nhứt gốc ao, nhì giao đình:Theo tin tưởng ngày xưa ở VN, hai điều phải tránh khi cất nhà là “gốc ao” và “nơi có hai mái của nhà khác” hướng về phía nhà mình sắp xây.
Nhứt nghệ tinh nhất thân vinh = chỉ cần giỏi một nghề thì đủ vinh hiển tấm thân mình.Nhứt điểu, nhì ngư, tam xà, tứ tượng = nói về tốc độ, chim nhanh nhứt và voi hạng chót.
Nhứt mực, nhì vàng, tam khoang, tứ đốm = đây là cách sắp hạng ngon, dở của thịt chó, theo các nhà sành ăn thịt chó.

Có nhiều “chữ đôi” hay “chữ ba” của VN đi với chữ “nhất”:

Nhứt định, nhất quyết, nhứt loạt; nhứt tâm (một tim) = nhứt tề = cùng một lòng = đồng lòng; nhứt thiết (tất cả như một); nhứt thời (tạm trong một lúc, không lâu dài); nhứt trí.

Vài tiếng đôi có chữ “nhất” đứng sau:

Đồng nhứt; hợp nhất; nhất nhất = một một = mọi người đều đồng ý, đồng lòng; thống nhứt = gom về một mối.
Trong chữ Việt còn có nhiều tiếng đôi hay thành ngữ Hán Việt có chữ “nhứt”, mà nghĩa có nguồn gốc Tàu:

Nhứt diện = một mặt = một khía cạnh nào, một phương diện rõ ràng; nhứt sinh = một đời (người) từ sinh ra cho đến khi chết; nhứt nguyên luận = Thuyết cho rằng bản thể của vũ trụ là duy nhất; nhứt đẳng thân = thân thuộc cấp một = sự liên hệ giữa cha mẹ và con cái là sự liên hệ hàng đầu.

Nhứt đao lưỡng đoạn = một đao, (chặt ra) hai khúc = một hình phạt xử chém ngày xưa;nhứt hô bá ứng (nhất hô bách mặc) = một tiếng hô lên, trăm tiếng dạ; nhất lưu vô hóa = hạng trên hết không có gì bằng = thượng hảo hạng (Quảng đông: dách lầu mậu phô); nhứt nhật thiên lý = một ngày ngàn dặm = chỉ sự tiến bộ vượt bực;nhứt nhật tam thu = một ngày (dài như) ba năm; chỉ giờ tâm lý thấy một ngày dài lắm trong khi mong đợi gặp mặt nhau giữa hai người thân thương; nhứt phu nhứt thê = (chế độ) “một chồng một vợ” (đối lại với chế độ “đa thê” (= nhiều vợ),của thời xưa.
Nhứt khắc thiên kim = một khắc ngàn vàng = thời gian rất quí báu; nhứt tự thiên kim = một chữ ngàn vàng = chỉ văn chương hay tuyệt; nhứt tiếu thiên kim = một nụ cười (đáng giá) ngàn vàng = nụ cười tuyệt đẹp, hay nụ cười của người đẹp có ảnh hưởng thật tốt (trong việc ngoại giao).

Tản Đà (Đời đáng chán):
Gái khuynh thành nhất tiếu thiên kim.

Nhứt ngôn ký xuất, tứ mã nan truy = một lời nói ra bốn ngựa không theo kịp = lời nói đáng tin cậy, hay phải thi hành những gì mình hứa; Nhứt tự vi sư, bán tự vi sư = (dạy) một chữ là thầy, (dạy) nửa chữ (cũng) là thầy = trọng sự học, trọng người dạy học dù chỉ học nơi thầy một chút hiểu biết.
Nhứt cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc (Lý Diên Niên), (có bản chép là "Nhất tiếu"... "tái tiếu"...), = một cái nhìn làm nghiêng thành, hai cái nhìn làm nghiêng nước (hay một cái cười... hai cái cười...), có nghĩa cái nhìn (hay cái cười) của người con gái đẹp khiến vua chúa phải say mê đến nỗi mất thành mất nước (cùng nghĩa với câu thơ của Tản Đà).
Nhứt tướng công thành vạn cốt khô = khi một vị tướng thành công có nghĩa là hàng vạn người đã chết từ lâu (xương đã khô) cho sự thành công đó.

= Một

Trong tiếng Hán Việt có 23 chữ đồng âm “cô” với 23 nghĩa chánh khác nhau (và vài chữ còn có nhiều nghĩa khác nữa) do nơi 23 chữ viết khác nhau trong tiếng Tàu (Hán).Chúng tôi chỉ kể ra đây một số nhỏ mà thôi.
Cô” = mua;“cô” = có tội; “cô” = bình đựng rượu, cái thẻ tre; “cô” = tên một loài chim; “cô” = xương khô; và “cô” * = a) người con gái chưa chồng;b) = chị hay em của cha (*chữ “cô” nầy đã hoàn toàn Việt hóa);và sau hết là “cô” = a) con có cha chết (con chết cha),= một, một mình;b) = phụ phàng;c) = lời nói khiêm nhường của những bậc quân vương thời xưa.

Viết ra đây để thấy rằng trong cái phong phú, có cái rắc rối. Phong phú và rắc rối đều nơi kho tàng Hán Việt mà ra.Mỗi chữ “cô” trên đều có kèm theo nhiều chữ đôi và mỗi “chữ đôi” lại có nghĩa khác nhau. Vì vậy rắc rối kèm theo khi chúng ta học hỏi về nghĩa của mỗi chữ đôi.
Trong phạm vi bài nầy, chúng ta chỉ tìm hiểu nhiều hơn về chữ “cô” liên quan đến chữ “một” hay “một mình” mà thôi.

Cô độc = cô đơn = cô liêu = cô quạnh = cô tịch = chỉ một mình, có ngầm chứa tình cảnh buồn.

Huy Cận trong bài Trường giang có câu:
Nắng xuống chiều lên sầu chót vót,
 Sông dài trời rộng bến cô liêu.

Tạ KýtrongBài thơ viết trước khi Anh về:
 Đóa mộng vàng son rã cánh bên thềm,
Tôi cô độc bước chân về nghĩa địa.
 . .Ai vuốt tóc em chiều mưa rả rích?
Ai hôn mắt em gợi niềm cô tịch?

Xuân Diệu (Lời kỹ nữ):
 Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời,
 Khách không ở lòng em cô độc quá.

Cô đơn, cô miên (giấc ngủ một mình, chỉ người không chồng hoặc không vợ) cũng được nhiều nhà thơ chiếu cố:
Huy Lực (Cuộc đời ôi tuyệt đẹp):
Nắng nhảy múa trên thềm,
Những người đi qua cửa,
Đời không còn cô đơn.

Quách Thoại (Trăng thiếu phụ):
 Tim cô đơn chưa một lần ấm sưởi,
Hoàng hôn về ta lạc giữa mù sương.

Hương Thủy(Đêm mưa nhớ bạn):
 Mưa gió đêm nay lạnh quá nhiều,
Thư phòng thêm cả nỗi cô liêu.

Thi sĩ Trần Hồng Châu (Nửa khuya giấy trắng):
Vắng em nương bóng tạc hình,
Rưng rưng lệ sáp bên mình cô miên.

Ca dao miền Đồng Nai Cửu Long có câu:
Buồn thay một giấc cô miên,
Rong rêu dòng nước, buồn phiền lợi danh.

Cô phòng = một mình, chỉ đàn bà góa (ở trong phòng một mình).
Ca dao:
Người đi sương gió lạnh lùng,
Người về trong cảnh cô phòng quạnh hiu.

Cô thôn = xóm vắng.Bà Huyện Thanh Quan:
Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng mục tử lại cô thôn.

(mái = mái chèo; mục tử = người chăn trâu; lại = trở về).

Thêm vào còn có một số thành ngữ liên quan đến chữ cô = một, nhưng đa số không được thông dụng, trừ thành ngữ cô nhi quả phụ (= con mồ côi, mẹ không chồng):

Cô hạc xuất quần = một con hạc bay ra khỏi bầy, cũng có nghĩa người trội hơn hết trong nhóm; cô nhạn thất quần = con nhạn lạc bầy; cô thân chích ảnh = một mình một bóng, lẻ loi; cô thụ bất thành lâm = một cây không làm nên rừng = một người không làm nên chuyện lớn. 

(Còn Tiếp)

Sách tham khảo: Ở cuối bài chót của loạt bài
VIỆT THUẦN VÀ HÁN VIỆT TRONG CON SỐ VN



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét