Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2018

Ts. Nguyễn Hữu Phước: VIỆT THUẦN VÀ HÁN VIỆT TRONG CON SỐ VN


Một thương, hai nhớ, ba sầu
Cơm ăn chẳng đặng ăn trầu ngậm hơi.
Bảy với ba tính ra một chục
Tam tứ lục tính lại cửu chương.
Liệu bề đáp đặng thì thương. 
Đừng gầy rồi bỏ thói thường cười chê.
Mồng năm, mười bốn, hăm ba
Cử ba ngày ấy chẳng ra ngoài đường
Dân ta dùng con số trong tiếng Việt một cách tài tình. Chỉ chuyện các con số thôi, tiếng Việt đã nói lên khả năng kết hôn với tiếng nước ngoài. 
Qua mấy câu ca dao trên chúng ta đã nhận ra tính cách đa dạng của việc dùng những “chữ số”.  Tất cả những “chữ số” tiếng Việt thuần đều có những “chữ số” tương đương bên tiếng Hán Việt và những chữ kép HV.
Ngoài ra còn có nhiều chữ Hán Việt khác nhau để chỉ một con số.  Nhờ vậy mà cách dùng những chữ số trở thành đa dạng, phong phú, nhưng phức tạp hơn.


NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT VỀ  CÁC CHỮ  SỐ 
Chúng ta có những nhận định tổng quát sau đây về những “chữ số” trong ngôn ngữ Việt.  Ngoài tiếng Việt thuần, chúng ta dùng cả những tiếng ngoại quốc và coi như tiếng Việt (Việt hóa).
-    Tiếng Việt thuần: Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười.
-   Chữ sốtiếng Việt gốc Tàu (những tiếng phiên âm hay dịch âm): số dách = số một, cái gì tốt nhất, hay nhất; bài dà dách = bài 21; bài xập xám: (bài mười ba lá); xí ngầu lác = bốn năm sáu, tiếng Triều Châu, chỉ trò chơi hột xúc xắc sáu mặt có đốm từ “một đến sáu”.
-   Chữ sốtiếng Việt gốc Tây như cho vay xanh xít, đít đui (cinq six, dix douze = cho vay năm (phần) lấy lại sáu, cho vay mười lấy lại mười hai).
-   Chữ sốtiếng Việt gốc Anh như trong trò chơi oảnh tù tì (one two three) = còn gọi là trò chơi “báo chí tập” (tiếng Quảng Đông = dao kéo búa). VN gọi là trò chơi “thùng một, thùng hai, thùng ba”, (ra cái gì ra cái nầy).  Giỏi hạng nhất, hay tốt nhất, được gọi number one; dở nhất, hay xấu nhất gọi là number ten.
-   Khi đếm số từ một tới mười, chúng ta dùng tiếng Việt thuần.
-  Khi đếm thứ hạng, chỉ có hạng đầu dùng tiếng HV (hạng nhứt), hạng kế dùng tiếng Việt biến thể (hạng nhì biến thể từ chữ nhị), còn các hạng khác dùng tiếng Việt thuần.
-  Khi đếm những ngày đầu của tháng, chúng ta thêm chữ “mồng” vào trước con số: mồng một, mồng hai . . .mồng mười.  Ngày 15 âm lịch gọi là ngày “rằm”.
-   Sau số mười, tất cả số “năm” đọc thành “lăm”: mười lăm, hăm lăm, băm lăm, bốn lăm; một lối đọc ríu (hai hay ba tiếng nói nhanh dính lại thành một) của hai mươi lăm, ba mươi lăm, bốn mươi lăm.
-   Số 10 mang nhiều tên khác nhau (xin xem phần sau về con số 1, 2, và 10).
-   Việt Nam dùng nhiều chữ để chỉ số nhiều nhưng:       
a) Có một số chữ chỉ rõ ràng con số, mà trong ý nghĩa thì là chỉ số nhiều không rõ ràng: Ví dụ chờ “năm bảy tháng” hay chờ “ngàn năm” cũng cứ chờ; 
b) Và có một số chữ chỉ số nhiều không rõ ràng, nhưng lại cho chúng ta cái cảm tưởng “nhiều lắm”, mặc dù không biết là nhiều cỡ nào, thí dụ: em thương anh “bao nhiêu” thì anh cũng thương em “bấy nhiêu”, hoặc vì thương em nên “mấy núi anh cũng trèo”, hoặc đông “hằng hà sa số” = số cát sông Hằng (bên Ấn độ) = đông “vô số” v.v. 
Chúng ta có một số câu ca dao nói về những “số nhiều nhưng không rõ là bao nhiêu” nầy.  Những câu ca dao dưới đây tự chúng đã diễn tả rõ ràng một số tình cảm của người bình dân VN.
Ngó lên mây bạc chín từng,
Thấy bầy chim lạ nửa mừng nửa lo

 Cũng vì chút nghĩa linh đinh,
 Câu thề vẹn giữ, tử sinh không rời.

Thương nhau đừng sợ công phu,
Mấy trăng cũng đợi, mấy thu cũng chờ.

Qua đồng ghé nón thăm đồng,
Đồng bao nhiêu lúa thương chồng bấy nhiêu.  
Tiếp theo đây, chúng ta tìm hiểu vai trò quan trọng của những “chữ số” Hán Việt trong ngôn ngữ VN, liên hệ đến con số.

CHỮ SỐ HV TRONG CÁC CON SỐ 
Chữ số Hán Việt đóng vai trò “chi phối” trong những gì thuộc về con số. 
*   Mỗi chữ số Việt thuần (một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, và mười) đều có ít nhứt một chữ Hán Việt (HV) tương đương: nhứt, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu, và thập. Ngoài ra còn có vài chữ HV biến thể: tứ > tư; nhị > nhì.  
*   Chữ HV và con số một:  Có đến 10 chữ để chỉ con số 1 trong đó có 4 chữ HV: nhất, cô, độc, đơn và mỗi chữ lại có nhiều tiếng kèm; và 6 chữ Việt thuần: mỗi, chiếc, lẻ, từng, một, và mốt.   
*   Chữ HV và con số 2 : Có 9 chữ để chỉ con số 2 trong đó có ba chữ Hán Việt: nhị, lưỡng, và song và rất nhiều tiếng kép của ba chữ đó.  Chúng ta có một chữ Hán Việt biến thể của chữ “nhị” là nhì.  Sau hết chúng ta có năm chữ Việt thuần đồng nghĩa:  vài, cặp, đôi, kép và hai.    
*   Chữ HV và con số 10:  Có 7 chữ nói về con số 10 trong đó có 2 chữ Hán Việt: tuần (tuổi ngũ tuần = tuổi 50), và thập cùng tất cả những chữ đôi đi chung. Năm chữ Việt thuần: mười,  mươi, chục, chục có đầu (= một lố; con số có thay đổi tùy loại hàng, hoặc tùy nơi dùng như “chục mười hai”, “chục mười bốn” v.v.), và bó (tiếng mà người tuổi già hay dùng để nói về tuổi như “tôi đã trên 6 bó rồi”). 
*    Chữ HV và những chữ số từ ba đến chín: Mỗi chữ số Việt thuần đều kèm theo một chữ số HV và tất cả những tiếng kép đi chung với chữ số HV.    
*   Tất cả những “chữ số chỉ thứ tự” hay “chữ số thứ tự” bắt đầu bằng chữ “đệ” đều là tiếng Hán Việt: Đệ Nhị Thế Chiến (Thế giới chiến tranh lần thứ hai), Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ v.v. Trước kia Việt Nam (từ 1950-51) dùng đệ thất, đệ lục . . .> đệ nhứt  để chỉ lớp 6 đến lớp 12 bậc trung học. 
Thời gian trước hơn nữa, VN dùng “lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì và lớp Nhứt” để gọi tên năm lớp đầu của bậc giáo dục tiểu học. Nếu nhìn vào khía cạnh nguyên ngữ, chúng ta thấy thật lộn xộn, không theo qui tắc nào hết: Chữ số “năm” và “ba” là tiếng Việt thuần; “tư ” và “nhì” là HV biến thể, và “nhứt” là tiếng Hán Việt.  Có lẽ các “chữ số” HV biến thể hay HV nầy đã dùng lâu quá rồi, nên đã được “Việt hóa” hoàn toàn vào khoảng thập niên 1940-50, thời điểm của việc đặt tên cho hệ thống các lớp tiểu học ở Việt Nam.   
*   Phần lớn những con số dùng trong các truyện dịch điển tích, triết học, tôn giáo đều dùng “chữ số” Hán Việt
Nhứt hô bá ứng (một tiếng gọi trăm tiếng dạ = uy quyền của nhà quan hay nhà giàu); nhị thiên đường (= tên một nhà thuốc Bắc ở Sài Gòn hàm ý nhà thuốc của ông Trời thứ nhì, và cũng là tên một loại dầu do nhà thuốc nầy chế tạo); Tam tông miếu (= tên một ngôi chùa ở Sài Gòn;  Tứ đổ tường (= bốn việc hại giữa bốn bức tường: rượu, gái đẹp, bài bạc, và hút thuốc phiện); Ngũ vị hương = loại bột trộn của ít nhứt 5 hương liệu. Thành phần ngũ vị hương và sự hỗn hợp của bột ngũ vị hương giữa các nhà sản xuất thường khác nhau, (năm hương liệu thường dùng là sơn tiêu, nhục quế, đại hồi, tiểu hồi, và đinh hương); Lục bộ thượng thư = bộ trưởng sáu bộ, ngày xưa tổ chức hành chánh ở triều đình có 6 bộ (department), đứng đầu mỗi bộ là một vị thượng thư;  Thất tinh hệ (thái dương hệ gồm có bảy hành tinh, đây là sự hiểu biết khá xưa về thái dương hệ); Bát chánh đạo (tám pháp tu trong Phật giáo); Cửu trùng đài (= đài chín tầng, chỉ chỗ ở của vua); Thập kỷ niên (= xập kỷ nình, tiếng Quảng đông = hàng chục năm), chỉ đồ vật đã quá cũ kỹ.
(CÒN TIẾP)
  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét