Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2018

Đào Như: Đọc CHỈ MỘT LẦN SỐNG của PHẠM XUÂN TÍCH



Chỉ Một Lần Sống - đó là tiêu đề Phạm Xuân Tích tự đặt cho mình, tự bủa vây mình, phải giải trình cho bằng được. Phạm Xuân Tích vung bút vạch mây, xẻ sóng để trực diện với chủ đề. Chỉ Một Lần Sống vẫn trơ trơ, như một đỉnh cao, như một vực thẳm, tưởng chừng không vượt qua được, không ai có thể lặn sâu chạm đáy cuộc đời. Phạm Xuân Tích đã phải tìm tòi, lục lạo, đi vào mọi cõi tâm linh, nghệ thuật - Kịch, Thơ, Văn, Âm nhạc, Hội Họa… Phạm Xuân Tích đã khơi động công trình tìm kiếm từ năm 1995 với những tác phẩm: Hoa Vàng Cũ, Nghĩ Về Ngày Mai Đất Nước, Mây Xanh, Lũy Thầy, Tâm Mộng, Đường Vào Xứ Mộng, Chân Trời Tan Hợp,… Anh đã thành công, nhận được khích lệ và ủng hộ của giới yêu văn học nghệ thuât thi ca. Anh đã từng nhận giải thưởng Prix Peinture De La Ville Du Bourget. Nhưng giải thưởng cũng chỉ là giải thưởng -Prix Peinture de la Ville Du Bourget không đưa anh đến được giải trình ý nghĩa của cuộc đời mà con người Chỉ Một Lần Sống….

Xuyên suốt tác phẩm Chỉ Một Lần Sống, xuất bản vào năm 2017, Phạm Xuân Tích vẫn quyết tâm giải trình cho bằng được đâu là chân lý của cuộc sống vì con người chỉ có được một lần sống. Các nhân vật trong truyện dài Chỉ Một Lần Sống: Hợp, Thuận, Tín, Thạch, chỉ là những hóa thân của Phạm Xuân Tich dưới những bộ mặt khác nhau, dưới những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử xã hội khác nhau.
Bản thân Phạm Xuân Tích đã đi qua nhiều giai đoạn, sống trong nhiều hoàn cảnh và nhiều điều kiện lịch sử. Phạm Xuân Tích sanh tại Sơn Tây, (nay thuộc Hà Nội) năm 1943. Thân phụ là Cựu Hiệu Trưởng Trung Học Chu Văn An Hà Nội (1952), và cũng là cựu Giám Đốc Nha Học Chánh Bắc phần (1953-54). Phạm Xuân Tích  theo cha mẹ di cư vào Nam, năm 1954.
 Đến năm 1964, cha mẹ anh qua định cư tại Pháp. Lúc đó anh đúng 21 tuổi, ở lại Viêt Nam một mình, theo học Đại Học Sư phạm Sài Gòn ( hệ 4 năm 1963-1967 ). Sau khi tốt nhiệp Sư phạm cùng lúc tốt nghiệp Cử nhân Phân khoa Văn tại Saigon, Phạm Xuân Tích đi dạy môn Văn tại các trường Trung học Công lập tại Long An, và một vài trường tư  tại Long An và Saigon.   
Năm 1972-1974, Phạm Xuân Tích chuyển sang nhận chức Công Cán Ủy Viên (Chargé de mission) bộ Văn Hóa Giáo Dục đặc trách về Diễn văn, Nghi lễ và Báo chí. Phạm Xuân Tích cũng đảm nhận Xử lý Thường Vụ  sở Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên  tại tỉnh Biên Hòa năm 1974-1975.
Sau ngày 30-4-1975 Phạm Xuân Tích đi tù cải tạo tập trung tại Long Khánh.
Bố Mẹ anh bảo lãnh anh sang Pháp năm 1980. Tại Paris anh làm chuyên viên hành chánh tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Pháp trong 3 năm. Sau đó anh được học bổng của Chính phủ Pháp học về Quản Trị Điện Toán.  Sau khi tốt nghiệp anh làm Quản Trị Viên tại một xí nghiệp tư của Pháp tại vùng Paris cho tới lúc anh về hưu năm 2009, anh đã 66 tuổi.
Trong thời gian gần 30 năm làm việc và sinh sống tại Paris, Phạm Xuân Tích tham gia  các sinh hoạt văn hóa, xã hội của cộng đồng Viêt Nam tỵ nạn tại Pháp. Trong thời gian này Pham Xuân Tích đã bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm Kịch nghệ, Thi ca, Âm nhạc, hội họa và tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài, đàm thoại… và đã cho ấn hành hơn 10 tác phẩm.
Cũng như những nhân vật trong Chỉ Một Lần Sống, mỗi tác phẩm đều mang nặng dấu ấn cuộc đời của Phạm Xuân Tích  trong một giai đoạn lich sử, điều kiện xã hội đặc thù nào đó.
 Hợp, nhân vật trong truyện dài Chỉ Một Lần Sống, là hóa thân của Phạm Xuân Tích, sau 30 năm sinh sống và hoạt động tại Paris, trong một môi trường xã hội cao. Những đề tài mà Hợp đề cập đến như Tâm Sinh Lý, hay những tư tưởng cổ điển xuất thế Lão Trang hay quan điểm Vạn Vật Nhất Thể của Phật, với những người bạn gái Mai, Kim và những người bạn trai như Tín, Thuận, Thạch đều nằm trong cố gắng giải trình ý nghĩa của cuộc sống hiện tại. Một câu hỏi lớn được nêu lên với mọi người ngay sau công trình nghiên cứu được thực hiện: “Nếu thật sự mình có thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông thì liệu điều này có cần thiết hay không? “ (CMLS. trang 150).
Trong khi đó nhân vật Thuận vừa nhận được “lệnh tha”. Thuận có nhiều kinh nghiệm ứng phó với điều kiện lịch sử đặc thù, với chính sách cải tạo tập trung của người cộng sản. Với Thuận, người cộng sản “sống như gỗ đá, như rong rêu trong một guồng máy vô cảm”. Người Việt quốc gia, người Việt cộng sản “là hai tầng lá của một thân cây cổ thụ, một dưới ánh mặt trời và một khuất nẻo nơi tối tăm, giống như nỗi đau đớn của một cơ thể đã bị phân hóa và tự đày đọa mình”. (CMLS. trang 63).
Nhân vật Tín, từ ngày đến ngụ cư tại Paris, anh thường hay rèn luyện tinh thần và thể xác trên đỉnh đồi Montmartre. Tín có tuổi thơ êm đẹp, Tín thường theo chân bà chị lớn đến dự lễ Chầu Mình Thánh mỗi chiều thứ Bảy nơi thánh đường Hàm Long-Hà Nội. Tín may mắn được cứu khỏi chết đuối. Tín nhớ mãi câu nói của người thanh niên đã cứu Tín khỏi chết đuối: “Anh đừng sợ, có tôi đây! Anh níu lấy vai tôi và bơi như thương lệ đi! Tới nơi rồi anh hãy bơi tiếp vào bờ đi… Và anh ta bỏ đi, tiếp tục nô rỡn với những người quen khác, thản nhiên coi như không hề có chuyện gì xẩy ra… ” (CMLS.trang 44). Trong cuộc sống có những kẻ làm việc lớn cứu cả mạng người nhưng họ không quan tâm vì họ coi đó chỉ là việc thường ngày. Tín cũng khỏi bị bắt giữ sau lần vượt biên thất bại nhờ bà chủ quán bảo anh “Chạy đi! Chạy đi!..Còn chờ gì nữa! Tiền gì? Chạy đi!...” (CMLS trang 52). Nhưng Tín không tin vào định mệnh, Tín tin vào “tình người”, chính nhờ vào “tình người” mà Tín được cứu thoát. Mọi sự chọn lựa chọn sẽ có giá trị chỉ khi nào nó được thực hiện dưới ý thức tự do. “Tình người” là sự lựa chọn với ý thức tự do, vượt lên trên tất cả chủ nghĩa, ngay cả chủ nghĩa cực đoan. Nhân vật Tín đã thay lời Phạm Xuân Tích đưa ra một giải trình Chỉ Một Lần Sống: “Dẫu sao, trong thiên nhiên, sự hài hòa của tất cả các sinh mệnh, dù hữu ý hay tình cờ, phải chăng đều gói trọn trong một qui ước chung, vô hình và hằng hữu, mà giới hạn của trí thức nhân sinh chưa thể đột phá được” (CMLS. trang 47).
Nhân vật Thạch, một chân dung khác của Pham Xuân Tích, có thể nói cuộc đời của nhân vật Thạch là một bản sao chép của một Phạm Xuân Tích ở ngoài đời. Thạch và Hợp trao đổi với nhau rất nhiều về phương cách điều trị tâm linh bằng cách sửa chữa quá khứ, kỹ thuật mới trong ngành Tâm Sinh Lý. Thạch đặt câu hỏi tại sao người ta lại không thể xâm nhập tiềm thức với những phương cách cũng chưa từng được kiểm nhận trong ngành khoa học thực nghiệm. Dĩ nhiên là Thạch rất hứng thú tham dự buổi họp do Hợp tổ chức để nghiên cứu phương thức mới đó, mặc dầu trong thâm tâm, Thạch vẫn tin là sau Khoa học vẫn là Thượng đế.  Cũng như Phạm Xuân Tích, Thạch là người đàn ông đã có tuổi. Thạch vừa trở lại California để tham dự lễ tốt nghiệp luật sư của cô con gái của Thạch. Thạch rất yêu thương và kiêu hãnh về cô con gái của mình. Thach nhớ lại, khi còn ở Saigon trước năm 1975, Thạch thường đưa cô con gái lúc đó chỉ có 4 tuổi đi đến quán cà phê ở đường Trương Minh Giảng (CMLS trang 105). Đó phải là một chỉ dấu có phần kỳ lạ! Cũng như Phạm Xuân Tích, Thạch không hề nhắc đến vị trí của người đàn bà trong cuộc đời tương đối là khá thành công của anh. Người vợ anh đâu? Sao anh dẫn con gái anh đi đến quán cà phê với anh khi con gái anh mới có 4 tuổi? Anh dửng dưng khi gặp lại tại Paris người bạn gái Huế năm nào. “Cả một bầu trời yêu thương cuồng nhiệt từ nhiều thập niên trước như chợt kéo về từ phương Đông của kinh thành Huế tràn ngập trong hơi thở của Paris. Một mối tình hằn sâu như vết dao trên da thịt, như lửa hồng rực cháy…” (CMLS trang 86) . Ấy vậy mà bây giờ gặp lại nhau sau bao nhiêu thập kỷ, những câu hỏi rời rạc loảng choảng: “Dung đấy ư? - Anh Thạch đấy hả“ nghe như lạc lối nghìn trùng khi tình yêu theo gió bay cao…” (CMLS. trang 85).
Hợp thì trái lại, khi gặp lại Mai, Hợp rất rung động như đứng trước “một không gian tỏa hương thơm ấm cúng, nồng nàn. Giọng nói thoáng nét tỵ âm của Mai như mang âm hưởng tiết tấu của nhạc cổ điển Tây phương, khác với ngũ cung trầm bổng của Đông phương. Trong bề sâu của tâm thức, Mai vẫn luôn luôn có chỗ đứng tuyệt hảo trong tình cảm của Hợp” (CMLS. trang 16)… Còn với Kim, Hợp luôn luôn có ký ức tuyệt vời về “giọng cười nhẹ êm đềm và lung linh của Kim… Nàng mỉm cười hé lộ hàm răng như ngọc chuốt giữa đôi môi hồng. Nếu ngày xưa mà Adam có cắn vào trái táo mà Eve đưa cho, có lẽ cũng một phần vì vậy chăng? ” (CMLS. trang 122).
Có lẽ cũng vì một phần nào thần tượng hóa giọng nói và đôi mắt sáng long lanh của bà Kim -một chuyên gia nghiệp dư về Tâm Sinh Lý Thực Nghiệm, dùng thôi miên xâm nhập não bộ của người cần được trị liệu để giải tỏa những nguyên nhân ẩn ức đã tạo nên những rối loạn trong tâm thức- Hợp đã tích cực hợp tác và tình nguyện làm thỏ bạch cho cuộc thí nghiệm của bà Kim. Nhưng điều quan trọng ở đây là Hợp muốn dùng thân xác và trí tuệ của chính mình trực tiếp trải nghiệm, giải trình cái tiêu đề Chỉ Một Lần Sống.
Ngay sau cuộc thí nghiệm Hợp thú thật với Kim cùng các bạn Tín, Thuận, Thạch: Vì khả năng trí tuệ của nhân loại có giới hạn nên bất cứ cuộc thí nghiệm nào, cũng như bất cứ cuộc nhân sinh nào ở bất cứ thời đại nào không ai có thể loại trừ những yếu tố bất ngờ xảy đến mà lại có tánh quyết định cho cuộc sống. Nhiều lúc chúng ta làm một việc gì đó vì thiện ý để giúp đỡ người khác mà mình vô tình tạo ra thảm họa cho họ (CMLS trang 143,144,145). Như một viên thuốc, sản phẩm trí tuệ của loài người, luôn có hai hiệu năng: Hiệu năng điều trị Therapeutic Effects và hiệu năng ngoài ý muốn- Side Effects. Khi một thầy thuốc kê toa cho bệnh nhân, không phải chỉ nghĩ đến hiệu năng đều trị của thuốc mà còn phải nghĩ và ngăn ngừa hiệu năng ngoài ý muốn của thuốc.
Trong thư Hợp gửi cho Kim, Thuần, Tín, Thạch, sau khi Hợp tự nguyện làm thỏ bạch cho cuộc thí nghiệm của bà Kim, Hợp nhìn nhận hiệu năng của phương pháp Tâm Sinh Lý phối hợp với hypnose khoa học, “đã giải tỏa những phiền muộn chất chứa từ bao tháng ngày, những ưu tư tiếc nuối, những ao ước hụt hẫng, những mộng ước nhiệt thành bị thui chột, tất cả kết cấu thành chuỗi muộn phiền miên viễn chợt ẩn chợt hiện trong tiềm thức khôn cùng… Nhưng tôi thưa ngay với các anh chị một cách thành thực rằng  tôi cảm thấy mình đã đi từ nuối tiếc này tới những trống vắng, hư không khác… Sự thay đổi theo như lòng mình muốn sẽ chỉ tạo ra những hệ quả khác nằm ngoài dự liệu ước mong…” (CMLS. trang 156) .
Thật sự, con người có thể tìm thấy hạnh phúc khi sống nhọc nhằn, với trái tim chịu đựng đau khổ vì lý tưởng của mình, còn hơn là sống với một tâm hồn “trống vắng, hư không” hầu như vô cảm dễ đưa con người đến hiểm họa vong thân, tha hóa. Giá trị nhân sinh được dựng lên từ những bản lĩnh: Bi, Trí, Dũng - Chịu đựng, Phấn đấu và lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm với nhân quần xã hội. Triết lý Phật dạy: Hạnh phúc chân chính là việc dấn thân vào cuộc sống hiện tại chứ không phải những ước mơ đẹp đẽ trong tương lai, hay kỷ niệm êm đềm trong quá khứ. Chính cách sống hài hòa trong hiện tại quyết định phẩm chất hạnh phúc của con người. 
Tham vọng giải trình chân lý của Chỉ Một Lần Sống của Phạm Xuân Tích cuối cùng đã đưa Phạm Xuân Tích đến cùng quan điểm như trong thư cuối cùng mà Hợp đã bộc bạch với Kim, Tín, Thuận và Thạch : ”Sự hài hòa của trời đất cuối cùng vẫn là lối đi chung. Dù cho có bị chặn dọc xoay ngang nhưng dòng nước chảy cuối cùng vẫn trôi xuôi như hằng hữu… Chỉ một lần sống cho mình, cho người  như cơn gió thoảng bay…. Như vậy phải chăng đã quá đủ rồi cho mọi sanh linh dưới ánh mặt trời?” (CMLS. trang 156-157).
Khi mà tư tưởng đạt đươc sự tận cùng ý nghĩa của cuộc sống, Phạm Xuân Tích trở nên khiêm cung như chàng thanh niên cứu Tín khỏi chết đuối, như bà chủ quán đã giúp Tín khỏi bị bắt giữ.  Dù cho biểu hiện tư tưởng của mình dưới bất cứ hình thức nào, Văn, Thơ, Kịch, Họa hay Âm nhạc, tư tưởng của Phạm Xuân Tích cũng chỉ là sự khiêm cung với chính mình, biết sống hài hòa với thiên nhiên và con người…
Đào Như
Chicago
May-14-2018

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét